Cuộc chiến công lý và đạo lý cho nạn nhân chất độc da cam/ đi-ô-xin Việt Nam

Trong lịch sử nhân loại, chưa từng có cuộc chiến tranh hóa học nào có thể so sánh về quy mô và thời gian với cuộc chiến tranh hóa học mà Mỹ đã thực hiện ở Việt Nam. Cuộc chiến Việt Nam (theo cách nói của người Mỹ, Vietnam war), đã để lại một “thảm họa da cam/đi-ô-xin”, chỉ có thể so sánh với thảm họa hạt nhân mà Mỹ đã tiến hành với việc thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hirosima và Nagasaki, Nhật Bản năm 1945, thậm chí còn rất nghiệt ngã vì những di họa lâu dài cho nhiều thế hệ con người ở Việt Nam. 
 
Ngày 10-8-1961, máy bay của không lực Hoa Kỳ bắt đầu rải chất độc xuống khu vực phía Bắc thị xã Kon Tum, mở màn cho chiến dịch gieo rắc chất độc da cam/đi-ô-xin trong cuộc chiến Việt Nam. Theo các tài liệu khác nhau, với các chiến dịch Ranch Hand và Pacer Ivy, trong 10 năm (1961-1971), quân đội Mỹ đã rải xuống miền Nam Việt Nam khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học (tổng lượng đi-ô-xin là 366 kg), trong đó 64% là chất độc màu da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6% chất màu tím. Theo các nhà khoa học, do công nghệ sản xuất 2,4,5 T (là chất có khả năng sinh ra tạp chất 2,3,7,8 Tetra chloro dibenzo-p-Đi-ô-xin, thường gọi tắt là Đi-ô-xin) trong những năm 60 còn lạc hậu, mặt khác để tăng sản lượng chất diệt cỏ, một số công ty hóa chất Mỹ đã nâng nhiệt độ của công nghệ sản xuất, nên lượng đi-ô-xin có thể lên tới 600 – 680kg.
Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và khẳng định: chất độc màu da cam có chứa đi-ô-xin là chất độc nhất, nguy hiểm nhất trong các hóa chất do con người tìm ra và tạo ra, rất bền vững, khó phân hủy. Vì chúng tồn tại rất lâu trong môi trường, lưu tồn sau nhiều lần sử dụng, nên sẽ làm cho đất và nước bị ô nhiễm nặng, cây rừng bị  huỷ diệt biến thành “vùng đất chết”. Năm 1997, Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) thuộc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố đi-ô-xin là một độc chất gây suy giảm miễn dịch, làm rối loạn nội tiết và khả năng thích nghi của con người, là tác nhân gây ung thư. Chỉ cần một phần tỉ gram chất đi-ô-xin đã có thể gây ung thư, tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh và một số bệnh khác cho con người. Đi-ô-xin còn tác động vào gien, gây di truyền qua nhiều thế hệ (chắc chắn đến thế hệ thứ 5). Trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học quốc tế một lần nữa khẳng định, nếu một người phơi nhiễm đi-ô-xin dù lượng nhỏ nhất thì cũng mang trong mình hiểm họa ung thư. Ngoài ung thư, đi-ô-xin còn có thể liên quan đến một số  bệnh nguy hiểm khác như: bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai, thiểu năng trí tuệ, đẻ trứng (ở nữ)…

Trong cuộc chiến tranh hóa học, quân đội Mỹ đã thực hiện 19.905 phi vụ để phun rải hóa chất xuống miền Nam Việt Nam. Tính trung bình, mỗi ngày có đến 11 phi vụ. Lượng chất độc da cam/đi-ô-xin bao phủ 2.631.297 ha (trong đó có 86% diện tích bị phun rải hơn 2 lần; 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần); 25.585 thôn ấp, trong đó có 3.181 thôn ấp bị phun rải trực tiếp. Do tác động của gió, mưa, lũ, nên diện tích đất, rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chất độc da cam/đi-ô-xin chắc chắn rộng hơn diện tích bị rải. Chất độc da cam/đi-ô-xin gây hậu quả nặng nề và ảnh hưởng lâu dài đến nhiều thế hệ người và môi trường sinh thái ở Việt Nam.

Đối với môi trường sinh thái,
chất độc da cam/đi-ô-xin đã tàn phá hàng triệu ha rừng với nhiều mức độ khác nhau, làm cho hệ sinh thái rừng bị thay đổi, đã tác động mạnh lên 28 lưu vực sông ở miền Trung Việt Nam, là những tác nhân chủ yếu gây nên tình trạng bão lũ ngày càng nặng nề ở khu vực miền Trung.
Đối với con người,
theo thống kê, có hơn 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin, trong đó có khoảng 3 triệu người bị nhiễm độc. Hàng trăm ngàn người đã chết trong đau đớn, mà phần lớn là những cựu chiến binh. Hơn 5 vạn trẻ em sinh ra bị dị dạng, dị tật bẩm sinh, sống đời sống thực vật. Nhiều phụ nữ không được hưởng hạnh phúc làm vợ, làm mẹ. Nhiều người khác đang từng ngày từng giờ quằn quại, vật vã vì những căn bệnh hiểm nghèo, nan y liên quan đến chất độc da cam/đi-ô-xin. Đau xót hơn, chất độc da cam/đi-ô-xin đã hủy diệt nhiều gia đình, nhiều gia tộc; có đến 85% số hộ có hai nạn nhân (bố, mẹ và con cháu), 3% số hộ có 5 nạn nhân, có bà mẹ 15 lần sinh đẻ thì chết 12 người sau sinh. Đặc biệt, sự tổn hại về mặt tinh thần không thể  thống kê hết được. Đó là sự lo lắng, bất an, là nỗi đau âm ỉ của nhiều gia đình có người bị nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin. Sự thật là, hoàn cảnh các gia đình nạn nhân chất độc da cam rất thương tâm, phần lớn thuộc diện đói nghèo, cùng cực nhất, không có sức lao động, chủ yếu sống nhờ vào trợ cấp của xã hội. Những nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin là những người nghèo nhất trong những người nghèo, những người đau khổ nhất trong những người đau khổ.
Sự thật đã được phơi bày, không thể bác bỏ. Thế nhưng, khi Hội nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam (VAVA) và một số nguyên đơn kiện 37 công ty hóa chất Mỹ đã sản xuất và cung cấp chất độc hóa học cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, thì Bộ Tư pháp Mỹ đã yêu cầu tòa án bác bỏ đơn kiện. Họ viện dẫn điều luật “Quyền miễn trừ” của hiến pháp Mỹ để không quy trách nhiệm về những hậu quả mà các nhà thầu (các công ty hóa chất Mỹ) có ký kết với chính phủ trong chiến tranh. Vì thế, Tòa án Mỹ đã cố tình bác đơn kiện của các nạn nhân da cam Việt Nam ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm và tối cao. Đến nay, chính phủ và các công ty sản xuất hóa chất của Mỹ vẫn quyết không thừa nhận trách nhiệm pháp lý đối với hậu quả chất độc da cam/đi-ô-xin tại Việt Nam. Họ biện bạch rằng: “Chất độc da cam, cũng như các chất xanh lá cây, tím, hồng, xanh da trời và trắng không phải là chất độc”; rằng “không có bằng chứng khoa học tác hại của chất độc da cam/đi-ô-xin với sức khỏe con người”. Thực chất đó là sự phủi bỏ trách nhiệm về những hậu quả chất độc da cam/đi-ô-xin ở Việt Nam.

Về “bằng chứng”, ngoài những sự thật đã nêu ở trên, xin dẫn ra một số bằng chứng khác để những người có lương tri trên thế giới, trong đó có nhân dân nước Mỹ thấy rõ hơn và phán xét.

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu và khẳng định tác hại của chất độc da cam/đi-ô-xin gây ra ung thư đối với con người. Nhà toán học lừng danh Bertrand Russell cũng tố cáo quân đội Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam, qua việc sử dụng hóa chất có khả năng gây ra ung thư cho con người. Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ(EPA) phân loại đi-ô-xin là độc chất hại nhất trong các hóa chất, khuyến nghị Chính phủ Mỹ không được sử dụng vào cuộc chiến Việt Nam.
Ngày 22-2-1965, công ty hóa chất hàng đầu nước Mỹ là Dow Chemical đã họp bàn và ra bản ghi nhớ nội bộ xác lập một lập trường chung về tác hại của đi-ô-xin trong chất 2,4,5 -T. Tháng 3-1965, ban lãnh đạo của Dow Chemical triệu tập các công ty hóa chất khác của Mỹ gồm: Monsanto, Hooker Chemical, Diamond Alkali và Hercules Powders Co, với mục đích chính là bàn về độc tính cao của các loại chất khai quang sử dụng vào cuộc chiến Việt Nam. Tiến sĩ James R.Clary thuộc cơ quan nghiên cứu vũ khí hóa học trực thuộc Airforce Armament Development Laboratory (Florida) đã công bố một sự thật: “Khi chúng tôi khởi đầu chương trình sử dụng thuốc diệt cỏ vào những năm 1960, chúng tôi đã ý thức được tiềm năng độc hại của đi-ô-xin trong thuốc diệt cỏ. Tuy nhiên, vì hóa chất sẽ được dùng đối với kẻ thù nên không ai trong chúng tôi quá quan tâm”.

Như vậy,
trước và sau khi phun rải chất độc da cam/đi-ô-xin xuống các cánh rừng, làng mạc ở miền Nam Việt Nam, giới quân sự và Chính phủ Mỹ đã biết được đi-ô-xin là chất rất độc hại. Nhưng vì lúc đó họ coi người Việt là kẻ thù nên không đếm xỉa gì đến mạng sống cũng như môi trường sinh thái ở Việt Nam.
Nhiều thập kỷ qua, các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành công trình nghiên cứu với 13.000 cựu binh Mỹ ở California và kết luận, các binh lính Mỹ tiếp cận với loại chất độc da cam/đi-ô-xin trong chiến tranh ở Việt Nam có nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến cao gấp 2 lần. Thượng viện Mỹ cũng xác nhận các cựu binh tham gia chiến tranh Việt Nam và thân nhân của họ mắc nhiều căn bệnh hiểm nghèo do phơi nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin. Câu chuyện về gia đình Đô đốc hải quân Mỹ Elmo Zumwalt là một điển hình. Trong thời gian tham chiến ở Việt Nam, Elmo Zumwalt là sĩ quan cấp úy và là một trong những người ra lệnh phun rải chất độc da cam/đi-ô-xin. Sau cuộc chiến, Elmo Zumwalt luôn phải sống trong đau khổ, dằn vặt về những gì mình đã gây ra cho nhân dân Việt Nam. Và trớ trêu thay, hệ lụy của chất độc da cam/đi-ô-xin do ông bị phơi nhiễm đã làm cho chính con trai mình là Elmo Zumwalt III mắc phải bệnh ung thư quái ác và mất năm 1988. Tiếp đến cháu nội ông là Elmo Zamwalt IV cũng bị ung thư và dị dạng não. Dòng họ Zumwalt danh giá ở nước Mỹ đã bị tàn lụi dần vì chính chất độc da cam/đi-ô-xin do quân đội Mỹ rải ở Việt Nam. Hậu quả chất độc da cam/đi-ô-xin còn tác động khủng khiếp đến các cựu binh những nước đồng minh của Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam trước đây, cùng thân nhân của họ như: Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân… Trước làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luận, chính phủ và các công ty hóa chất Mỹ đã phải bỏ ra hàng tỉ đô la Mỹ để chữa bệnh và đền bù cho các cựu binh và thân nhân của họ bị các căn bệnh liên quan đến chất độc da cam/đi-ô-xin. Vậy,
các cựu binh Mỹ và thân nhân của họ bị ảnh hưởng thì đương nhiên những người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin càng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều. Đó là bằng chứng, sự thật không thể chối bỏ.
Vào thời điểm quân đội Mỹ sử dụng chất diệt cỏ chứa chất độc da cam/đi-ô-xin trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã ký kết Nghị định Geneva năm 1925 về việc đặt ngoài vòng pháp luật đối với sử dụng bất cứ chất lỏng, vật liệu, hay công cụ nào chứa độc chất trong chiến tranh. Năm 1969, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đã ra nghị quyết khẳng định Nghị định Geneva năm 1925 áp dụng cho tất cả các loại vũ khí, kể cả vũ khí hóa học và độc chất màu da cam. Vì thế, quân đội Mỹ thực hiện nhiều chiến dịch phun rải chất độc da cam/đi-ô-xin trong chiến tranh Việt Nam là phi pháp, vi phạm nghiêm trọng công pháp quốc tế.

Có lẽ nhận thức được sự thật đó, năm 1975 Tổng thống Gerald Ford đã ký sắc lệnh số 11850, nêu rõ Mỹ sẽ không là quốc gia đầu tiên dùng thuốc diệt cỏ trong chiến tranh. Năm 2006, Tổng thống Mỹ G. W.Bush khi tới thăm Việt Nam cũng thừa nhận ảnh hưởng của chất độc da cam/đi-ô-xin và hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam tẩy rửa môi trường nhiễm độc chất này. Trong thư gửi Tổng thống Mỹ Barak Obama, Ông Len Aldis (Tổng thư ký Hội Hữu nghị Anh – Việt) nêu rõ: “Ngài Tổng thống, Ngài sinh ra vào ngày 4-8-1961, vào chính tháng mà lực lượng không quân Mỹ bắt đầu rải chất độc da cam/đi-ô-xin xuống miền Nam Việt Nam và tiếp tục làm việc đó thêm 10 năm nữa. Hậu quả của những cánh rừng bị hủy hoại bởi chất độc da cam/đi-ô-xin này đến nay vẫn có thể nhìn thấy. Với con người, những thương tật nghiêm trọng là chứng tích của chất độc này. Bất chấp phán quyết này, Ngài có quyền đưa ra chính sách để cung cấp các đền bù tài chính cho các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin và gia đình họ…”.

Trong hai ngày 15 và 16-5-2009, tại thủ đô Pa-ri (Pháp), Hội Luật gia Dân chủ quốc tế (IADL) đã tổ chức “Tòa án lương tâm nhân dân quốc tế ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam”.  Ngày 4-6-2009, tại Tiểu ban châu Á – Thái Bình Dương và Môi trường toàn cầu thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ diễn ra phiên điều trần lần thứ 2 với chủ đề:
“Hoàn thành nghĩa vụ của mình, chúng ta cần làm gì để đề cập đến ảnh hưởng của chất độc da cam tại Việt Nam?”. Các nhà khoa học, nghị sĩ, luật gia và luật sư Mỹ phát biểu và khẳng định: chất độc da cam/đi-ô-xin do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe cho binh sĩ Mỹ, các binh sĩ nước đồng minh của Mỹ, cho người dân Việt Nam và môi trường sinh thái ở Việt Nam; đồng thời, kiến nghị với Chính phủ Mỹ phải bồi thường cho các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin.
Một số  bằng chứng được dẫn ra trên đây cho thấy, điều luật “Quyền miễn trừ” mà Tòa án Mỹ viện dẫn để bác bỏ đơn kiện của Hội nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam (VAVA) và một số nguyên đơn là rất lỗi thời, không đem đến công lý một cách đích thực. Sự phủi bỏ trách nhiệm là một hành động phi nhân quyền, trái ngược với lời bất hủ ghi trong
Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
50 năm sau thảm họa da cam ở Việt Nam, tuy Chính phủ Mỹ đã từng bước tham gia khắc phục hậu quả chất độc da cam/đi-ô-xin ở Việt Nam, song đến nay về mặt pháp lý họ vẫn chưa thừa nhận trách nhiệm gây ra hậu quả đó. Sự thật đã lên tiếng. Công lý phải được tôn trọng. Những người có lương tri trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đã và đang tiếp tục sát cánh cùng nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh để đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam. Mỗi chúng ta hãy đến với các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin. Đến với họ để xẻ chia nỗi đau khổ tột cùng của con người.
Họ là những người nghèo nhất trong những người nghèo, những người đau khổ nhất trong những người đau khổ. Cho dù còn phải trải qua nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng nhất định cuối cùng công lý và đạo lý cho các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam sẽ chiến thắng./.

TCCS
In bài này    Gửi bài này
Advertisements
Categories: Uncategorized | %(count) bình luận

Điều hướng bài viết

One thought on “Cuộc chiến công lý và đạo lý cho nạn nhân chất độc da cam/ đi-ô-xin Việt Nam

  1. Thái An

    Bài viết của bác rất thuyết phục.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: