Dân chủ “không vùng cấm” và sự sụp đổ của một đế chế


Bắt  đầu từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở  Đông Âu đi vào thời kì khủng hoảng. Từ tháng 4/1989 đến tháng 9/1991, chế độ xã  hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên “cơn chấn động”  chính trị lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Vấn  đề đặt ra là vì sao chế độ xã hội chủ nghĩa lại bị thất bại ở Liên Xô và Đông  Âu? Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình  nghiên cứu về hiện tượng lịch sử này, đưa ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực  tiếp, cả bên trong và bên ngoài để cắt nghĩa, lí giải về sự khủng hoảng và sụp  đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu… Bước vào thập niên 70 của thế kỉ XX, tình  hình thế giới có nhiều biến động, báo hiệu cuộc khủng hoảng chung mang tính toàn  cầu (không trừ một quốc gia nào).  Mở đầu là cuộc khủng hoảng nghiêm  trọng về năng lượng dầu mỏ năm 1973, chứng tỏ sự khan hiếm và thiếu hụt của  nguồn năng lượng dầu mỏ, dẫn tới giá cả tăng cao, kéo theo là hàng loạt các cuộc  khủng hoảng khác về kinh tế, tài chính và chính trị, đặt ra cho toàn nhân loại  những vấn đề bức thiết phải giải quyết (sự bùng nổ dân số, hiểm họa môi trường,  tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt; sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát  triển theo xu thế quốc tế hóa…) để thích nghi về kinh tế, chính trị và xã  hội.  Những biến động này đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành những cải  cách điều chỉnh về cơ cấu kinh tế, chính trị – xã hội cho phù hợp với tình hình  mới. Đây là sự thách thức và cũng là một cơ hội để vươn lên của mỗi quốc  gia, nhưng những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô và Đông Âu lại không nhận  thức đầy đủ những thách thức đó, chủ quan cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ  nghĩa không chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới nên chậm  thích ứng, chậm sửa đổi và đã bỏ lỡ cơ hội này. Trước hết, là do quan niệm giản  đơn, phiến diện quy luật về mối quan hệ giữa sản xuất và lực lượng sản xuất; cho  rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến  trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém và lạc hậu, và cho rằng, quan  hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.  Liên Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ. Các nhà  lãnh đạo Đông Âu thì cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt và bản thân họ chẳng  có gì sai mà sửa chữa. Song khi thay đổi lại xa rời nguyên lí Mác –  Lênin.  Sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973, các nước tư  bản chủ nghĩa đã ngồi họp lại với nhau và nhận thấy một điều rằng: sự phát triển  của họ không còn phù hợp, cần phải tự điều chỉnh và thích nghi hơn với tình hình  mới. Vì thế, họ đã nhanh chóng tiến hành nhiều cải cách, điều chỉnh cơ cấu kinh  tế, chính trị, xã hội, hình thức quản lí, đi sâu vào khoa học – kĩ thuật, đổi  mới công nghệ, nên đã vượt qua được khủng hoảng và tiếp tục đi lên.
Thế  giới đang chứng kiến những đổi thay kì diệu do cuộc cách mạng khoa học – công  nghệ mang lại. Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật thế giới hay còn gọi là cách  mạng công nghệ bước sang giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu, đã đạt được  những thành tựu kì diệu, có vị trí và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát  triển của lịch sử nhân loại: Một là, làm thay đổi các nhân tố sản xuất, thúc đẩy  sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và tăng năng suất lao động, mở rộng lĩnh  vực hoạt động của con người, sáng tạo công cụ và kĩ thuật sản xuất mới, cải tiến  việc sản xuất và quản lí lao động, nâng cao không ngừng mức sống và chất lượng  cuộc sống của con người. Từ đó dẫn đến những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất  lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về giáo dục và đào tạo nghề nghiệp; hai  là, loài người chuyển sang một nền văn minh mới với nhiều tên gọi; ba là, kinh  tế thế giới được quốc tế hóa cao độ, xu thế toàn cầu hóa – khu vực hóa đang từng  bước phát triển – thế giới như thu nhỏ lại, mọi sự liên lạc, gặp gỡ có thể diễn  ra hết sức nhanh chóng; bốn là, những mặt trái của khoa học – kĩ thuật mà con  người chưa thể khắc phục được như tình trạng ô nhiễm môi trường trên Trái đất  cũng như trong vũ trụ, những tai nạn lao động và giao thông, các loại dịch bệnh  mới… và nhất là việc chế tạo những loại vũ khí hiện đại có sức công phá và hủy  diệt nhiều lần sự sống trên hành tinh.
Trong tình hình mới, mô hình và  cơ chế kinh tế cũ của chủ nghĩa xã hội vốn đã tồn tại nhiều khuyết tật (phát  triển kinh tế theo chiều rộng với hiệu quả thấp và thiếu sức sống, phủ nhận quy  luật khách quan về kinh tế), đã cản trở sự phát triển mọi mặt của xã hội. Sau  khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực  hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ. Thời gian đầu, kế hoạch hóa  tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập  trung quan liêu, bao cấp. Sau chiến tranh thế giới lần 2, Liên Xô vẫn tiếp tục  duy trì mô hình này. Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa, từ bỏ hay gần như từ bỏ  một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện  bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác là các nhà lãnh đạo của Liên Xô và Đông Âu đã  đánh giá quá cao chủ nghĩa xã hội hiện thực và đánh giá quá thấp chủ nghĩa tư  bản, chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch  định các bước đi của tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (như quan điểm của  Liên Xô về “chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thắng lợi”, “xây dựng xã hội cộng sản  chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội  phát triển”…), không thấy hết tính chất lâu  dài, quanh co, phức tạp của thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã  hội. Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài trên cản trở sự cải tổ, cải  cách, đổi mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm chế độ xã hội chủ nghĩa suy  yếu, rơi vào khủng hoảng. Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của  chế độ xã hội chủ nghĩa, mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.
Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng năng lực cầm quyền của  một chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền chưa thực hiện đầy đủ,  khiến Đảng không phát huy được vai trò của người lãnh đạo, người tổ chức nhân  dân; vừa không phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội…, dẫn đến tình  trạng quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn.  Sự bất  mãn trong nhân dân ngày càng tăng trước những hiện tượng thiếu dân chủ, chưa  công bằng, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, tệ quan liêu, độc đoán trong bộ  máy Nhà nước làm cho đất nước lâm vào tình trạng trì trệ rồi khủng hoảng toàn  diện.  Trong những năm 1989 – 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ  ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi  bật là:
• Tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác  – Lênin và chủ nghĩa xã hội. •  Thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng. • Xây dựng Nhà nước pháp  quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường. • Các chính đảng vô sản  đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái. • Tên nước, Quốc kì, Quốc  huy và ngày Quốc khánh thay đổi, theo hướng chung gọi là các nước cộng  hòa.
  Sự sụp đổ  của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do  nhiều nguyên nhân.
– Nguyên nhân sâu xa nằm trong mô hình xây dựng chủ  nghĩa xã hội theo kiểu cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị  trường, kế hoạch hóa cao độ. Mô hình đó đã có những phù hợp nhất định trong thời  kì đặc biệt trước đây, nhưng không còn phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa,  không sáng tạo và không năng động, ngày càng bộc lộ sự thiếu tôn trọng các quy  luật phát triển khách quan về kinh tế – xã hội, chủ quan, duy ý chí, làm nảy  sinh tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế xã  hội chủ nghĩa.
Xét về mặt kinh tế, khiếm khuyết và hạn chế của mô hình  cũ là đã không chú trọng đầy đủ tới đặc điểm kinh tế hàng hóa và quy luật giá  trị, tới cơ cấu đa dạng của sản phẩm hàng hóa có chất lượng và giá trị cao để  cạnh tranh. Do quan điểm giản đơn về tính thuần nhất của sở hữu xã hội chủ nghĩa  nên các hình thức sở hữu ngoài quốc doanh và tập thể không được chú trọng, tiềm  năng và năng lực kinh tế cá thể, tư nhân không được khai thác. Chủ nghĩa tư bản  nhà nước như một hình thức phát triển kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa  xã hội được Lênin nêu ra trong Chính sách kinh tế mới (NEP) đã không được vận  dụng. Kinh tế hiện vật và kinh tế chỉ huy đã chi phối mọi hoạt động sản xuất  kinh doanh, dẫn đến sự cứng nhắc trong quản lí, trong cơ chế và chính sách. Năng  suất, chất lượng, hiệu quả tuy vẫn được thường xuyên nhắc tới nhưng lại không  dựa trên cơ sở lợi ích trực tiếp của người lao động nên không khuyến khích được  sự nhiệt tình, chủ động, sáng tạo của người lao động. Tài sản, nguyên vật liệu  và các nguồn lực, kể cả con người bị lãng phí rất lớn. Kĩ thuật công nghệ chậm  đổi mới, bị lạc hậu. Xét về mặt chính trị, hạn chế của mô hình này biểu hiện  ở chỗ hệ thống tổ chức và bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, dễ dẫn tới tình  trạng quan liêu hóa, xa rời thực tiễn, xa dân, kém hiệu quả, không phân biệt rõ  ràng, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động giữa Đảng và Nhà nước cũng  như các tổ chức khác trong hệ thống tổ chức chính trị, dẫn tới sự chồng chéo dẫm  chân lên nhau. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm. Quyền làm chủ của người  lao động, sự tham gia của quần chúng vào hoạt động quản lí Nhà nước và đời sống  chính trị – xã hội nói chung còn bị hạn chế và ít tác dụng do tính chất dân chủ  hình thức, quan liêu, tham nhũng gây nên.
Xét về mặt văn hóa – xã hội và  đời sống tinh thần, những khiếm khuyết của mô hình cũ biểu hiện ở sự vi phạm  quyền tự do dân chủ của công dân, sự thiếu nghiêm minh trong việc thực thi pháp  luật, thiếu dân chủ và công bằng xã hội. Tính hình thức và bệnh giáo điều đã làm  cho công tác giáo dục hệ tư tưởng và ý thức xã hội xa rời thực tế cuộc sống. Lí  luận tách rời thực tiễn.
Các lĩnh vực văn hóa tinh thần rơi vào sự đơn  điệu, nghèo nàn. Sự giao lưu văn hóa quốc tế không được khuyến khích.
–  Những thiếu sót, khuyết tật lâu ngày chậm được khắc phục, sửa chữa càng làm cho  các nước xã hội chủ nghĩa xa rời những tiến bộ, văn minh của thế giới, nhất là  sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, đưa tới  tình trạng trượt dài từ trì trệ đến khủng hoảng nặng nề về kinh tế – xã hội. Sự  thực, không phải các nhà lãnh đạo nhiều nước chủ nghĩa xã hội trước đây không  nhận thấy những trì trệ đó, nhưng mọi cố gắng cải cách đều không thu được kết  quả trong khuôn khổ cơ chế mô hình cũ.
– Sau này khi tiến hành cải tổ,  cải cách, những người lãnh đạo ở Liên Xô và Đông Âu lại liên tiếp phạm thêm  nhiều sai lầm nghiêm trọng về bước đi, nội dung, phương pháp, trong đó  điều chủ  yếu là buông lỏng chuyên chính vô sản, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng  sản, xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, hiện thực dân chủ hóa, công khai hóa cao độ,  mơ hồ về chính trị, giai cấp; bị các thế lực phản động, đễ quốc lợi dụng tiến  công chủ nghĩa xã hội. Cải tổ là tất yếu, khách quan xuất phát từ bản chất của  chủ nghĩa xã hội, là nhu cầu chin muồi của các nhân tố chủ quan, khách quan. Vấn  đề là phải cải tổ như thế nào. Cuộc cải tổ của Goócbachốp được các nước phương  Tây ngàn lần cổ vũ, hậu thuẫn… Cải tổ kiểu như thế mà chế độ xã hội chủ nghĩa  không sụp đổ mới là điều đáng ngạc nhiên (Nguyễn Đức Bình – Đôi điều suy nghĩ về  vận mệnh chủ nghĩa xã hội. Tạp chí Cộng sản, số 13, 7/2003, tr.10).
Như  vậy, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu đã mắc sai lầm rất  nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là đường lối hữu  khuynh, cơ hội và xét lại, thể hiện trước hết ở những người lãnh đạo cao nhất.  Những tuyên bố ban đầu: “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hội  hơn”, “chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài  nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội chứ không phải ở ngoài  giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra”…, rốt  cuộc chỉ là những tuyên bố suông ngụy trang cho ý đồ phản bội.
Có thể  thấy sai lầm của cải tổ biểu hiện chủ yếu ở  những điểm sau:
Thứ nhất, sự  dao động về tư tưởng, lập trường chính trị dẫn tới mất phương hướng chính trị và  từ bỏ nguyên tắc ở những thời điểm bước ngoặt, chấp nhận đa nguyên hệ tư tưởng  và đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận tập trung dân chủ là nguyên  tắc cốt tử của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, làm cho Đảng không  còn là một tổ chức chính trị cầm quyền mà trở thành một câu lạc bộ bàn suông.  Nhà nước không còn quyền lực điều hành và không kiểm soát nổi tình hình đất  nước.
Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí  ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ từng  hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác –  Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng  sản.
Thứ hai, không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải cách kinh  tế và cải cách chính trị. Khi cải cách kinh tế tiến triển thì không kịp thời  tiến hành cải cách chính trị. Đến khi cải cách kinh tế gặp khó khăn thì lại  chuyển trọng tâm sang cải cách chính trị.
Thứ ba, phiêu lưu mạo hiểm  trong chính sách, bước đi và biện pháp cải tổ. Đó là tăng tốc kinh tế – kĩ thuật  thời kì đầu, cấm bia rượu… là những tính toán chủ quan duy ý chí gây rối loạn  kinh tế, mất ổn định xã hội. Cải tổ chính trị không dựa trên thực trạng kinh tế,  tiến hành “dân chủ công khai” một cách mơ hồ, mở đường cho các thế lực phản động  tấn công vào Đảng, vào chủ nghĩa xã hội, thao túng xã hội, kích động, mị dân,  lừa bịp quần chúng.
Bằng phát súng lệnh “công khai”, “dân chủ”, “không  vùng cấm”, cải tổ đã nhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích, bôi đen  tất cả những gì gắn với lịch sử hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ định  sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội. Nó gây hoang mang, xáo động đến  cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá  trị của chủ nghĩa xã hội. Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại  chúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủ định quá khứ được  các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích của  phương Tây.
Thứ tư, không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình hình  ngày một xấu đi nghiêm trọng về đời sống vật chất, tinh thần tối thiểu của quần  chúng, gây nên sự thờ ơ về chính trị, thậm chí chống lại công cuộc cải tổ. Mất  cơ sở xã hội và bị phân liệt về tổ chức nên Đảng đã mất sức chiến đấu và mất vai  trò lãnh đạo.
Thứ năm, các quan điểm mơ hồ, hữu khuynh, xét lại xung  quanh vấn đế “tư duy chính trị mới”, phủ nhận đấu tranh giai cấp và cách mạng,  tuyệt đối hóa lợi ích toàn cầu nhân loại, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản, tạo  mảnh đất thuận lợi cho âm mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế  quốc.
Chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng  trợn, thực hiện được “diễn biến hòa bình”  trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông  Âu. Các chiến lược gia phương Tây sớm nhận ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là  đường lối xét lại, là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng  vô nguyên tắc với Mĩ và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới”.  Hứa hẹn viện trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc  cải tổ theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn. Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thực  hiện “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và Đông Âu.
Thứ sáu, để  xảy ra xung đột, nội chiến dân tộc, sắc tộc ngày càng gay gắt, dẫn tới tan rã  của Nhà nước Liên bang Xô viết.
– Ngoài ra, sự tan rã của chủ nghĩa xã  hội ở Liên Xô và Đông Âu còn do những hoạt động chống phá của các thế lực thù  địch với chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước, đặc biệt là âm mưu “diễn biến hòa  bình”, “cách mạng nhung”, “chiến thắng không cần chiến tranh” của chủ nghĩa đế  quốc. Chiến lược diễn biến hòa bình đã được các nước đế quốc công phu thiết kế  dàn dựng lâu dài từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chống phá chủ nghĩa xã hội  là một chiến lược phản cách mạng bao gồm các phương tiện và thủ đoạn tinh vi từ  kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội. Chúng thường cấu kết với các thế lực  phản động chống phá từ bên trong, tập trung vào các đối tượng nhạy cảm như thanh  niên, học sinh, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ để lung lạc thế giới quan, hệ  tư tưởng, kích động tâm lí bất mãn, chống đối, gây thù hằn dân tộc, tôn giáo,  lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do” với nội dung trừu tượng, phi  lịch sử mà thực chất là lồng vào đó quan điểm tư sản, chống cộng, chống chủ  nghĩa xã hội. Chúng còn ra sức khai thác những yếu điểm, sai lầm trong các nước  xã hội chủ nghĩa, thổi bùng tâm lí bất mãn, chống đối, làm suy yếu mối liên hệ  xã hội của quần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước, tiến hành tuyên truyền, lừa  mị dân, kết hợp với thâm nhập kinh tế, văn hóa để đẩy nhanh sự chệch hướng. Trong cuốn sách “Chiến thắng không cần chiến tranh”, Tổng thống Mĩ Níchxơn cho  rằng “mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”. Ông ta viết: “Toàn bộ vũ  khí của chúng ta, các hiệp định mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ không đi đến đâu  nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Chiến lược của Mĩ trước sau như  một là đưa bất ổn vào bên trong “bức màn sắt”.
– Nguyên nhân cuối cùng là  do yếu kém về năng lực, sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng  viên đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào đảng, vào chế độ. Chủ nghĩa cơ  hội hữu khuynh, xét lại, phản bội lí tưởng của chủ nghĩa xã hội ở một số nhà  lãnh đạo cải tổ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự tan rã của chủ nghĩa xã  hội.  Có thể nói, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sự phản bội  từ bên trong và từ trên chóp bu của cơ quan lãnh đạo cao nhất là nguyên nhân  trực tiếp làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
Ngoài  những nguyên nhân có ý nghĩa phổ biến, khái quát cho Liên Xô và các nước Đông Âu  nói trên, ở mỗi nước cũng còn có những nguyên nhân riêng biệt, đặc thù dân tộc.  Đối với các nước Đông Âu, đó là:
Thứ nhất, mô phỏng hoàn toàn theo mô  hình Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không xuất phát từ điều kiện, đặc điểm  lịch sử, dân tộc dẫn tới sự lệ thuộc toàn diện vào Liên Xô, làm nảy sinh nhiều  điều không phù hợp với điều kiện lịch sử và tình hình thực tế của các nước Đông  Âu. Việc xây dựng nên một cơ chế quan liêu, bao cấp về kinh tế, một nền chính  trị chưa dân chủ, chưa công bằng và vi phạm những pháp chế xã hội chủ nghĩa,  không tuân thủ những quy luật khách quan về kinh tế – xã hội đã khiến cho nhân  dân các nước Đông Âu không hài lòng, không ủng hộ chế độ mới xã hội chủ nghĩa  (đã diễn ra nhiều lần khủng hoảng xã hội ở nhiều nước). Thứ hai, chậm sửa  chữa, thay đổi trước những biến động lớn của tình hình thế giới (như ở Đức và  Rumani, cho đến tận trước ngày sụp đổ, những người lãnh đạo vẫn tuyên bố rằng họ  không có sai lầm cho nên không cần phải sửa chữa, cải cách gì cả; hoặc như ở  Anbani, cho đến lúc sụp đổ, vẫn giữ nguyên những cơ chế cũ về kinh tế – xã hội  của 30 năm trước đó). Một số nước khác tuy tiến hành sửa chữa, thay đổi nhưng  lại rời bỏ nguyên lí đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Thứ ba, hầu hết  các nước này đã trải qua nhiều năm dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, truyền thống  dân chủ tư sản in đậm trong tư tưởng tập quán của nhân dân. Việc tiến hành hợp  nhất các đảng công nhân sau chiến tranh diễn ra một cách vội vàng, thiếu nguyên  tắc đã chứa đựng nguy cơ chia rẽ sâu sắc.
Thứ tư, các thế lực chống đối  chủ nghĩa xã hội cả ở trong và ngoài nước rất mạnh gồm công chức, sĩ quan, tư  sản địa chủ, binh lính của chế độ cũ, nhà thờ Thiên Chúa giáo, Đảng Xã hội dân  chủ… cùng cấu kết với nhau, có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nước ngoài, nằm chờ, khi có  thời cơ sẽ nổi dậy nhằm chống phá lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm,  trong cơn nguy kịch của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu, chính sách  “không can thiệp” của chính phủ Liên Xô, đứng đầu là Goócbachốp đã tạo điều kiện  thuận lợi thêm để cho các thế lực phản động cách mạng tự do hành động, chống phá  chủ nghĩa xã hội ở đây.
Sự tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô  và Đông Âu trong những năm 1989 – 1991 đã gây ra những hậu quả hết sức nặng nề.  Đó là một tổn thất chưa từng có trong lịch sử phong trào cộng sản, công nhân  quốc tế và của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của các  nước xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại nữa. Từ đây, trật tự thế giới hai cực  cũng đã kết thúc. Thế giới bước vào một thời kì mới với các xu thế mới đang vận  động.  Tuy nhiên, đây chỉ là sự tan rã của một mô hình chủ nghĩa xã hội  chưa khoa học chứ không phải là sự tan rã của chủ nghĩa xã hội như một hình thái  kinh tế – xã hội mới mà Mác và Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng  sản. Hơn nữa, như Lênin đã viết: “Nếu người ta nhận xét thực chất của vấn đề,  thì có bao giờ người ta thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới  nào lại đứng vững ngay được mà lại không liên tiếp trải qua nhiều thất bại,  nhiều sai lầm và tái phạm không?”. Từ những cơ sở ấy, các nước xã hội chủ  nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam đã rủt ra được nhiều bài học kinh nghiệm  xương máu, đưa công cuộc cải cách – đổi mới đi tới thắng lợi, nhằm xây dựng một  chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn vì giải phóng và hạnh phúc  con người, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia dân  tộc.  Trong thế kỉ XX, loài người chứng kiến  nhiều sự kiện quan trọng, những biến đổi to lớn của tình hình thế giới, thậm chí  có những đảo lộn bất ngờ, trong đó có sự khủng hoảng rồi tan rã của chủ nghĩa xã  hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 80 – đầu 90.  Cách mạng  tháng Mười Nga năm 1917 bùng nổ và thắng lợi đã mở ra một thời kì phát triển mới  đối với lịch sử thế giới, dẫn tới sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu  tiên trên thế giới – nước Nga Xô viết, sau đó là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ  nghĩa Xô viết (Liên Xô), chiếm 1/6 diện tích địa cầu. Chủ nghĩa xã hội từ lí  thuyết đã trở  thành hiện thực. Trong những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, Nhà nước  xã hội chủ nghĩa này tồn tại sừng sững trong thế giới tư bản, đạt được nhiều  thành tựu về kinh tế – xã hội, chính trị và văn hóa mà các dân tộc đang đấu  tranh tự giải phóng khỏi ách áp bức dân tộc và xã hội phải ngưỡng mộ và hướng  tới.
Từ giữa những năm 40 của thế kỉ XX, với sự thắng lợi của công cuộc  chống chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở  thành hệ thống thế giới, làm thay đổi bộ mặt hành tinh chúng ta. Trong đời sống  quan hệ quốc tế đã xuất hiện hai hệ thống xã hội đối lập. Chủ nghĩa tư bản không  còn là hệ thống xã hội duy nhất nữa. Trong quá trình mở rộng và phát triển, chủ  nghĩa xã hội  đã trải rộng từ Âu sang Á và khu vực Mĩ Latinh. Những thành tựu về  kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học – kĩ thuật và quân sự mà hệ  thống này đạt được là không thể phủ nhận. Trong khoảng hơn 30 năm, hệ thống xã  hội chủ nghĩa thế giới phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, đã chiếm lĩnh nhiều đỉnh  cao, giá trị nhân văn của nó lan tỏa. Chủ nghĩa xã hội trở thành chỗ dựa của các  dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và phát triển. Tuy nhiên, do  những khiếm khuyết trong quá trình xây dựng không được sớm khắc phục, do những  sai lầm trong đường lối xây dựng và chính sách cụ thể, cũng như sự chống phá của  chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực phản động trong nước và quốc tế, cuối cùng  vào những năm 80 –  đầu 90, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào khủng  hoảng toàn diện và sau đó tan rã, lịch sử nước này bước sang một giai đoạn mới.    Có thể nói rằng, sự tan rã của Liên bang Xô viết – hai năm sau khi Bức  tường Béclin sụp đổ (1989)- là “thảm họa địa chính trị lớn nhất” trong thế kỉ  XX. Nó gây ra một cú sốc trên quy mô toàn cầu.  Chủ nghĩa xã hội ở Liên  Xô và Đông Âu khủng hoảng và sụp đổ đã dẫn tới hệ thống chủ nghĩa xã hội ở trên  thế giới thực tế là không còn tồn tại nữa. Đây là một bước tụt lùi và là một  thất bại nặng nề của hệ thống chủ nghĩa xã hội.  Trong tình hình chủ  nghĩa xã hội trì trệ và khủng hoảng do những sai lầm của mô hình cũ thì cải tổ,  cải cách mở  cửa, đổi mới là tất yếu. Vì chỉ có một cuộc cải tổ, cải cách, đổi  mới sâu sắc, toàn diện mới đưa chủ nghĩa xã hội thoát khỏi khủng hoảng để bước  vào thời kì phát triển mới. Cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới là tất yếu nhưng  sụp đổ thì không là tất yếu. Vấn đề ở chỗ: cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới thế  nào, nhằm mục đích gì, theo đường lối nào.  Một số đảng cộng sản các nước  trên thế giới đã nhận định nguyên nhân của sự sụp đổ này là: Sự lệch lạc về hệ  tư tưởng của những người lãnh đạo đảng và sự thiếu hiểu biết về hệ tư tưởng xã  hội chủ nghĩa của nhân dân; sự thiếu dân chủ trong xã hội và trong đảng; tình  trạng quan liêu trong đảng, tham nhũng và sự xa lánh nhân dân của lãnh đạo đảng;  một số sai lầm trong chính sách kinh tế của đảng cộng sản cầm quyền; và sự phá  hoại tinh vi của chủ nghĩa đế quốc… Đó chính là do sự xa rời bản chất cách mạng  và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tách rời tính cách mạng với tính khoa  học trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội.xã Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã  hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất, một thất bại lớn nhất của phong trào  cộng sản, nó phản ánh đúng cuộc đấu tranh cách mạng, có thắng lợi cách mạng,  thất bại là tạm thời, thất bại có trong sự trưởng thành. Đây chỉ là sự thất bại  của một mô hình. Trên thực tế, sự tan rã ở Liên Xô và Đông Âu không phải là  sự thất bại của chế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ  nghĩa xã hội mà chỉ là sự  thất bại của một mô hình thực tiễn nhất định. Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liên  Xô – mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, nó không đồng nghĩa với sự sụp đổ của  chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế – xã hội mà loài người  đang vươn tới. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cũng không vì  thế mà thay đổi nội dung, tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời  đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Sự tan rã ấy chỉ chứng tỏ  tính quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi.    Từ thất bại  và tổn thất này, nhiều bài học bổ ích đã được rút ra cho các nước xã hội chủ  nghĩa còn lại đang tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới nhằm xây dựng một chế  độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn của nó và phù hợp với mục tiêu  của thời đại. Toàn bộ thực tiễn từ năm 1941 đến nay đã chứng minh điều đó, nó  khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản  vẫn là sự lựa chọn cuối cùng. Những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc, nhân dân  Việt Nam đang đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội với những mô  hình phù hợp, đang khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội. Đúng như Chủ  tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc,  không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên, cũng không có  lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”. Hay như Đại hội  Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (4/2001) cũng đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội  thế giới từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự  thức tỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng vượt qua thời kì thoái trào,  tạo ra bước phát triển mới. Lịch sử thế giới đã, đang và sẽ còn trài qua những  bước quanh có, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội,  vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.
Có thể nói, sự sụp đổ của chủ  nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã  hội chưa khoa học, chưa nhân văn. Đây chỉ là một bước lùi tạm thời của chủ nghĩa  xã hội chứ không phải là sự sụp đổ của lí tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại.  Ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội đã từng tung bay trên những khoảng trời rộng lớn,  từ bờ sông Enbơ đến bờ biển Nam Hải rồi vượt trùng dương rộng lớn đến tận hòn  đảo Cuba nhỏ bé anh hùng. Ngọn cờ ấy tuy có dừng tung bay ở bầu trời Liên Xô và  một số nước Đông Âu nhưng rồi đây sẽ lại tung bay trên nhiều khoảng trời mênh  mông xa lạ: Bầu trời Đông Nam Á, bầu trời châu Phi, Mĩ Latinh và ngay trên cả  cái nôi ồn ào, náo nhiệt của chủ nghĩa tư bản phương Tây… Đó là ước mơ của nhân  loại tiến bộ và đó cũng là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài  người. Và đó cũng chính là triển vọng của chủ nghĩa xã hội trong tương lai.  Triển vọng của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó nhân  tố quan trọng nhất là sự đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính  công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước là động lực cho sự phát triển của chủ  nghĩa xã hội thế giới. Thực tiễn thành công trong hơn 30 năm xây dựng chủ nghĩa  xã hội đặc sắc Trung Quốc và công cuộc đổi mới ở Việt Nam 25 năm qua là minh  chứng hùng hồn, là sức sống mãnh liệt của tương lai chủ nghĩa xã hội trên thế  giới.
AMARI TX  (TH&ST)
Advertisements
Categories: Uncategorized | 6 phản hồi

Điều hướng bài viết

6 thoughts on “Dân chủ “không vùng cấm” và sự sụp đổ của một đế chế

  1. rat cam on tac gia amari … toi khong phai la nguoi cong san nhung toi thay duoc rang luan diem cua tien si triet hoc cacmac luon luon dung. bai viet cua ong rat thuyet phuc……

  2. vuhoangha

    Những bài này đưa vào trường chính trị để làm tài liệu giảng dạy thì tuyệt .

  3. Nguyễn Quang Chiến

    @ Đại tá: tôi đã có đọc một quyển sách (tiếc rằng bâygiờ tôi đánh mất mất rồi) mà tác giả của nó là 1 cựu nhân viên tình bào Mỹ viết, trong đó ông ta có phân tích 1 nguyên nhân khiến LX sụp đổ nữa đó là: Mỹ đã thả cần câu “viện trợ” với Gorbachov, sau khi đã thao túng thị trường dầu mỏ thế giới khiến giá dầu mỏ và khí đốt (một tài nguyên mà Liên Xô khi đó đã có ưu thế rất lớn trong xuất khẩu) tụt dốc kinh khủng

  4. Nguyễn Quang Chiến

    Nhận thức và tay nghề của ĐT ngày càng được nâng cao. Đọc những gì anh viết người ta không nghĩ nghĩ đây lại là bài viết của 1 người đã từng được “phía bên kia” đào tạo. Một lần nữa tôi khâm phục tinh thần phấn đấu không mệt mỏi của anh.

    Chúc anh tiếp tục có nhiều bài viết bổ ích góp phần vào công cuộc chung của toàn dân là xây dựng đất nước ngày càng phát triển..

  5. Bài phân tích rất hay!

  6. quang

    Cac nha lanh dao Viet Nam rat nen doc bai nay.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: