Mặt sau cái gọi là “Quan ngại sâu sắc”

Bài đăng trên Tạp chí nhân quyền Việt Nam Tháng 5-2013
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác trên thế giới không có. Cả nước có 54 dân tộc anh em cư trú ở các vùng miền khác nhau, có trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội và mức sống khác nhau . Dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái… nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu… trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, địa bàn chiếm tới ¾ diện tích quốc gia. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng,mà họ sống xen kẽ với nhau. Trình độ phát triển về kinh tế- xã hội của các dân tộc thiểu số thường thấp hơn, khó khăn hơn so với dân tộc Kinh. Đây là một vấn đề do địa bàn cư trú và do lịch sử để lại.
Đồng bào mỗi dân tộc cũng theo nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Đến nay, Nhà nước Việt Nam đã cấp giấy đăng ký và công nhận 31 tổ chức của 12 tôn giáo. Dù là dân tộc nào, theo loại hình tín ngưỡng, tôn giáo gì chăng nữa thì người dân cư trú trên mảnh đất Việt này, vẫn luôn có khát vọng xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, tự do và hạnh phúc cho mọi người, Các dân tộc đều có những ước vọng chính trị, văn hóa mang tính nhân văn sâu sắc.Với khoảng hơn 24 triệu tín đồ theo các tôn giáo khác nhau. Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo luôn chung sống hoà hợp, gắn bó với dân tộc. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành  độc lập dân tộc, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cả 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhau góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam.
Đảng và Nhà nước Việt Nam hiểu rõ nhu cầu tâm linh của nhân dân Việt Nam bởi lẽ, hầu hết nhân dân Việt Nam không những có tín ngưỡng truyền thống thờ cúng tổ tiên, thờ các vị thành hoàng, những vị đã có công xây dựng quê hương, đất nước…mà không ít người là tín đồ các tôn giáo. Bản tính của người Việt Nam là khoan dung, cởi mở. Do vậy, dù là tôn giáo nào, tín ngưỡng nào, từ đâu đến thì cộng đồng cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là nó không xâm phạm đến lợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hoá dân tộc.Theo thống kê, hiện nay có 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng.Tiếp tục khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ  tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Hiện nay trên cả nước có 13 tôn giáo với 36 tổ chức tôn giáo và 1 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động với gần 24 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc, 46 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo, 25.000 cơ sở thờ tự, trong đó Phật giáo có khoảng 11 triệu tín đồ, Công giáo gần 7 triệu tín đồ, Cao đài khoảng 2,4 triệu tín đồ, Tin lành hơn 1 triệu tín đồ. Giành độc lập cho dân tộc đã khó, phấn đấu mang lại hạnh phúc cho toàn dân còn khó khăn gấp nhiều lần.Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật, các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Bức tranh tôn giáo ở Việt Nam đa dạng mang nhiều màu sắc sống động như thế, vậy mà đã có những cá nhân, tổ chức xuyên tạc, bôi nhọ bức tranh đó, thực chất họ có âm mưu chính trị gì? Có thể nói thẳng ra rằng, họ muốn lợi dụng tôn giáo để tập hợp lực lượng quần chúng chống lại chính phủ Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang theo đuổi. Mà điển hình là: Vào ngày 30- 4-2013, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ(USCIRF) công bố phúc trình thường niên, đề nghị chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách các Quốc Gia Cần Quan Tâm Đặc Biệt (Country of Particular Concerns, gọi tắt là CPC)-Uỷ ban Tự do tôn giáo của Mỹ tiếp tục công bố báo cáo đánh giá tiêu cực về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.Trong bản phúc trình họ nói rằng: “Hà Nội sử dụng lực lượng đặc nhiệm công an tôn giáo và áp dụng các luật mơ hồ về an ninh quốc gia để trấn áp các hoạt động tôn giáo độc lập, kể cả Phật Giáo, Tin Lành, Hoà Hảo và Cao Đài, đồng thời tìm cách chặn đứng sự phát triển của đạo Tin Lành và Công Giáo trong các dân tộc thiểu số qua hình thức kỳ thị, bạo lực và cưỡng bức bỏ đạo.”!? Cũng theo báo cáo này họ nói tiếp: “Tại các vùng thành thị, chính phủ thường cho phép các hoạt động tôn giáo diễn ra mà không ngăn chặn nhiều như ở các vùng người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành và Phật Giáo. Những nhóm này muốn hoạt động độc lập mà không bị kiểm soát bởi chính phủ thường bị bắt bớ, đánh đập và bỏ tù” !?. Từ những cái gọi là “Chứng cớ” mù mờ và áp đặt Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế kiến nghị chính phủ Hoa Kỳ phải đặt điều kiện cải thiện tình hình nhân quyền, tôn giáo đi liền với mở rộng quan hệ hai nước, đặc biệt là trong đối thoại chiến lược giữa hai quốc gia. Có thể nói, đây là những luận điệu quá lỗi thời, một cách nhìn thiên và thù địch. Vậy mặt sau cái gọi là sự “Quan ngại” sâu sắc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam mà hàng năm được USCIRF công bố dựa trên những chứng cứ, suy diễn mơ hồ không phản ảnh đúng những gì đang xảy ra ở Việt Nam là gì ? Chúng ta có thể quả quyết rằng họ đang thực hiện một mưu đồ đen tối. Hành động đó đi ngược lại xu hướng phát triển tốt đẹp trong quan hệ Việt-Mỹ hiện nay.

Ngay từ khi đặt chân vào Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc đã tính toán đến âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Họ tìm cách mua chuộc, lôi kéo các giáo sĩ, tín đồ các tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị phản động. Khi người Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam (1975), viên Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn – Polga – nói rằng: “Sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì lực lượng đấu tranh với cộng sản, chủ yếu là tôn giáo…” Họ luôn xác định tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, tín đồ tôn giáo là lực lượng xã hội dễ lừa bịp, kích động để tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng chống đối ,vấn đề “tự do tôn giáo” là hướng ưu tiên chính trong chính sách  đối với Việt Nam, họ tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước. Lúc Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới, họ tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo để thực hiện “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Họ tuyên truyền rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang còn mạnh, chưa thể chuyển hoá ngay được nội bộ. Vì vậy, để làm cho Cộng sản Việt Nam suy yếu, biện pháp hữu hiệu nhất là dùng vấn đề tôn giáo và dân tộc để phá hoại an ninh, làm cho Việt Nam suy yếu…” Nhìn nhận tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt Nam và đang hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối trong các tôn giáo cả về tinh thần và vật chất, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Chính sự hậu thuẫn này là nhân tố kích động số phần tử quá khích trong tôn giáo có thái độ thách đố với chính quyền, như: Họ có ý đồ thành lập “Uỷ ban liên tôn chống cộng”, lôi kéo tín đồ, tụ tập đông người, xúi giục biểu tình, gây rối dẫn tới bạo loạn để chờ bên ngoài can thiệp. Nguy hiểm nhất là Mỹ lợi dụng vấn đề “tôn giáo – dân tộc” để kích động tư tưởng ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số, kích động gây bạo loạn, gây rối nhằm tạo sự mất ổn định chính trị – xã hội trong khu vực. Cụ thể là công khai ủng hộ các phần tử phản động trong số người dân tộc thiểu số lưu vong, phục hồi tổ chức Fulro, lập ra “Tin Lành Đề ga”, ‘Nhà nước Đề ga”, “Tổ quốc Mông”… Họ thường xuyên kích động các phần tử cực đoan trong các tôn giáo đòi “tự do tôn giáo”, âm mưu tái lập “Liên tôn chống cộng sản”, khôi phục các tổ chức tôn giáo bất hơp pháp” công kích Ủy ban đoàn kết Công giáo, hỗ trợ cho một số người nhằm âm mưu phát triển đạo Tin Lành ngoài khuôn khổ, luật pháp ở vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, vận động tặng giải thưởng Noben vì hòa bình và các giải thưởng nhân quyền cho một số nhân vật tôn giáo chống đối, cực đoan, đối lập với Nhà nước có “Thâm niên” lâu nay. Tuy nhiên, tình hình hoạt động tôn giáo như chúng ta thấy còn có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất  ổn định. Một số người chưa tuân thủ pháp luật, còn tổ chức truyền đạo trái phép, còn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan. Việc khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến đất đai và cơ sở vật chất của tôn giáo ở một số nơi tăng lên có những vụ việc phức tạp. Ở một số nơi, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, một số người đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hoạt động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị.
Trong những năm gần đây, các thế lực chống cộng trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề dân chủ và quyền con người, xuyên tạc, bôi nhọ đường lối chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Họ vu cáo Việt Nam thực hiện chính sách kỳ thị dân tộc,vu cáo Việt Nam thực hiện chính sách “xua đuổi, cướp đất” của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, không cho đồng bào Mông được thực hiện tín ngưỡng, tôn giáo của mình, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với đồng bào Khơ-me, Chăm… Những sự kiện bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001, ở Mường Nhé (Điện Biên) năm 2011. Những đòi hỏi thành lập nhà nước tự trị, như nhà nước Đề-ga, nhà nước Mông, trong những năm qua thật ra chỉ là một thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn của các thế lực chống cộng trong và ngoài nước nhằm đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ Nhà nước CHXHCN Việt Nam mà thôi. Đối với họ mục tiêu là sự tồn tại một nhà nước tự trị trong lòng nước Việt Nam. Một điều chưa bao giờ tồn tại trong lịch sử dân tộc. Chúng ta không được quên rằng, một trong những thủ đoạn mà họ đã áp dụng thành công dẫn đến làm tan rã Liên Xô, sụp đổ chế độ XHCN ở Đông Âu là họ đã sử dụng thành công con bài chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Hoa Kỳ lạm dụng và đánh đồng quyền tự do tôn giáo và tự do truyền giáo để có thể thúc đẩy sự truyền bá Kitô giáo, nhất là Tin Lành sang châu Âu và các nước khác trên thế giới. Mỹ đã lợi dụng những ưu thế của đạo Tin Lành để có thể bành trướng văn hóa, văn minh ra toàn cầu. Học thuyết về tự do tôn giáo của Mỹ còn đặc biệt chú trọng đến vấn đề cải đạo, đổi đạo.

Việt Nam luôn tôn trọng một nguyên tắc cơ bản là người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo. Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân tôn giáo”, không có ai bị giam giữ vì lý do tôn giáo và bất đồng chính kiến .Được sự cổ xúy của Mỹ, các cá nhân, tổ chức phản động trong các tôn giáo ở Tây Nguyên ra sức lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ra thực hiện chủ trương xoá các tổ chức Tin Lành trái phép để vu cáo chính quyền Nhà nước Việt Nam “Vi phạm tự do tôn giáo”, kêu gọi “cầu nguyện cho Tin Lành Tây Nguyên”, đồng thời kích động các hoạt động chống đối. Bên cạnh việc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của công dân thì luật pháp của Nhà nước Việt Nam cũng  đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để gây mất ổn định chính trị, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản các tín đồ làm nghĩa vụ công dân. Chính vì thế những kiểu “Đạo lạ” đội lốt tôn giáo để chống phá nhà nước, xúi dục gây chia rẽ, mất đoàn kết dân tộc, lợi dụng lòng tin của nhân dân làm băng hoại đạo đức xã hội vì mục đích cá nhân đen tối thì phải được xử nghiêm theo pháp luật. Trong thời gian qua hàng loạt tà đạo đã bị vạch trần trước ánh sáng như: Đạo hoa vàng, Long hoa di lặc, đạo Vàng chứ, đạo Y-gyin, Hà mòn, Thanh hải vô thượng sư, canh tân đặc sủng,Tin lành đề ga, Hội đồng công án Bia sơn…Việc xử lý các tổ chức này là hoàn toàn chính đáng, hợp pháp nhằm bảo vệ an ninh trật tự,  kỷ cương phép nước mà bất cứ quốc gia nào cũng đều làm như vậy kể cả nếu việc này xảy ra trên đất Mỹ thì họ cũng hành động như vậy. Với âm mưu chia rẽ sự đoàn kết lương giáo, chia rẽ các tôn giáo với nhau, tách các tôn giáo ra khỏi khối đại đoàn kết toàn dân, tách các tôn giáo ra khỏi phong trào, sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc. Các thế lực chống đối Việt Nam đã sử dụng các thủ đoạn: Xuyên tạc tình hình tôn giáo Việt Nam, xuyên tạc chính sách tôn giáo của nhà Nước Việt Nam,vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo , đòi đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Trong bản phúc trình về tự do tôn giáo đối với Việt Nam họ luôn nói rằng: “có hai chính sách tôn giáo ở Việt Nam”!?. Trong nhận thức cũng như trong hành động, Việt Nam nhất quán về chính sách, luật pháp về tôn giáo luôn được thực hiện ngày càng tốt hơn trong thực tiễn với những bằng chứng chứng thuyết phục, những suy diễn của họ là không có cơ sở.
Trong lịch sử nước ta, vấn đề tôn giáo đã từng bị chủ nghĩa đế quốc tìm cách lợi dụng phục vụ cho âm mưu xâm lược và chống phá cách mạng Việt Nam. Hiện nay trong âm mưu chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam vẫn coi tôn giáo là con bài hết sức lợi hại. Wyliam Colby (Nguyên giám đốc CIA) đã từng nói: ”Muốn đi vào Châu Á phải bằng hai con đường: “bánh mỳ và tôn giáo”. Bảo đảm nguyên tắc độc lập dân tộc, xã hội chủ nghĩa, tôn giáo phải đồng hành với dân tộc, lựa chọn các tôn giáo, tín ngưỡng của công dân phải thực sự trên cơ sở tự nguyện, gắn bó với Tổ quốc và bản sắc dân tộc. Do đó, một lần nữa chúng ta khẳng định, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thực sự được coi trọng, bảo đảm ngày càng tốt hơn, toàn diện hơn. Các tôn giáo Việt Nam dù là ngoại nhập hay phát sinh do nhu cầu của người dân trong nước, muốn phát triển được thì đều phải hòa đồng với văn hóa, bản sắc của dân tộc và tuân thủ theo pháp luật và chịu sự quản lý của nhà nước. Đây là yêu cầu khách quan, hợp tình , hợp lý bởi lẽ không một tôn giáo nào được phép đứng ngoài quốc gia, dân tộc và đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Lợi ích quốc gia là tối thượng, trong đó có lợi ích của các tôn giáo.
AMARI TX
Advertisements
Categories: Uncategorized | 2 phản hồi

Điều hướng bài viết

2 thoughts on “Mặt sau cái gọi là “Quan ngại sâu sắc”

  1. Reblogged this on MY VIETNAM.

  2. nguyễn hoàng dzung

    Tất cả các bài bạn viết đều hay , dẫn chứng và lập luận rất chặt chẻ , nhưng làm sao có thể dịch các bài này ra tiếng Anh , độc giả nước ngoài và người Việt hải ngoại thế hệ trẻ hiểu tiếng Anh dễ dàng hơn .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: