Ngoại giao Con đường Tơ lụa và sự xuyên tạc lịch sử

maritimesilkroad

Tác giả: Tansen Sen | Biên dịch: Phạm Thị Huyền Trang

Gần đây, các báo đài bắt đầu đưa tin về khái niệm đầy lãng mạn “Con đường Tơ lụa” lịch sử mà các đoàn lữ hành trên lưng lạc đà đã đi qua giữa những ngọn núi và sa mạc Trung Á, cũng như tọa đàm về việc tái lập các mạng lưới hàng hải trên Ấn Độ Dương mà Đô đốc hải quân Trung Quốc Trịnh Hòa đã bảy lần dẫn hạm đội của mình băng qua. Nhằm nhấn mạnh vai trò lịch sử của Trung Quốc như là biểu tượng của hòa bình và thịnh vượng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang ra sức thúc đẩy các tuyến đường thương mại cổ xưa, gần đây nhất là trong các chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình tới các nước Trung và Nam Á.

Tuy nhiên, có một vấn đề nhỏ trong chiến dịch dựa trên lịch sử này của Trung Quốc: lịch sử đang bị bóp méo.

Tháng Chín năm 2013, chưa đầy một năm sau khi đảm nhận vị trí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình đưa ra sáng kiến chính sách đối ngoại mới được gọi là “Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa.” Trong một bài diễn văn tại Đại học Nazarbayev ở Kazakhstan, nhằm kêu gọi hợp tác và phát triển khu vực Á-Âu thông qua sáng kiến Con đường Tơ lụa mới này, Tập Cận Bình đã nêu ra năm mục tiêu cụ thể: tăng cường hợp tác kinh tế, cải thiện kết nối đường bộ, xúc tiến thương mại và đầu tư, tạo thuận lợi cho chuyển đổi tiền tệ, và thúc đẩy sự giao lưu giữa người dân với nhau.

Một tháng sau, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 16 được tổ chức ở Brunei, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đề xuất việc xây dựng một “Con đường Tơ lụa trên biển” thế kỷ 21 để cùng nhau thúc đẩy hợp tác hàng hải, kết nối, nghiên cứu khoa học và môi trường, và các hoạt động khai thác hải sản. Vài ngày sau đó, trong bài phát biểu trước Quốc hội Indonesia, Tập Cận Bình đã lên tiếng ủng hộ ý tưởng này và tuyên bố Trung Quốc sẽ đóng góp kinh phí để “phát triển mạnh mẽ quan hệ đối tác hàng hải trong một nỗ lực chung nhằm xây dựng Con đường Tơ lụa trên biển của thế kỷ 21,” kéo dài từ bờ biển Trung Quốc đến Địa Trung Hải.

Trong cả hai bài phát biểu trên, Tập Cận Bình đều nhấn mạnh mối liên kết hữu nghị trong lịch sử giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực và ám chỉ rằng những đề xuất của ông đều hướng đến việc thiết lập lại các mối quan hệ hữu nghị cổ xưa trong một thế giới toàn cầu hóa và hiện đại. Tại Kazakhstan, ông cho rằng sứ thần Tây Hán Trương Khiên đã “gánh vác sứ mệnh hòa bình và hữu nghị,” đồng thời mở ra cánh cửa liên lạc Đông-Tây và thiết lập nên “Con đường Tơ lụa.” Tại Indonesia, ông đã tán dương Đô đốc Trịnh Hòa nhà Minh vì đã để lại “những câu chuyện đẹp về mối giao lưu hữu nghị giữa dân tộc Trung Quốc và Indonesia.”

Thế nhưng, Tập Cận Bình đã không hề đề cập đến những bi kịch xung đột và nỗ lực nhằm truyền bá một trật tự thế giới dĩ Hoa vi trung (lấy Trung Quốc làm trung tâm – NBT). Đồng thời, nhằm khắc họa quá khứ như là một giai đoạn lịch sử không tưởng, mục đích chuyến đi của sứ thần Trương Khiên tới các nước được gọi là Tây Vực cũng bị bóp méo.

Nhà Hán đã phái Trương Khiên đi tìm đồng minh nhằm chống lại Liên minh Hung Nô hùng mạnh, địch thủ hàng đầu của Đế chế Tây Hán. Với các chính sách bành trướng, nhà Hán đã góp phần biến những người Hung Nô du mục thành một thực thể bán nhà nước[1] vốn đã luôn đối đầu với các lực lượng người Hán. Năm 138 TCN, nhà Hán phái Trương Khiên tới Trung Á để tìm người Nguyệt Chi[2] theo hành trình của người Hung Nô trước đó. Tuy nhiên, sứ mệnh của ông đã thất bại, ông bị người Hung Nô cầm tù và bị ép hôn với một nữ nhân trong tộc. Trốn thoát sau 10 năm bị giam cầm, ông nhận ra rằng người Nguyệt Chi không hề quan tâm đến việc thành lập liên minh quân sự (với nhà Hán để chống người Hung Nô). Đóng góp duy nhất của Trương Khiên cho triều đình nhà Hán là biểu tấu về các thể chế và tộc người trong khu vực Trung Á.

Tương tự, hình ảnh của Đô đốc Trịnh Hòa như là một sứ thần của hòa bình và hữu nghị cũng có vấn đề. Trên thực tế, Đô đốc Trịnh Hòa đã sử dụng vũ lực trong bảy chuyến thám hiểm từ năm 1405 đến năm 1433 tại các vùng lãnh thổ mà nay là Indonesia, Malaysia, Sri Lanka, và Ấn Độ, nhằm phong chư hầu và kiểm soát hành lang chiến lược trên Ấn Độ Dương. Trịnh Hòa đã can thiệp vào việc triều chính của Sri Lanka và Indonesia, sau đó đưa tù nhân về Nam Kinh, kinh đô nhà Minh. Thực tế ban đầu Hoàng đế Vĩnh Lạc phái Trịnh Hòa ra biển Tây là để nhằm truy lùng đứa cháu trai đã bị chính Vĩnh Lạc soán ngôi, đồng thời truyền bá nền văn minh Trung Hoa. Trong quá trình thám hiểm, Trịnh Hòa đã thu phục rất nhiều vị vua chúa về làm chư hầu dưới trướng của Vĩnh Lạc cùng với các vật phẩm triều cống. Các chuyến đi này sau đó đã bị dừng lại bởi chúng hóa ra là quá tốn kém và, dưới góc nhìn của các triều thần, đã trao quyền quá mức cho một hoạn quan như Trịnh Hòa.

Đế chế Hán đã sử dụng chiến thuật tương tự tại Trung Á, đặc biệt là tại các vị trí chiến lược trên những tuyến đường thương mại. Do đó, chẳng có tuyến đường bộ hay hàng hải nào, gọi chung là Tuyến đường Tơ lụa, cho thấy sự giao lưu hòa bình hoặc thúc đẩy tình hữu nghị thông qua sự hiện diện của Trung Quốc như các bài phát biểu đã nêu.

Cũng có một vấn đề với thuật ngữ “Con đường Tơ lụa” hay “Tuyến đường Tơ lụa.” Nhà địa lý người Đức Ferdinand von Richthofen đặt ra thuật ngữ này vào năm 1877 để chỉ các tuyến đường bộ thương mại cổ xưa xuyên qua Trung Á. Kể từ đó, nhiều tuyến đường kết nối Trung Quốc với thế giới bên ngoài đều được gọi là “Con đường Tơ lụa” hay “Tuyến đường Tơ lụa,” cho dù tơ lụa không phải là sản phẩm đầu tiên, cũng không phải là sản phẩm được giao dịch nhiều nhất trên bất kỳ tuyến đường nào. Ngoài ra, được các học giả Trung Quốc ra sức sử dụng, thuật ngữ này đã đề cao vai trò của Trung Quốc trong các tương tác liên khu vực cận đại một cách vô căn cứ. Điều này là kết quả của việc phớt lờ các ảnh hưởng ngoại lai tới xã hội và kinh tế Trung Quốc trong suốt 2000 năm qua.

Có lẽ, như nhiều người Trung Quốc khác, quan điểm của Tập Cận Bình về Con đường Tơ lụa được định hình bởi hệ thống giáo dục của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không chấp nhận việc phân tích phê phán và diễn giải xác đáng các nguồn sử liệu. Có thể Tập Cận Bình chịu ảnh hưởng bởi nguồn gốc gia đình xuất thân gần kinh đô Tây An của Trung Quốc cổ đại, hay còn được biết đến trong lịch sử là Trường An, địa danh được sử sách công nhận là điểm khởi đầu của con đường tơ lụa trên bộ. Hoặc Tập Cận Bình không nhận thức được những phản ứng tiêu cực mà việc sử dụng chủ nghĩa tượng trưng văn hóa Trung Quốc trong lĩnh vực chính sách đối ngoại đã gây ra ở ngoại quốc. Hoặc cũng có thể ông kiên quyết tiến hành sáng kiến này đến cùng, với sức mạnh kinh tế Trung Quốc đã đạt được trong nhiều thập kỷ qua.

Thế nhưng, một số quốc gia vẫn sẵn sàng chấp nhận những câu chuyện lịch sử bị bóp méo vì những lý do kinh tế.

Ví dụ, năm ngoái Chính phủ Sri Lanka đã tiếp nhận một bức tượng Trịnh Hòa mạ vàng như một món quà từ Hiệp hội Quản lý Du lịch Quốc tế của Trung Quốc. Hai bên tuyên bố rằng Trịnh Hòa và các cuộc thám hiểm của ông đại diện cho những mối quan hệ thương mại và hòa bình cổ xưa giữa Trung Quốc và Sri Lanka. Các chi tiết lịch sử quan trọng đã bị bỏ qua như việc Trịnh Hòa đã thay đổi chế độ vốn có trong khu vực; bắt cóc quốc vương Alaskawera; áp giải ông này về Nam Kinh như một tù nhân. Trịnh Hòa cũng chiếm đoạt Xá lợi răng Phật nổi tiếng tại Kandy, một biểu tượng xa xưa về chủ quyền của Sri Lanka.

Xung đột quân sự cũng đã xảy ra ở Indonesia, nhưng một số tờ báo của quốc gia này lại hoan nghênh đề xuất của Tập Cận Bình và ghi nhận rằng các đề xuất này có thể mang lại “những cơ hội to lớn cho sự phát triển của khu vực.” Một thực tế đã không được nhắc tới là vào năm 1407, Trịnh Hòa đã thay đổi chế độ trên đảo Sumatra bằng cách bắt cóc Trần Tổ Nghĩa, thủ lĩnh địa phương người Trung Quốc bị triều đình nhà Minh coi là cướp biển. Sau khi bị hành hình công khai ở Nam Kinh, Trần Tổ Nghĩa bị thay thế bởi một người đại diện cho lợi ích của triều đình nhà Minh trong khu vực. Cũng năm đó, Trịnh Hòa còn can thiệp vào công việc nội bộ của Vương quốc Majapahit trên đảo Java, dường như để làm suy yếu cường quốc khu vực này của Đông Nam Á.

Cũng giống như những xung đột diễn ra trong các khu vực khác với cùng một mục đích là mở ra một trật tự thế giới hài hòa dưới trướng Trung Hoa Thiên tử, những can thiệp quân sự này mới là mục tiêu của các cuộc thám hiểm do Trịnh Hòa dẫn đầu.

Với dòng tiền và đầu tư dồi dào, sáng kiến Con đường Tơ lụa của chính phủ Trung Quốc có thể thúc đẩy nền kinh tế của nhiều quốc gia châu Á và châu Âu, miễn là các nước này tự nguyện tuyên bố có mối liên kết với đế chế Trung Quốc cổ đại. Còn đối với Trung Quốc, sự thành công của sáng kiến này sẽ mở ra con đường mới cho việc đầu tư nguồn dự trữ tiền tệ khổng lồ của mình, đánh dấu một bước tiến lớn trong công cuộc tái lập trật tự thế giới Trung Quốc cổ đại được biết đến dưới tên gọi thiên hạ, đó là, mọi nơi được biết đến trên thế giới này đều thuộc về một thiên mệnh hoàng đế của Trung Hoa. Trật tự thế giới mới này sẽ không chỉ đơn giản là luận điệu suông, mà còn mang những ý nghĩa quan trọng về địa chính trị.

Tansen Sen (Thẩm Đan Sâm) là phó giáo sư tại trường Đại học Baruch, Đại học Tổng hợp Thành phố New York. Chuyên ngành của ông là lịch sử và các tôn giáo châu Á, ông đặc biệt quan tâm về lĩnh vực quan hệ Ấn Độ-Trung Quốc, thương mại Ấn Độ Dương, Phật giáo, và khảo cổ học về Con đường Tơ lụa. Ông là tác giả cuốn “Buddhism, Diplomacy, and Trade: The Realignment of Sino-Indian Relations, 600-1400” (University of Hawai’i Press, 2003) và đồng tác giả (với Victor H. Mair) của cuốn “Traditional China in Asian and World History” (Association for Asian Studies, 2012).

Tác giả: Tansen Sen | Biên dịch: Phạm Thị Huyền Trang

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/10/20/ngoai-giao-con-duong-to-lua-xuyen-tac-lich-su/#more-4095

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Mỹ nắm bá quyền hay chỉ chiếm ưu thế?

streeter-leckagetty-imagesafp.si

Nguồn: Joseph S. Nye, “American Hegemony or American Primacy?Project Syndicate, 09/03/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Không quốc gia nào trong lịch sử hiện đại sở hữu nhiều sức mạnh quân sự toàn cầu như Mỹ. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng hiện nay Mỹ đang đi theo bước chân của Vương quốc Anh, bá chủ toàn cầu gần đây nhất, đi vào con đường suy sụp. Dù ngày càng trở nên phổ biến, sự so sánh lịch sử này là sai lầm.

Anh chưa bao giờ nổi trội như Mỹ ngày nay. Chắc chắn nó từng sở hữu một lực lượng hải quân có quy mô bằng hai hạm đội hợp lại, và Đế quốc Anh, nơi mặt trời không bao giờ lặn, từng cai trị một phần tư nhân loại. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa các nguồn lực tương đối của Đế quốc Anh và nước Mỹ hiện đại. Khi Thế chiến I bùng nổ, Anh chỉ xếp thứ tư trong số các cường quốc về lực lượng quân đội, thứ tư về GDP, và thứ ba về chi tiêu quân sự.

Đế quốc Anh đã cai trị một vùng đất rộng lớn thông qua sự phụ thuộc vào quân đội địa phương. Trong số 8,6 triệu lính Anh trong Thế chiến I có gần một phần ba đến từ phần đế chế ở hải ngoại. Điều đó khiến chính quyền London ngày càng khó tuyên chiến nhân danh toàn bộ đế chế  khi những tình cảm dân tộc chủ nghĩa bắt đầu gia tăng.

Đến Thế chiến II, việc bảo vệ đế quốc trở thành một gánh nặng hơn là một việc làm có ích. Việc nước Anh nằm rất gần các cường quốc như Đức và Nga càng làm cho các vấn đề trở nên khó khăn hơn.

Bất chấp tất cả những lời nói không chính xác về một “đế quốc Mỹ,” thực tế là Mỹ không có thuộc địa để phải quản lý, do đó nó tự do hành động hơn so với Anh. Và nhờ việc được bao quanh bởi các nước yếu và hai đại dương, Mỹ dễ tự phòng thủ hơn nhiều.

Điều đó đem đến cho chúng ta một vấn đề khác khi so sánh (Anh và Mỹ) trong vai trò bá chủ toàn cầu: sự mập mờ về ý nghĩa thực sự của khái niệm “bá quyền” (hegemony). Một số nhà quan sát đánh đồng khái niệm này với chủ nghĩa đế quốc (imperialism); nhưng Mỹ là minh chứng rõ ràng rằng bá chủ không nhất thiết phải có một đế chế chính thức. Những người khác thì định nghĩa bá quyền là khả năng thiết lập các quy tắc của hệ thống quốc tế; nhưng một bá chủ phải có chính xác bao nhiêu ảnh hưởng đến quá trình này, so với các cường quốc khác, thì vẫn chưa rõ.

Ngoài ra, có một số người cho rằng bá quyền đồng nghĩa với việc kiểm soát các nguồn lực mạnh nhất. Nhưng nếu xét theo định nghĩa này thì nước Anh trong thế kỷ 19 – khi đang ở đỉnh cao quyền lực của mình vào năm 1870, xếp thứ 3 (sau Mỹ và Nga) về GDP và thứ 3 (sau Nga và Pháp) về chi tiêu quân sự – sẽ không thể được coi là bá chủ, cho dù nó đứng đầu về lực lượng hải quân.

Tương tự, những người nói về bá quyền Mỹ sau năm 1945 đã không lưu ý rằng Liên Xô đã cân bằng sức mạnh quân sự với Mỹ trong hơn 4 thập niên. Dù Mỹ có sức mạnh kinh tế vượt trội, sức mạnh chính trị và quân sự của nó đã bị hạn chế bởi sức mạnh của Liên Xô.

Một số nhà phân tích mô tả giai đoạn sau năm 1945 như một trật tự thứ bậc do Mỹ dẫn đầu với các đặc tính tự do, trong đó Mỹ cung cấp hàng hóa công cộng (public goods) trong khi hoạt động trong một hệ thống lỏng lẻo bao gồm các quy tắc và thể chế đa phương vốn giúp các nước yếu hơn có tiếng nói. Họ chỉ ra rằng việc giữ gìn khuôn khổ thể chế này có thể là hợp lý đối với nhiều nước, ngay cả khi nguồn lực của Mỹ suy giảm. Theo đó, trật tự quốc tế do Mỹ dẫn đầu có thể tồn tại lâu hơn ưu thế về các nguồn lực của nó, dù nhiều người khác cho rằng sự xuất hiện của các cường quốc mới báo trước sự sụp đổ của trật tự này.

Tuy nhiên, khi nói đến kỷ nguyên của thứ được cho là bá quyền Mỹ, luôn có rất nhiều giả thuyết lẫn trong sự thật. Nó không hẳn là một trật tự toàn cầu mà giống một nhóm các quốc gia có cùng chí hướng, chủ yếu là ở châu Mỹ và Tây Âu, bao gồm chưa đến một nửa thế giới. Và ảnh hưởng của nó trên các nước không phải là thành viên – trong đó có cả những cường quốc như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và khối Xô-viết – không phải là luôn tốt đẹp. Do đó, vị thế của Mỹ trên thế giới có thể được gọi chính xác hơn là “bán bá quyền” (“half-hegemony”).

Tất nhiên, Mỹ đã duy trì sự thống trị kinh tế sau năm 1945: sự tàn phá của Thế chiến II tại nhiều quốc gia đồng nghĩa với việc Mỹ tạo nên gần một nửa GDP toàn cầu. Vị thế đó kéo dài cho đến năm 1970, khi tỷ trọng của Mỹ trong GDP toàn cầu giảm xuống mức trước chiến tranh, còn một phần tư. Nhưng từ quan điểm chính trị hay quân sự thì thế giới khi đó là lưỡng cực, với Liên Xô cân bằng quyền lực với Mỹ. Thật vậy, trong thời kỳ này, Mỹ thường không thể bảo vệ lợi ích của nó: Liên Xô có được vũ khí hạt nhân; chủ nghĩa cộng sản lên nắm quyền tại Trung Quốc, Cuba, và miền Bắc Việt Nam; chiến tranh Triều Tiên kết thúc trong bế tắc; và các cuộc khởi nghĩa tại Hungary và Tiệp Khắc bị đàn áp.

Trong bối cảnh này, “ưu thế” (primacy) có vẻ là từ mô tả chính xác hơn cho tỉ trọng vượt trội (và có thể đo lường được) của Mỹ về cả ba loại nguồn lực: quân sự, kinh tế, và quyền lực mềm. Câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu có phải thời kỳ ưu thế của Mỹ đang đi đến hồi kết thúc?

Do không thể tiên đoán về sự phát triển toàn cầu nên tất nhiên là không thể trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng. Sự gia tăng của các lực lượng xuyên quốc gia và các chủ thể phi nhà nước, chưa kể đến những cường quốc mới nổi như Trung Quốc, cho thấy có sự thay đổi lớn sắp diễn ra. Nhưng vẫn có lý do để tin rằng, ít nhất là trong nửa đầu thế kỷ này, Mỹ vẫn sẽ giữ được ưu thế của nó về các nguồn lực và tiếp tục đóng vai trò trung tâm trong cán cân quyền lực toàn cầu.

Tóm lại, trong khi kỷ nguyên ưu thế của Mỹ chưa kết thúc, nó sẽ thay đổi theo những cách quan trọng. Những thay đổi này liệu có giúp tăng cường an ninh và thịnh vượng toàn cầu hay không hiện vẫn còn chưa rõ.

Joseph S. Nye là cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ, và là giáo sư tại Đại học Harvard. Gần đây nhất, ông là tác giả của cuốn Presidential Leadership and the Creation of the American Era.

Nguồn: Joseph S. Nye, “American Hegemony or American Primacy?Project Syndicate

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/03/18/my-nam-ba-quyen-hay-chi-chiem-uu-the/#sthash.o1JAYUAO.dpuf

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Bao giờ Trung Quốc đuổi kịp Mỹ?

us_china_flags-100525862-primary.idge

Trung Quốc có những khó khăn nào khi đuổi và vượt Mỹ? Nhà quan sát kinh tế tài chính Trung Quốc Vương Doanh Doanh cho rằng khoảng cách lớn Trung Quốc thua kém Mỹ không chỉ thể hiện ở các số liệu thống kê kinh tế nhìn thấy được, cũng không ở quốc lực tổng hợp và sức mạnh quân sự đâu đâu cũng có thể cảm nhận thấy, mà thể hiện ở văn hóa chế độ — một yếu tố quan trọng hơn nhiều so với các số liệu kinh tế và quốc lực tổng hợp! Quan điểm này đáng được chú ý.

Tạp chí Time nổi tiếng của Mỹ trong một bài viết có tựa đề “Thế kỷ Trung Quốc” thậm chí còn nói sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc đã là một hiện thực, thế kỷ XXI chắc chắn là thế kỷ của Trung Quốc…. Không ít người Trung Quốc thấy thế mà vui mừng, kích động, nhảy cẫng lên reo hò… Nghiễm nhiên việc Trung Quốc vượt Mỹ là chuyện đang tới gần ngày một ngày hai, “Chắc chắn thế kỷ XXI là thế kỷ của Trung Quốc!”

Về vấn đề này, trước hết chúng ta hãy bình tâm phân tích xem xét phải chăng Trung Quốc đã có sức mạnh đuổi và vượt Mỹ hay chưa.

Đầu tiên xin nói về GDP

Hàm lượng vàng [gold content] của GDP Trung Quốc luôn luôn ở mức độ cực thấp. Nói như vậy không phải là Trung Quốc không có những xí nghiệp và công ty kiếm tiền rất giỏi. Mọi người đều biết: ngành bất động sản Trung Quốc kiếm tiền giỏi nhất trong các đồng nghiệp trên thế giới; các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc cũng kiếm tiền giỏi nhất trong ngành ngân hàng trên toàn cầu.

Ông Chu Quang Diệu, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trung Quốc, có nói tại Washington rằng về chất lượng tăng trưởng, Trung Quốc còn thua kém Mỹ một khoảng cách rất lớn. Trung Quốc vẫn là nước đang phát triển, còn phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách mở cửa để nâng cao chất lượng tăng trưởng, sao cho dân chúng được hưởng cuộc sống tốt hơn.

GDP bình quân đầu người của Trung Quốc bằng khoảng 6.629 USD, tương đương mức năm 1892 của người Mỹ, cũng tức là nói khoảng cách niên đại về GDP đầu người giữa Trung Quốc với Mỹ là vào khoảng 109 năm.

Nhìn từ phạm vi toàn cầu, kết quả so sánh GDP theo ngang giá sức mua hối đoái [tức sức mua tương đương, viết tắt PPP] thường có chênh lệch rất lớn với kết quả so sánh GDP theo cách sử dụng hối suất thị trường.

Vì vậy dùng phương thức ngang giá sức mua hối đoái để so sánh sự chênh lệch về mức sống thực tế của hai nước tuy có tính hợp lý nhất định, nhưng nếu dùng để so sánh quy mô thực tế nền kinh tế hai nước thì có tính dẫn dắt sai.

Giới học giả kinh tế hiện nay chưa có phương thức tính hoàn toàn nhất trí về cách so sánh GDP, cho dù là cách tính theo sức mua thì cũng có nhiều loại tiêu chuẩn, và tồn tại các khiếm khuyết như coi nhẹ hàng hóa phi mậu dịch. Về mặt này học giả các nước chưa có sự đồng thuận.

Thậm chí nhà kinh tế Derek Scissors của viện American Enterprise Institute còn cho rằng ở bất kỳ thời điểm nào, dùng sức mua ngang giá để so sánh GDP giữa các quốc gia với nhau đều không có ý nghĩa quá lớn.

Theo số liệu của IMF, nếu tính theo hối suất thực tế thì GDP năm 2014 của Mỹ là 17.400 tỷ USD, của Trung Quốc là 10.400 tỷ USD, chênh lệch giữa hai nước hãy còn khá lớn.

Có thể lấy sự phát triển của Nhật Bản để làm thí dụ phân tích khả năng này. Nhật là hàng xóm của Trung Quốc, nước này có rất ít tài nguyên thiên nhiên, mật độ dân số lại rất cao, thí dụ diện tích bình quân đất trồng trọt của người Nhật ít hơn người Trung Quốc, lại càng ít hơn người Mỹ — chỉ bằng 1/16. Năm 1950, GDP đầu người của Nhật là 112 USD, của Mỹ là 1582 USD, tức chỉ bằng 1/14 mức của Mỹ. Đến năm 1990, GDP đầu người của Nhật lên tới 24.713 USD, của Mỹ là 23.055 USD, Nhật đã vượt Mỹ 1658 USD. Nghĩa là Nhật chỉ dùng hơn 40 năm để đuổi kịp Mỹ.

Như vậy vào năm 1950, thua kém tương đối về kinh tế giữa Nhật với Mỹ là 14 lần. Năm 2002, thua kém tương đối về kinh tế giữa Trung Quốc với Mỹ là 35 lần, lớn hơn chỉ tiêu này giữa Nhật với Mỹ năm 1950 — lớn hơn 2,5 lần. Như vậy Trung Quốc muốn đuổi kịp Mỹ sẽ cần mất nhiều thời gian hơn, tính toán một cách đơn giản thì cần khoảng 100 năm.

Khoảng cách thua kém lớn về hàm lượng vàng của GDP giữa Trung Quốc với Mỹ thể hiện rõ ở sự chênh lệch lớn về lợi nhuận của các công ty Trung Quốc và Mỹ có tên trong bảng danh sách 500 công ty mạnh nhất toàn cầu [danh sách này xếp hạng theo doanh thu]:

Trong số 128 công ty Mỹ đứng trong danh sách 500 công ty mạnh nhất toàn cầu năm 2014, có 24 công ty thuộc vào danh sách 50 công ty có lãi nhất, với tổng lợi nhuận lên tới 798,7 tỷ USD, chiếm 40% tổng lợi nhuận của 500 công ty mạnh nhất toàn cầu.

Trong số 91 công ty Trung Quốc đứng trong danh sách 500 công ty mạnh nhất toàn cầu có tới 16 công ty thua lỗ nặng. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của 500 công ty mạnh nhất Trung Quốc chưa bằng một nửa tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của 500 công ty mạnh nhất nước Mỹ. Còn có một sự thật nghiêm trọng hơn: so với năm ngoái, lợi nhuận của các công ty Trung Quốc này xuất hiện xu thế tụt dốc, trong khi lợi nhuận của các công ty Mỹ lại có xu thế tiếp tục đi lên.

Xin nêu vài thí dụ rúng động lòng người như sau:

Công ty Apple năm 2014 có mức doanh thu xếp thứ 15 trong số 500 công ty mạnh nhất toàn cầu nhưng lợi nhuận của Apple lên đến 37 tỷ USD, lớn hơn cả tổng lợi nhuận của ba công ty Trung Quốc có thứ hạng cao trong danh sách 500 công ty mạnh nhất toàn cầu cộng lại, là Công ty Hóa dầu Trung Quốc [Sinopec Group] xếp thứ 3, Công ty Dầu mỏ Nhà nước Trung Quốc [China National Petroleum Corp., CNPC] thứ tư và Mạng Điện Quốc gia [State Grid Corp.] thứ 7.

Chỉ riêng một công ty Apple thì có ý nghĩa như thế nào đối với nước Mỹ? Số liệu của công ty J.P. Morgan cho thấy: quý IV năm ngoái Apple bán được 8 triệu chiếc điện thoại thông minh iPhone5, giả thử giá bán lẻ cũng bằng giá iPhone4S, tức 600 USD một chiếc, sau khi trừ đi 200 USD là tổng giá trị các chi tiết máy phải nhập khẩu, thì mỗi chiếc iPhone5 đóng góp được 400 USD cho GDP nước Mỹ. Riêng một quý IV thôi, những chiếc điện thoại di động iPhone kiểu mới này đã làm cho GDP nước Mỹ tăng thêm 3,2 tỷ USD, tính ra cả năm là 12,8 tỷ USD, tương đương với 0,33% tăng trưởng GDP. Dự tính tăng trưởng GDP của Mỹ năm 2014 là 2%. Điều đó có nghĩa là mỗi chiếc ĐTDĐ Apple đóng góp 1/6 lượng tăng GDP của nước Mỹ.

Xin thêm một thí dụ nữa là công ty dầu mỏ Exxon Mobil Corporation (Exxon), xếp thứ 5 trong danh sách 500 công ty mạnh nhất toàn cầu, có doanh thu 40,7 tỷ USD, lợi nhuận khoảng 3,2 tỷ USD.

Thế còn Công ty Dầu mỏ Nhà nước Trung Quốc CNPC xếp thứ tư trong số 500 công ty mạnh nhất toàn cầu thì sao? Doanh thu năm 2014 của CNPC là 43,2 tỷ USD, nhiều hơn Exxon 2,5 tỷ USD, thế nhưng lợi nhuận lại chỉ có 1,8 tỷ USD, kém Exxon những 1,4 tỷ! Cùng là công ty dầu mỏ thế mà chênh lệch về lợi nhuận lại lớn như vậy đấy.

Điều tồi tệ hơn nữa là: nhiều công ty Trung Quốc có mặt trong danh sách 500 công ty mạnh nhất thế giới và 500 công ty mạnh nhất Trung Quốc lại là những đại gia thua lỗ nặng trong trung hạn và dài hạn, hoặc trường kỳ sống nhờ trợ cấp của Chính phủ — điều này thể hiện đầy đủ trong “Bảng xếp hạng các vua hưởng trợ cấp”. Trang mạng people.china ngày 1/9/2014 có đăng bài dưới tựa đề “2030 công ty niêm yết được hưởng trợ cấp của nhà nước trong nửa đầu năm nay; trong đó Công ty Dầu mỏ nhà nước CNPC liên tục là “vua hưởng trợ cấp”. Bài báo cho biết: tính cho đến ngày 3/4 năm nay Trung Quốc cả thảy có 1934 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đã công bố báo cáo tình hình kinh doanh năm 2013, trong đó có 1350 công ty được nhà nước trợ cấp, chiếm tỷ lệ cao tới 70%. Tổng số tiền trợ cấp là 71,6 tỷ Nhân dân tệ (NDT). Trong đó Công ty Dầu mỏ nhà nước CNPC một lần nữa đứng đầu bảng với số tiền trợ cấp là 5,174 tỷ NDT, Công ty Hóa dầu Trung Quốc Sinopec Group được trợ cấp 790 triệu NDT, đứng thứ tư. Trong gần 10 năm nay, “Hai thùng dầu” này đã nhận được số tiền trợ cấp 125,883 tỷ NDT từ nhà nước Trung Quốc.

Có một hiện tượng đáng suy ngẫm: hầu hết các công ty Trung Quốc thua lỗ có tên trong danh sách 500 công ty mạnh toàn cầu và danh sách 500 công ty mạnh của Trung Quốc đều là công ty quốc doanh. Hầu hết các “Vua trợ cấp” trường kỳ sống dựa vào trợ cấp của nhà nước đều là công ty nhà nước. Thí dụ trong 10 công ty được trợ cấp nhiều nhất năm 2013 có 7 công ty quốc doanh.

“Bảng xếp hạng 500 công ty thua lỗ nhất thế giới”, “ Bảng xếp hạng 500 công ty thua lỗ nhất Trung Quốc” và  ”Bảng xếp hạng các vua hưởng trợ cấp” trên thực tế đã trở thành hình ảnh thu nhỏ hàm lượng vàng GDP Trung Quốc và tình trạng phát triển kinh tế Trung Quốc.

Bây giờ hãy xét về lĩnh vực quân sự

Khoảng cách thua kém về quân sự giữa Trung Quốc với Mỹ cũng rất lớn. Năm thứ hai sau khi thành lập nước CHND Trung Hoa, tức năm 1950, chúng ta đã đưa quân sang Triều Tiên đọ sức với quân đội Mỹ, giành được chiến quả ngang nhau, làm cả thế giới rúng động. Một số người nước ta thường căn cứ vào chuyện đó để cho rằng nếu trong chiến tranh Chống Mỹ giúp Triều, Trung Quốc đã có thể chống được Mỹ thì so sánh lực lượng hiện nay càng có lợi cho chúng ta. Thực ra đó là sự hiểu lầm do chưa nắm được lịch sử phát triển khoa học kỹ thuật quân sự.

Đầu thập niên 1990, các trang bị chiến đấu chủ yếu của Trung Quốc như tên lửa, máy bay, xe tăng, pháo chỉ tương đương trình độ thập niên 50 của Mỹ. Sau thập niên 90, Trung Quốc có nhập khẩu một số trang bị chiến đấu tiêu biểu cho trình độ những năm 80 của Liên Xô, như máy bay Su-27, tàu ngầm Kilo, tên lửa phòng không S-300, và trong vài năm chúng ta đã tiêu hóa, hấp thu được các kỹ thuật đó, trình độ trang bị được nâng cao đáng kể.

Trong những năm gần đây tính năng trang bị vũ khí thông thường của Trung Quốc về tổng thể đã vượt trình độ của Liên Xô trước ngày tan rã, một số ít trang bị còn vượt xa, thế nhưng về lĩnh vực động cơ máy bay và máy bay lớn thì còn chưa bằng trình độ thời kỳ cuối của Liên Xô, lại càng khó có thể sánh được với trình độ hiện đại của Mỹ.

Trong thập niên 90 thế kỷ XX, chi phí quân sự hàng năm của Mỹ bình quân lên tới hơn 200 tỷ USD, trong đó có hàng chục tỷ chi cho phát triển kỹ thuật quân sự. Còn Trung Quốc mãi cho tới thế kỷ XXI, cùng với sự tăng cường sức mạnh kinh tế, chúng ta mới nâng cao khá lớn đầu tư vào quốc phòng.

Năm 2011, kinh phí quốc phòng được Trung Quốc công bố là 610 tỷ NDT, tương đương gần 100 tỷ USD, nhưng vẫn chưa bằng 1/6 của Mỹ; kinh phí nghiên cứu khoa học kỹ thuật lại càng ít hơn, không thể so được.

Giáo sư Từ Diệm ở Đại học Quốc phòng Trung Quốc có viết bài cho rằng những năm gần đây tác phong nông nổi rất thịnh hành trong xã hội Trung Quốc, khiến cho một số người trẻ dễ bị xúi bẩy, hình thành tâm trạng quá khích. Vì thế càng cần thiết bình tâm, khách quan nói rõ thực lực kinh tế, quân sự của Trung Quốc.

Tiếp tục xem xét các ngành công nghiệp

Qua phân tích chi tiết, có thể thấy ưu thế về mặt sản lượng của Trung Quốc chủ yếu là trong các ngành kỹ thuật thấp còn phương Tây với Mỹ vẫn dẫn dắt các ngành kỹ thuật cao.

Hãy xem sản xuất công nghiệp của Trung Quốc, chip máy tính và hệ điều hành chủ yếu nhập từ Mỹ, động cơ cấp cao nhập từ Nga, vật liệu tổng hợp và công nghệ số chủ yếu nhập từ Nhật. Điều đó cho thấy trên các lĩnh vực vi điện tử, vật liệu quang điện mới, cơ sở công nghiệp hàng không, Trung Quốc vẫn còn yếu kém, chỉ riêng ngành thăm dò vũ trụ là có thể đạt mức tiên tiến thế giới, nhưng vẫn còn kém Mỹ một khoảng cách khá lớn.

Quân đội hiện đại là một đoàn thể có mật độ tập hợp cao các ngành khoa học kỹ thuật. Năng lực nghiên cứu khoa học quốc phòng và trình độ nền công nghiệp của một nước sẽ quyết định trình độ trang bị, cuối cùng quyết định sức mạnh quân sự của nước đó.

Những năm gần đây lực lượng nghiên cứu khoa học của Trung Quốc được phát triển rất nhanh. Năm 2011 phi thuyền Thần Châu lắp ghép thành công với trạm Thiên Cung, có thể nhanh chóng xây dựng được trạm vũ trụ, nhưng về tổng thể cũng chỉ tương đương trình độ thập niên 1980 của Mỹ và Liên Xô.

Về thị trường chứng khoán

Cách đây không lâu, công ty Alibaba [của Trung Quốc] niêm yết thành công trên thị trường chứng khoán New York [phát hành cổ phiếu bằng dollar Mỹ tại Sở Giao dịch chứng khoán New York, kết quả đạt mức vốn hóa bằng 231 tỷ USD]. Tin này làm cho không ít đồng nghiệp trong nước giận dữ bầm gan tím ruột, dư luận Trung Quốc lên án vì sao thị trường chứng khoán A [A stock market, tức thị trường cổ phiếu phát hành bằng đồng Nhân dân tệ] của Trung Quốc không giữ chân được Alibaba.

Một số người trong ngành cho rằng nếu Alibaba đã có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ thì họ đủ sức niêm yết trên thị trường chứng khoán A mà hoàn toàn không xem xét khoảng cách chênh lệch giữa hai thị trường Mỹ và Trung Quốc.

Việc thị trường chứng khoán Mỹ có thể kết nạp Alibaba chẳng những được quyết định bởi cơ chế IPO của họ mà còn bởi môi trường toàn bộ thị trường, trong đó bao gồm các biện pháp giám sát quản lý thị trường nghiêm ngặt. Còn thị trường chứng khoán A về mặt này lại không thể so đọ được với thị trường chứng khoán Mỹ; thị trường chứng khoán A của chúng ta lạc hậu trên tất cả các mặt.

Điều đáng chú ý là Trung Quốc đang tiến hành một cuộc cải cách có tính lịch sử nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế “có tiếng mà không có miếng”, như tiến hành đơn giản hóa bộ máy, phân quyền xuống cấp dưới, cải cách đầu tư, cải cách chế độ thuế v.v… những biện pháp này đang cởi trói cho nền kinh tế thị trường lâu nay chịu nhiều trói buộc. Nền kinh tế Trung Quốc đang tìm kiếm động lực phát triển mới.

Thế nhưng khoảng cách lớn thua kém Mỹ không chỉ thể hiện trên các số liệu thống kê kinh tế nhìn thấy được, cũng không thể hiện trên mặt quốc lực tổng hợp và sức mạnh quân sự có thể cảm nhận thấy ở khắp nơi, mà sự thua kém đó thể hiện trên mặt văn hóa chế độ, một lĩnh vực quan trọng hơn so với các số liệu kinh tế và quốc lực tổng hợp!

Toàn thế giới đều công nhận nước Mỹ lớn mạnh. Nhưng cái lớn mạnh nhất của nước Mỹ không phải ở chỗ họ có hoàn cảnh địa lý rộng bao la và tài nguyên giàu có được thiên nhiên ưu đãi, cũng không phải ở chỗ họ có nhiều tàu sân bay hạt nhân, tàu ngầm hạt nhân, tên lửa vượt đại châu và lực lượng quân đội mạnh nhất thế giới.

Cái lớn mạnh ấy cũng không phải là ở chỗ họ có nhiều thương hiệu nổi tiếng toàn cầu như Boeing, Apple, Microsoft, Cisco, Oracle, Intel, Pfizer, JP Morgan, IBM, Chevron, Nike, Hollywood, Disneyland, NBA, Coca-Cola, Pepsi, McDonald’s, KFC v.v…mà là ở chỗ họ có một cơ chế tự sửa sai vững mạnh do các bậc khai quốc tiên hiền thiết kế; là ở chỗ họ có một môi trường nhân văn tốt đẹp có thể làm cho tài hoa của những thiên tài vĩ đại như Edison, Bill Gates, Steve Jobs và nhiều chủ nhân giải Nobel có thể được phát huy hết mức, có thể khiến cho các nhân tài tinh hoa toàn thế giới đổ xô vào nước họ, có thể cho ra đời những thương hiệu vĩ đại khiến cho một quốc gia chỉ chiếm 5% số dân thế giới mà sở hữu gần 45% sức sản xuất kinh tế và 40% sản phẩm khoa học và công nghệ cao của toàn cầu!

Từ những lý lẽ nói trên có thể không khó tưởng tượng được rằng khoảng cách Trung Quốc thua kém Mỹ đâu chỉ có vài chục năm!

Nguyễn Hải Hoành  lược dịch và ghi chú.

Nguồn: 中美差距到底有多大 中国赶超美国究竟有多难作者:中国财经观察人士 王盈盈

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/04/22/bao-gio-trung-quoc-duoi-kip-my/#sthash.7PFXZr9Q.dpuf

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Trung Quốc và “Mô hình Singapore”

lee-kuan-yew-and-deng

Sự ra đi của Lý Quang Diệu, người cha lập quốc của Singapore, là một dịp để chúng ta suy nghĩ về di sản của ông – và có lẽ quan trọng hơn, để nhìn nhận xem liệu chúng ta đã hiểu đúng về di sản đó hay chưa.Trong thời gian 31 năm làm thủ tướng, ông Lý đã tạo nên một bộ máy chính quyền độc nhất, cân bằng một cách tinh tế giữa chế độ chuyên chế với dân chủ và giữa chủ nghĩa tư bản nhà nước với thị trường tự do. Cách thức quản trị của ông Lý, được biết đến với tên gọi “Mô hình Singapore,” thường hay bị miêu tả sai thành hình ảnh một chế độ độc đảng độc tài đứng trên một nền kinh tế thị trường tự do.

Sự thành công của ông trong việc biến Singapore thành một quốc gia – thành phố thịnh vượng thường xuyên được những nhà cai trị độc tài viện dẫn để biện minh cho sự kiểm soát chặt chẽ xã hội của mình – và các nhà cầm quyền Trung Quốc chính là những người viện dẫn nhiều nhất.

Thật vậy, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang theo đuổi một chương trình nghị sự cải cách chịu ảnh hưởng lớn từ Mô hình Singapore – đó là một cuộc chiến triệt để chống lại tham nhũng, một cuộc đàn áp những người bất đồng chính kiến trên diện rộng, và cải cách nền kinh tế thị trường. Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ – CCP) nhìn thấy ở Singapore viễn cảnh tương lai của mình: thế độc quyền về quyền lực chính trị tồn tại vĩnh viễn trong một xã hội tư bản thịnh vượng.

Nhưng Mô hình Singapore theo cách hiểu của các nhà cầm quyền Trung Quốc không bao giờ tồn tại. Để áp dụng theo mô hình chính phủ của ông Lý (chứ không phải những bức hoạt hình biếm họa), ĐCSTQ buộc phải có một hệ thống dân chủ hơn rất nhiều mức độ mà Đảng này chịu chấp nhận.

Bí mật thực sự của thiên tài chính trị Lý Quang Diệu không nằm ở việc áp dụng thuần thục các hành động đàn áp, chẳng hạn như tiến hành các vụ kiện chống lại truyền thông hoặc các đối thủ chính trị của mình; những chiến thuật kiểu này rất phổ biến và không đáng kể trong các chế độ bán chuyên chế. Điều mang tính cách mạng thực sự mà ông Lý đã làm là việc sử dụng thể chế dân chủ và pháp quyền để kiềm chế sự tham lam của giới tinh hoa cầm quyền ở đất nước mình.

Không giống Trung Quốc, Singapore cho phép các đảng đối lập tham gia các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh và tự do (mặc dù không nhất thiết phải công bằng). Trong cuộc bầu cử quốc hội gần đây nhất vào năm 2011, sáu đảng đối lập đã giành tổng cộng 40% số phiếu bầu. Nếu Đảng Hành động Nhân dân (PAP), đảng do Lý Quang Diệu thành lập, mất tính chính đáng của mình do quản trị kém, cử tri Singapore có thể phế ngôi đảng này.

Bằng cách tổ chức các cuộc bầu cử cạnh tranh thường xuyên, Lý Quang Diệu trên thực tế đã thành lập một cơ chế chính trị tự thực thi và có trách nhiệm giải trình – ông đã trao cho cử tri Singapore quyền quyết định liệu Đảng PAP có được nắm quyền hay không. Cơ chế tự thực thi này đã duy trì kỷ luật trong giới tinh hoa cầm quyền của Singapore và khiến những lời hứa của họ trở nên đáng tin cậy.

Đáng tiếc thay, hầu hết phần còn lại của thế giới chưa bao giờ ghi nhận một cách thích đáng những đóng góp của Lý Quang Diệu trong việc tạo dựng một hệ thống “lai” kết hợp cả chế độ chuyên chế và chế độ dân chủ, giúp cải thiện đáng kể mức sống của công dân nước mình mà không đẩy họ vào cảnh tàn bạo và áp bức như nhiều nước láng giềng của Singapore đã làm.

Sẽ là khôn ngoan nếu Trung Quốc nắm bắt mô hình này, bằng cách thực thi một mức độ dân chủ đáng kể và tăng cường tuân thủ nền pháp quyền. 1,4 tỷ dân Trung Quốc sẽ được hưởng lợi lớn nếu các nhà cầm quyền áp dụng các thể chế và thực tiễn chính trị theo phong cách Singapore. Điều này đồng nghĩa với việc Trung Quốc tối thiểu phải hợp thức hóa các tổ chức chính trị đối lập, tiến hành đều đặn các cuộc bầu cử cạnh tranh, và tạo ra một nền tư pháp độc lập.

Học theo Lý Quang Diệu sẽ giúp Trung Quốc đạt được những tiến bộ to lớn và trở thành một xã hội nhân đạo và cởi mở hơn, với một tương lai tươi sáng hơn. Đáng buồn thay, hầu như không có cơ hội để điều này xảy ra, ít nhất là trong tương lai gần. Khi các nhà lãnh đạo của Trung Quốc trích dẫn Mô hình Singapore, những gì họ nghĩ tới chỉ là tìm cách trường tồn hóa quyền lực của mình. Họ muốn đạt được những lợi ích từ sự thống trị chính trị mà không chịu sự giám sát từ một môi trường thể chế cạnh tranh.

Ông Lý có thể đã hoài nghi về những lợi ích của dân chủ, nhưng ông không hề chống đối dân chủ; ông hiểu tính hữu dụng của nó. Ngược lại, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc xem nền dân chủ như là một mối đe dọa hiện hữu về ý thức hệ phải được vô hiệu hóa bằng bất cứ giá nào. Đối với họ, dù chỉ một chút dân chủ được sử dụng như một phương tiện để áp đặt kỷ luật trên giới tinh hoa cũng được coi là tự sát.

Thật không may, Lý Quang Diệu đã không còn sống với chúng ta nữa. Người ta muốn tưởng tượng cảnh ông sẽ giải thích với các nhà lãnh đạo Trung Quốc về điều gì mới thực sự mang tính sáng tạo trong Mô hình Singapore. Rõ ràng đó không phải là một lựa chọn. Nhưng nó sẽ giúp nhắc nhở ĐCSTQ phải có trách nhiệm dừng ngay việc lợi dụng thương hiệu Singapore nhằm phục vụ cho một chương trình nghị sự hoàn toàn khác biệt – ít nhất vì sự tôn trọng một trong những chính khách vĩ đại của Châu Á.

Minxin Pei là Giáo sư về Quản trị Chính quyền tại Trường Đại học Claremont McKenna và là nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại German Marshall Fund of the US.

Nguồn: Minxin Pei, “The Real Singapore Model”, Project Syndicate, 26/03/2015.

Nguyễn Thị Kim Phụng

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Lý Quang Diệu viết về những ngày cuối đời

LeeKuanYew

Trình tự công việc hằng ngày của tôi đã được định sẵn. Tôi thức dậy, kiểm tra email, đọc tin tức, tập thể dục và ăn trưa. Sau đó, tôi đến văn phòng tại Instana, kiểm tra các văn bản và viết các bài báo hoặc bài phát biểu. Vào buổi chiều hoặc tối, tôi thỉnh thoảng có lịch phỏng vấn với các nhà báo, sau đó tôi có thể dành một hoặc hai giờ học tiếng Hoa.Tôi tập thể dục như một thói quen hằng ngày. Ở tuổi 89, tôi có thể đứng lên mà không cần đến gậy đỡ. Khi tôi còn ở độ tuổi 30, tôi thích hút thuốc và uống bia. Tôi bỏ thuốc lá vì nó đã làm tôi mất giọng trong các chiến dịch tranh cử. Việc này xảy ra trước khi có những nghiên cứu y tế về việc hút thuốc có thể dẫn đến ung thư phổi và cổ họng. Kỳ lạ hơn, sau đó tôi trở nên dị ứng với thuốc lá.

Việc uống bia nhiều khiến tôi có “bụng bia” và nó đã được chụp trong những bức ảnh trên báo chí. Tôi đã bắt đầu chơi golf nhiều hơn để giữ thân hình, nhưng sau đó phải chuyển sang việc chạy bộ và đi bơi, những hoạt động này tốn ít thời gian hơn để đạt được cùng khối lượng luyện tập thể dục. Hiện tại, tôi đi bộ trên máy tập 3 lần mỗi ngày: 12 phút buổi sáng, 15 phút sau giờ trưa và 15 phút sau buổi tối. Trước buổi tối, tôi từng bơi 20 đến 25 phút. Nếu không có nó, tôi không thể có được sức khỏe tốt như hiện nay. Đó là một quy tắc.

Tôi tiếp tục có hẹn gặp những người khác. Bạn phải gặp gỡ người khác vì bạn bắt buộc phải có quan hệ xã hội nếu như bạn muốn mở rộng quan điểm của mình. Bên cạnh người Singapore, tôi gặp cả người từ Malaysia, Indonesia và rất nhiều lần, người Trung Quốc, Châu Âu và người Mỹ. Tôi cố gắng không chỉ gặp những bạn cũ và các chính trị gia hàng đầu mà còn những người từ nhiều lĩnh vực khác nhau như các học giả, người kinh doanh, nhà báo và cả những người bình thường.

Tôi hạn chế nhiều những chuyến bay xa bởi vì hiện tượng chênh lệch múi giờ, đặc biệt là khi tôi đến thăm Mỹ. Cho đến năm 2012, tôi vẫn đến Nhật mỗi năm một lần để nói chuyện tại Hội thảo Tương lai Châu Á- hiện tại là lần thứ 19, được tổ chức bởi tập đoàn truyền thông Nhật Bản Nihon Keizai Shimbun (Nikkei). Có khoảng thời gian, tôi đến thăm Trung Quốc gần như mỗi năm một lần, mặc dù hiện tại tôi không thích đến Bắc Kinh vì sự ô nhiễm ở đấy. Nhưng các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) ở đó nên bạn vẫn phải đến đó để gặp họ. Hội đồng Quốc tế JP Morgan, nơi tôi là một thành viên, đã vinh danh tôi khi tổ chức cuộc gặp thường niên năm 2012 tại Singapore, và Hội đồng Cố vấn của hãng Total cũng vậy. Đi Pháp thì không có vấn đề gì. Mất 12 tiếng bay thẳng trên chiếc Airbus 380, tới đó rồi về. Nhưng đến Mỹ thì mệt mỏi hơn rất nhiều, đặc biệt là vì thay đổi múi giờ, từ ngày trở thành đêm và ngược lại. Đi ra nước ngoài giúp tôi mở mang tầm nhìn. Tôi thấy được cách thức những nước khác phát triển. Không một nước hay thành phố nào đứng yên, tôi đã chứng kiến London và Paris thay đổi, hết lần này qua lần khác.

Rời khỏi chính trường tức là tôi không còn được biết rõ như trước về những việc đang diễn ra và những áp lực phải thay đổi. Vì thế nhìn chung tôi đồng thuận theo quyết định của các bộ trưởng. Tôi hiếm khi bày tỏ những quan điểm trái ngược, ít ra là hiếm khi hơn so với khi tôi còn làm việc trong chính phủ và tham dự các cuộc họp nội các, điều giúp tôi có thể tham gia đầy đủ vào các cuộc tranh luận.

Thỉnh thoảng, khi tôi nhất quyết không đồng ý với việc gì đó, tôi bày tỏ quan điểm với Thủ tướng. Một ví dụ là khi chính phủ định giới thiệu lại các chương trình bằng tiếng địa phương Trung Quốc trên các kênh truyền hình miễn phí. Một ý kiến đã được đưa ra: “Hiện tại tiếng Quan thoại đã được thiết lập vững chắc trong người dân rồi, bây giờ chúng ta hãy quay lại tiếng địa phương để những người già có thể thưởng thức các phim truyền hình.” Tôi đã phản đối, chỉ ra rằng khi còn là thủ tướng, tôi đã phải trả một cái giá rất đắt để xóa bỏ các chương trình tiếng địa phương, để khuyến khích mọi người nói tiếng Quan thoại. Vì vậy tại sao giờ phải quay ngược lại? Tôi đã làm cả một thế hệ người gốc Hoa nổi giận, vì các chương trình tiếng địa phương yêu thích của họ đã bị cắt bỏ. Đã từng có một người kể chuyện rất hay tên là Lee Dai Sor trên kênh Rediffusion, và chúng tôi đã phải cắt bỏ chương trình này. Tại sao giờ tôi lại phải đồng ý để tiếng Quảng Đông và Phúc Kiến xâm nhập vào thế hệ tiếp theo? Nếu bạn để chúng quay lại, bạn sẽ thấy nhiều người lớn tuổi bắt đầu nói chuyện với con cháu bằng tiếng địa phương. Điều đó sẽ quay trở lại, chậm rãi nhưng chắc chắn.

Mỗi đất nước cần một thứ ngôn ngữ mà tất cả mọi người đều có thể hiểu được. Việc tích hợp bốn loại ngôn ngữ lại với nhau sau khi người Anh ra đi đã từng là một nhiệm vụ khó khăn của chúng ta. Những trường học của người Hoa, nơi mà phần lớn những học sinh gốc Hoa theo học, tự hào về ngôn ngữ của họ, đặc biệt sau khi có sự trỗi dậy của Trung Quốc Cộng sản năm 1949. Tôi phải đấu tranh rất nhiều để biến Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung cho tất cả các trường học và tiếng mẹ đẻ trở thành ngôn ngữ thứ hai. Những nhà sô-vanh ủng hộ tiếng Hoa đã chống lại chính sách này rất gay gắt. Những nhà báo và trường học của người Hoa muốn tăng số học sinh và độc giả của họ. Vì sự kiểm soát của tôi đối với người Hoa lúc đó chưa đủ, nên bộ trưởng báo chí của tôi lúc đó là Li Vei Chen đã phải kiểm soát khắt khe các tòa báo tiếng Hoa, các trường trung học tiếng Hoa cũng như trường Đại học Nanyang cùng nhân viên của họ để hạn chế và ngăn chặn biểu tình, đình công và lãn công.

Cuối cùng thì chính giá trị thị trường của nền giáo dục bằng tiếng Anh đã giải quyết được vấn đề. Vì thế, chúng ta có Singapore ngày nay, với việc tiếng Anh kết nối chúng ta với thế giới và thu hút những tập đoàn đa quốc gia, và tiếng mẹ đẻ được xem như là ngôn ngữ thứ hai, giúp chúng ta có sự gắn kết với Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Đó từng là một bước đột phá vượt bậc. Nếu người dân chọn con đường khác, Singapore đã bị đẩy lùi lại.

Vì những lý do tình cảm và thực tiễn trong giao thương với Trung Quốc, chúng ta cần tiếng Hoa như là ngôn ngữ thứ hai. Nhưng chúng ta chắc chắn không cần các tiếng địa phương. Việc đảo ngược quá trình gỡ bỏ tiếng địa phương ra khỏi các phương tiện truyền thông đại chúng – điều mà chúng ta đã phải mất rất nhiều thời gian, năng lượng và nguồn vốn chính trị đạt được – sẽ là một điều hết sức ngớ ngẩn.

***

Cuộc sống tốt hơn là cái chết. Nhưng cái chết cuối cùng cũng đến với tất cả mọi người. Đó là thứ mà ở tuổi thanh xuân con người không nghĩ đến. Nhưng ở tuổi 89, tôi thấy lãng tránh vấn đề này là vô ích. Việc tôi quan tâm đó là: Tôi sẽ ra đi như thế nào? Sự kết thúc có đến nhanh chóng không, bằng một cơn đột quỵ ở một trong số các động mạch vành? Hay sẽ là một cơn đột quỵ trong não khiến tôi nằm liệt trên giường bệnh nhiều tháng, trong trạng thái bán hôn mê? Trong số 2 cách đó, tôi thích cách nhanh chóng hơn.

Một thời gian trước đây, tôi đã cho soạn một bản hướng dẫn điều trị y tế cao cấp. Bản hướng nói rằng nếu tôi phải được cho ăn bằng đường ống và không thể hồi phục và ngồi dậy, bác sỹ của tôi sẽ phải tháo ống tube và cho tôi ra đi sớm. Tôi đã để tờ hướng dẫn được ký bởi một người bạn làm luật sư và một bác sĩ.

Nếu bạn không kí một tờ hướng dẫn như vậy, người ta sẽ làm mọi việc có thể để ngăn chặn điều chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi đã chứng kiến điều này trong nhiều trường hợp khác. Anh rể của vợ tôi, Yong Nyuk Lin, phải đeo ống. Ông ấy ở nhà, và vợ ông ấy cũng nằm liệt giường, trong thân hình tàn tạ. Tâm trí ông ấy đã trở nên vô thức. Hiện tại ông ấy đã chết. Nhưng họ giữ ông ấy như thế trong một vài năm. Làm vậy để làm gì? Thường thì các bác sỹ và người thân của bệnh nhân tin rằng họ nên kéo dài cuộc sống, nhưng tôi thì không đồng ý. Mọi thứ đều đến lúc phải kết thúc và tôi muốn nó xảy ra với tôi càng nhanh và càng ít đau đớn càng tốt, chứ không phải để tôi nằm bất động bán hôn mê trên giường bệnh với một cái ống dịch chuyền thức ăn xuống dạ dày. Trong những trường hợp ấy, người ta chỉ còn là một cái xác mà thôi.

Tôi không thích tự gắn ý nghĩa cho cuộc sống – hoặc nghĩ ra những câu chuyện lớn lao về cuộc đời – mà chỉ tìm cách đo lường nó bằng những gì bạn nghĩ bạn muốn làm trong cuộc sống. Đối với tôi, tôi đã hoàn thành những việc tôi muốn làm, trong khả năng lớn nhất của tôi và tôi hài lòng với việc đó.

Những xã hội khác nhau có những quan điểm triết học khác nhau về cuộc sống hiện tại và kiếp sau. Nếu bạn đến nước Mỹ, bạn sẽ tìm thấy những người theo đạo Thiên chúa nhiệt thành, đặc biệt là trong nhóm người bảo thủ ở vùng Vành đai Kinh Thánh (Bible Belt) chiếm phần lớn miền Nam nước Mỹ. Ở Trung Quốc, mặc dù qua nhiều thập kỷ truyền bá chủ nghĩa Mác và tư tưởng Mao, việc thờ cúng tổ tiên và những phong tục tín ngưỡng khác dựa trên đạo Phật và Đạo Giáo vẫn còn phổ biến. Ở Ấn Độ, niềm tin vào kiếp luân hồi vẫn tồn tại rộng rãi.

Tôi không phải là người theo thuyết vô thần. Tôi không công nhận cũng không phủ nhận việc Chúa tồn tại. Vũ trụ được cho rằng sinh ra từ vụ nổ Big Bang. Nhưng những con người trên thế giới này đã phát triển hơn 20.000 năm qua, trở thành những sinh vật biết suy nghĩ, và có thể có cái nhìn vượt ra ngoài bản thân và khám phá về bản thân. Đó là kết quả của thuyết Tiến hóa Darwin hay đó là do Chúa? Tôi cũng không biết nữa. Do đó tôi không cười nhạo những người tin vào Chúa. Nhưng tôi không nhất thiết phải tin vào Chúa – hay phủ nhận rằng Chúa tồn tại.

Tôi đã có một người bạn rất thân, Hon Sui Sen, một tín đồ Công giáo La mã ngoan đạo. Khi ông ấy gần mất, các linh mục đã ở bên cạnh ông ấy. Ở tuổi 68, ông ấy khá trẻ để ra đi nhưng ông ấy hoàn toàn không tỏ ra sợ hãi. Là người Công giáo La mã, ông ấy tin rằng ông sẽ gặp lại vợ mình vào kiếp sau. Tôi ước rằng tôi cũng có thể gặp lại vợ mình ở kiếp sau nhưng tôi thực sự không tin vào điều đó. Tôi chỉ không còn tồn tại tương tự như bà ấy không còn tồn tại nữa – chứ nếu không thế giới bên kia sẽ bị quá tải dân số. Thiên đường có phải đủ rộng lớn và không có giới hạn để luôn đủ chỗ cho tất cả mọi người trên thế giới trong hàng ngàn năm qua không? Tôi rất nghi ngờ về điều đó. Nhưng Sui Sen đã tin vào điều đó và nó đã mang lại cho ông ấy sự bình yên nhất định trong tư tưởng khi ông ấy vượt qua những thời khắc cuối cùng bên cạnh các linh mục. Vợ ông ấy, người đã mất vào tháng 11 năm 2012, đã tin rằng họ sẽ gặp lại nhau lần nữa.

Những người xung quanh từng khuyên tôi, rằng tôi sớm muộn gì cũng như thế, đã không còn làm như vậy nữa bởi vì họ biết rằng điều đó vô ích. Vợ tôi có một người bạn thời đi học, cô ta rất sùng đạo và đã không ngừng cố gắng truyền đạo cho vợ tôi. Nhưng cuối cùng, vợ tôi đã tránh xa khỏi người bạn đó và nói rằng: “Thật vô lý. Mỗi lần gặp mặt cô ta đều muốn tôi trở thành một người theo đạo Thiên chúa.” Vợ tôi không tin vào kiếp sau, mặc dù đúng là sẽ thoải mái hơn nếu bạn tin vào kiếp sau dù nó không thực sự tồn tại.

Cứ mỗi ngày trôi qua tôi cảm thấy thể xác mình mất thêm năng lượng và ngày càng ít năng động hơn. Nếu bạn muốn tôi ra ngoài khi nắng nóng lúc hai giờ trưa để gặp gỡ người khác, bắt tay và ôm hôn các em bé, tôi sẽ không thể làm được nữa. Tôi có thể làm như vậy 20, 30 năm trước, nhưng giờ thì không thể. Bạn chấp nhận cuộc sống khi nó tới, với sự già đi của thể xác qua thời gian. Thỉnh thoảng người thư ký của tôi nhìn thấy tôi nghỉ ngơi trong phòng làm việc và hỏi tôi có cần hoãn cuộc gặp tiếp theo hay không. Tôi thỉnh thoảng vẫn nói: “Không, hãy để nó tiếp tục”. Tôi cần 15 phút chợp mắt để đầu óc sau đó có thể hoàn toàn tập trung được. Nhưng nếu tôi không thể, tôi sẽ nói rằng: “Được, hoãn lại đi. Để tôi ngủ một lát”. Bạn không thể dự đoán được cơ thể bạn sẽ trở nên như thế nào. Dù tôi có mạnh mẽ và kỉ luật tới đâu, tình trạng của tôi vẫn sẽ tiếp tục xuống dốc.

Cuối cùng, sự hài lòng lớn nhất của tôi đối với cuộc đời đến từ thực tế rằng tôi đã dành nhiều năm tập hợp sự hỗ trợ, ý chí để biến đất nước này thành một nơi nhân tài được trọng dụng, sạch bóng tham nhũng và bình đẳng cho mọi sắc tộc. Điều đó sẽ tiếp tục tồn tại sau khi tôi ra đi. Nó không giống như khi tôi mới nhậm chức. Chính phủ Lim Yew Hock lúc đó đã tham nhũng rồi. Những người Singapore trẻ tuổi có thể sẽ không biết đến cái tên Mak Pak Shee, một thành viên của chính phủ đó. Ông ấy là một người lai Ấn Độ và Quảng Đông với một bộ ria mép, và được gọi người “dàn xếp” – tức giúp hoàn thành các ưu đãi để đổi lấy một khoản phí.

Singapore như hiện tại là một địa chỉ sạch bóng tham nhũng trong một khu vực mà nạn tham nhũng rất phổ biến. Các thể chế đã được lập ra để giữ cho nó như vậy, ví dụ như văn phòng chống tham nhũng. Mọi người thăng tiến dựa trên năng lực của họ chứ không phải sắc tộc, ngôn ngữ hay tín ngưỡng của họ. Nếu chúng ta giữ vững được những thể chế này, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bộ. Đó là hi vọng lớn nhất của tôi.

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Personal Life: Choosing when to Go”, in L.K Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 294-301.

Biên dịch: Nguyễn Tiến Chương

Đây là phần cuối cùng trong cuốn One Man’s View of the World

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Nước Mỹ và các liên minh vì hòa bình

John Kerry waves after delivering speech in Tokyo

Nguồn: John Kerry, “Alliances for Peace”, Project Syndicate

 

Tôi lớn lên trong bóng tối của Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, và vào lúc bình minh của Chiến tranh Lạnh.

Công việc làm viên chức ngoại giao của cha tôi đã cho tôi một cơ hội để chứng kiến lịch sử một cách sát sao: Tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh dạo chơi cùng ông trên các bãi biển vùng Normandy và quan sát xác những con tàu (đổ bộ) Higgins bị cháy rụi vẫn còn nằm trên những bờ biển đó, mới chỉ vài năm sau khi rất nhiều thanh niên đã ngã xuống để thế giới được tự do. Cũng như vậy, tôi sẽ không bao giờ quên được cảm giác rờn rợn khi đạp xe qua cổng Brandenburg từ khu Tây vào khu Đông Berlin, và thấy được sự tương phản giữa những người tự do và những người bị mắc lại phía sau Bức màn Sắt.

Điều gây ấn tượng cho tôi bây giờ, sau từng ấy năm, là ở chỗ một thế hệ lãnh đạo đã không chỉ giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh, mà còn giành được hòa bình. Họ đã làm việc đó cùng với nhau. Hoa Kỳ và các đối tác của chúng ta đã cùng nhau tạo ra các  liên minh đem lại sự thịnh vượng và ổn định cho Tây Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các kẻ thù trước đây đã trở thành các đồng minh mới, và cùng nhau dẫn đầu một hệ thống kinh tế toàn cầu mới làm thế giới thịnh vượng hơn. Và thậm chí khi Chiến tranh Lạnh nổ ra, các nhà lãnh đạo đã tìm cách để hợp tác trong vấn đề kiểm soát vũ khí và ngăn ngừa một thảm họa Armageddon hạt nhân.[1]

Tóm lại, bằng cách xây dựng các thể chế quốc tế và các quan hệ đối tác chiến lược có hiệu quả và không thể thiếu, chúng ta không những tránh được một cuộc chiến tranh thế giới khủng khiếp khác; mà cuối cùng chúng ta còn chấm dứt được Chiến tranh Lạnh và nâng cao mức sống toàn cầu cho hàng trăm triệu người.

Đó là câu chuyện nổi bật của thế kỷ 20. Vấn đề hiện nay là chuyện gì sẽ diễn ra trong thế kỷ 21.

Ngày nay, trật tự thế giới phải đương đầu với các thách thức mới. Hành vi gây hấn của Nga đang làm các đồng minh bối rối. Những kẻ cực đoan cưỡng đoạt tôn giáo đe dọa chính quyền và người dân ở khắp nơi. Công nghệ đang thúc đẩy một bước chuyển đổi trong cán cân quyền lực giữa các chính phủ và người dân, tạo ra các cơ hội cho trách nhiệm giải trình mang tính dân chủ và cả những cản trở đối với nền chính trị có sự tham gia của mọi thành phần.[2]

Chúng ta đã đi từ một thế giới nơi mà quyền lực nằm trong các hệ thống thứ bậc (theo chiều dọc) đến một thế giới nơi quyền lực nằm trong các mạng lưới (theo chiều ngang – NBT). Nhưng kỹ năng lãnh đạo đất nước vẫn còn chưa thích ứng được. Các tổ chức và đối tác quốc tế xuất hiện trong những năm sau chiến tranh đòi hỏi cả việc duy trì (các phương thức cũ) lẫn việc hiện đại hóa.

Đứng trước những biến động hiện nay, một số người đề xuất Mỹ nên tập trung vào đối nội. Điều đó chẳng có gì mới. Một số người cũng đã lập luận như vậy sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2. Họ cũng lại lập luận như vậy cách đây 25 năm, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ. Hồi đó họ đã sai – và bây giờ họ lại sai.

Nhu cầu về (việc có quốc gia đứng ra) lãnh đạo trở nên lớn hơn bao giờ hết, và nước Mỹ cũng cam kết với thế giới nhiều hơn bao giờ hết. Vai trò của chúng ta trong thời kỳ quá độ hòa bình và dân chủ chưa từng có ở Afghanistan nhắc nhở tất cả chúng ta rằng sau khi đã bỏ ra rất nhiều xương máu và tiền bạc để giúp người dân Afghanistan có cơ hội thắng lợi trong cuộc chiến, thế giới cũng có trách nhiệm lớn không kém trong việc giúp đỡ các nhà lãnh đạo của nước này quản lý đất nước thành công.

Chúng ta biết rằng việc phá hủy 100% các loại vũ khí hóa học đã được công bố của Syria hẳn đã chẳng xảy ra được nếu không có sự kiên trì và ngoại giao thực tiễn, trực tiếp. Tương tự, cuộc nội chiến phi đạo đức và kinh hoàng của Syria cũng sẽ không kết thúc nếu không có một sự cam kết tương tự. Cũng như vậy, tại châu Á, nơi Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa công bố các cam kết đầy tham vọng để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, chúng ta lại được nhắc nhở về những gì mà các nước có thể cùng nhau hoàn thành nếu có một sự lãnh đạo thật sự – và về việc cần phải gia tăng bao nhiêu sự lãnh đạo để ký kết được thành công một thỏa thuận về khí hậu ở Paris vào năm sau.

Thế giới đã thay đổi, và chúng ta đang thay đổi cùng với nó. Các đường biên giới trên bản đồ không còn chứa đựng những mối đe dọa nghiêm trọng nhất, và các chủ thể trong cuộc chơi không còn được chia thành chỉ hai phe riêng rẽ nữa.

Trong thế kỷ 21, đâu đâu cũng là khu vực láng giềng. Đó là nguyên nhân tại sao thế giới cần phải có ngoại giao liên minh. Không một nước nào tự mình có thể đánh bại chủ nghĩa khủng bố. Không một nước nào có thể đơn độc giải quyết được mối đe dọa về biến đổi khí hậu hiện hữu. Không một nước nào tự xóa bỏ được nghèo đói cùng cực, chống lại các đại dịch tiềm tàng, hoặc tự cải thiện được an ninh hạt nhân.

Không ai trong chúng ta có thể sống một cuộc sống an toàn hơn, giàu có hơn bằng cách quay lưng lại với thế giới. Chúng ta phải phát triển lịch sử hợp tác với các đồng minh bằng cách tạo nên các liên minh mới – với các chính phủ, với xã hội dân sự, và, vâng, với cả những người dân bình thường.

Một ví dụ điển hình là nỗ lực quốc tế để đương đầu với sự tàn bạo độc ác của Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria. Các công cụ chính trị, nhân đạo, và tình báo từ hơn 60 quốc gia đang được sử dụng để hỗ trợ cho hành động quân sự thống nhất. Thành công không phụ thuộc vào những việc mà một hoặc thậm chí một vài quốc gia có thể làm một mình, mà phụ thuộc vào những gì tất cả chúng ta có thể đạt được bằng cách cùng nhau tiến lên chống lại mối đe dọa chung này.

Trên một mặt trận có tầm quan trọng tương đương, Hoa Kỳ đang làm việc với Liên Hợp Quốc để khơi dậy phản ứng toàn cầu đối với hiểm hoạ do virus Ebola gây ra. Tôi đã có các cuộc nói chuyện riêng với hơn 50 nhà lãnh đạo nước ngoài, và tất cả chúng tôi đều đồng ý rằng chỉ bằng cách phối hợp hành động thì chúng ta mới có thể chặn đứng sự tàn phá ở Tây Phi và ngăn chặn được sự lây lan của Ebola.

Chúng ta đang có tiến triển ở cả hai vấn đề, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Tập hợp các quốc gia có các lợi ích mâu thuẫn và các nguồn lực khác nhau là một việc khó khăn. Nó đòi hỏi một cam kết ngoại giao mạnh mẽ và cần tới các quan hệ đã được xây dựng và duy trì qua nhiều thập niên, cũng như các liên minh với các đối tác mới. Nhưng bằng cách vượt qua những khác biệt và phối hợp các nỗ lực để đánh bại được Nhà nước Hồi giáo và chinh phục Ebola, chúng ta đang thúc đẩy sự ủng hộ cho một trật tự thế giới dựa vào các giải pháp tập thể đối với những vấn đề chung.

Hợp tác cũng có tầm quan trọng sống còn trong việc củng cố các nguyên lý kinh tế nền tảng mà Mỹ và các nước khác đã dựa vào đó để xây dựng sự thịnh vượng sau chiến tranh. Sự thất vọng không thể phát triển nhanh hơn các cơ hội tại bất kỳ nước nào. Ví dụ, các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) phản ánh quyết tâm của Tổng thống Obama trong việc đạt được một hiệp định với các nước đại diện cho 1/3 kim ngạch thương mại và 40% GDP của toàn cầu.

Lợi ích – đối với cả Hoa Kỳ và các đối tác của chúng ta – là rất lớn. Ước tính TPP có thể cung cấp 77 tỷ đô la thu nhập thực tế mỗi năm và hỗ trợ 650.000 việc làm mới chỉ riêng ở Mỹ. Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương đang được đàm phán với Liên minh châu Âu cũng đem lại một bước tiến quan trọng làm tăng trưởng thương mại.

Dù nhằm mục đích an ninh chung hay thịnh vượng chung thì các quan hệ đối tác thực sự cũng không thể được xây dựng chóng vánh. Ngoại giao kiên nhẫn và ý chí tập thể là cần thiết để tiến tới các mục tiêu chung. Các mục đích của nước Mỹ vẫn giữ nguyên như trong nhiều thập niên qua – hòa bình, thịnh vượng và ổn định cho nước Mỹ và cho các đối tác của chúng ta trên toàn thế giới.

John Kerry là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ. Trước đây ông là Thượng nghị sĩ của bang Massachusetts và là Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ.

——————————–

[1] Armageddon xuất hiện trong Sách Khải huyền, chỉ một địa điểm nơi Chúa trời chiến đấu trận cuối cùng với những kẻ không tin chúa (Antichrist) và ma quỷ, chấm dứt mọi cuộc chiến của con người, bước vào kỉ nguyên hòa bình ngàn năm. Nhiều nhà tiên tri dự đoán Armageddon diễn ra trong thế kỉ 21. Từ này cũng ám chỉ một viễn cảnh tận thế nói chung – NBT.

[2]  Inclusive politics – tức mọi khuynh hướng, thành phần… đều có chỗ đứng hợp pháp và hợp hiến trên chính trường, ngược lại với exclusive politics – nền chính trị loại trừ, chỉ dành sự tham gia chính trường cho một số thành phần nhất định – NBT.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Giải đáp 5 câu hỏi về Tập Cận Bình

Tap Can Binh

Nguồn: Mu Chunshan, “Five questions about Xi Jinping, answered“, The Diplomat, 9/12/2014.

Biên dịch: Trần Quốc Nam | Hiệu đính: Phạm Hồng Anh

Dựa trên các thông tin nội bộ, Mục Xuân San đã đào sâu để chạm đến những bí ẩn của nền chính trị Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình.

Để hiểu chính sách ngoại giao của Trung Quốc, ta cần phải hiểu được nền chính trị Trung Quốc. Ngoại giao là một phần mở rộng của chính trị đối nội; bởi thế việc hiểu sai những tính toán của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ dẫn đến nguy cơ diễn giải sai hướng chính sách đối ngoại của nước này. Điều này đặc biệt đúng ở hiện tại, khi sự tương tác giữa công tác đối nội và ngoại giao của Trung Quốc đã được tăng cường từ khi Chủ tịch Tập Cận Bình nhậm chức.

Chẳng hạn như việc Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) được Bắc Kinh thiết lập ở Biển Hoa Đông vào tháng 11 năm 2013, tức chỉ vài ngày sau Hội nghị Trung ương 3 của Ban chấp hành Trung ương ĐCSTQ (khóa 18). Phiên họp quan trọng này đã đưa ra quyết định thành lập hai cơ quan mới: Nhóm Lãnh đạo Cải cách Toàn diện và Ủy ban An ninh Quốc gia Trung Quốc. Quyết định đó có thể được coi là khúc dạo đầu trực tiếp để thiết lập ADIZ.

Khó có thể bàn luận về chính sách đối ngoại của Trung Quốc mà không cân nhắc đến tình hình chính trị trong nước; và tương tự, ta cũng không thể nói về chính trị trong nước mà bỏ qua nhân tố Tập Cận Bình. Ở nước ngoài, ông Tập là chủ đề của những lời phỏng đoán vô tận. Trong bài phân tích này, tôi sẽ cố gắng giải đáp năm câu hỏi lớn về chính trị đối nội của Trung Quốc, dựa trên những gì tôi nghiệm ra từ nghề làm báo và quá trình quan sát lâu năm về sự phát triển của nước này.

Câu hỏi thứ nhất: Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường là đối thủ hay đối tác?

Câu hỏi này dấy lên bởi nhiều người nhận thấy thực tế rằng so với lượng thông tin tuyên truyền ồ ạt về Tập Cận Bình tại Trung Quốc, thì Lý Khắc Cường nhận được sự chú ý ít hơn nhiều. Sự khác biệt này càng rõ rệt khi so sánh với Ôn Gia Bảo, người tiền nhiệm của Lý Khắc Cường và là nhân vật được giới truyền thông mến mộ.

Thủ tướng đầu tiên của Trung Quốc, Chu Ân Lai là một người danh tiếng – thậm chí ông còn được biết tới nhiều hơn cả Mao Trạch Đông. Kể từ thời Chu Ân Lai, từ “thủ tướng” bắt đầu mang ý nghĩa đặc biệt ở Trung Quốc. Gần như mọi người dân Trung Quốc đều hy vọng vị thủ tướng đương nhiệm có được khả năng, sự quyến rũ và tính cách kiên quyết của Chu Ân Lai – điều này tạo áp lực lớn lên giới lãnh đạo chóp bu ở nước này.

Như nhiều nhà quan sát khác, tôi cũng đã từng nghĩ rằng có một sự cạnh tranh bí mật hay thậm chí là một “cuộc chiến truyền thông” giữa ông Tập và ông Lý. Tôi bối rối trước những câu chuyện bề mặt do truyền thông thêu dệt. Song tôi nhận ra rằng Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường về cơ bản chính là đối tác của nhau, họ có thiện chí hợp tác vượt lên trên những bất đồng giữa hai bên.

Sau khi Chủ tịch Tập nhậm chức, ĐCSTQ tăng cường nỗ lực “điều hành quốc gia thông qua các nhóm công tác”, thành lập các cơ quan quan trọng như Nhóm Lãnh đạo Trung ương về Thông tin hóa và An ninh mạng, và Nhóm Lãnh đạo Cải cách Quân sự, bên cạnh Nhóm Lãnh đạo Cải cách Toàn diệnỦy ban An ninh Quốc gia Trung Quốc đã được nhắc đến ở phần trên. Lý Khắc Cường là người điều hành đứng thứ hai trong hầu hết các nhóm công tác này – một ngoại lệ đáng lưu ý là cả các nhóm liên quan đến quân sự. Quyền hạn của ông Lý không những không bị hạn chế, mà dường như còn vượt ra ngoài cả lĩnh vực kinh tế. Điều đó cho thấy Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường cùng chia sẻ một sự hiểu biết ngầm, không chỉ trong vấn đề cải cách và kinh tế mà trong hầu hết tất cả các lĩnh vực.

Tại Hội thảo Internet toàn cầu lần thứ nhất được tổ chức ở Trung Quốc gần đây, ông Lý đã phát biểu thay mặt Chủ tịch Tập đang công du nước ngoài. Điều này khẳng định vị thế người đứng thứ hai của Lý Khắc Cường tại Nhóm Lãnh đạo Trung ương về Thông tin hóa và An ninh mạng. Bởi lẽ đó, mới đây ông Lý đã tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu khi Tập Cận Bình không có mặt ở Bắc Kinh.

Vậy phải giải thích sự khác biệt trong chú ý của truyền thông ra sao? Theo lời của một quan chức chính phủ Trung Quốc, giới lãnh đạo nước này đã đồng thuận rằng việc làm nổi bật quyền thế của Tập Cận Bình là cần thiết – nhằm đáp lại mong muốn của người dân về một “người anh hùng” có thể giải quyết các vấn đề nan giải Trung Quốc phải đối mặt khi thực hiện các nỗ lực cải cách và chống tham nhũng. Ngoài ra, tôi nghĩ Lý Khắc Cường có thể đơn giản là một người có tính cách khiêm nhường hơn người tiền nhiệm Ôn Gia Bảo, cũng giống như Hồ Cẩm Đào, người có phong cách ít nổi bật hơn người kế nhiệm của mình – Tập Cận Bình.

Câu hỏi thứ hai: ai là cố vấn khả tín nhất của Tập Cận Bình?

Câu trả lời ở đây thường chỉ là phỏng đoán. Một số khả năng gồm có: Lý Hi (Li Xi), đồng môn của Tập Cận Bình và hiện đang là Chủ tịch tỉnh Liêu Ninh; Đinh Tiết Tường (Ding Xuexiang), thư ký của Chủ tịch Tập đồng thời là Phó chánh Văn phòng Ủy Ban Trung ương ĐCSTQ; hay Vương Hổ Ninh, người đứng đầu Văn phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương ĐCSTQ. Mỗi người trong số họ đều thỏa mãn những yêu cầu cần thiết [để trở thành người đáng tin cậy bên cạnh Tập Cận Bình].

Tuy nhiên, gần đây Tập Cận Bình vừa công bố các biện pháp quan trọng liên quan đến chống tham nhũng, tuyên huấn, lực lượng vũ trang và an ninh. Công bố này đưa thêm một vài gợi ý để đoán biết những người thân tín của ông Tập. Theo quan điểm của tôi, các đồng chí của Tập Cận Bình bao gồm Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan), Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật trực thuộc Ủy Ban Trung ương; Lỗ Vĩ (Lu Wei), người chỉ đạo Văn phòng của Nhóm Lãnh đạo Trung ương về Thông tin hóa và An ninh mạng; Tướng Lưu Nguyên (Liu Yuan) và Lật Chiến Thư (Li Zhanshu), Chánh Văn phòng Ủy Ban Trung ương (cũng là người chịu trách nhiệm về hoạt động của Ủy Ban An ninh Quốc gia Trung Quốc).

Vai trò của Vương Kỳ Sơn đã quá rõ ràng. Nếu không có ông ta, các chiến dịch chống tham nhũng ở Trung Quốc sẽ chững lại, và công chúng đã không dành nhiều kỳ vọng cho Tập Cận Bình đến vậy.

Lỗ Vĩ là một người điều hành ít nổi bật, trẻ và có năng lực. Sau nhiều năm làm việc tại Tân Hoa Xã, Lỗ đảm nhiệm công tác tuyên truyền tại Bắc Kinh. Gần đây, ông nắm quyền điều hành mạng internet của toàn Trung Quốc. Dưới sự điều hành của Lỗ Vĩ, hình ảnh của Tập Cận Bình đã được phác họa thành người-của-công-chúng trên mạng internet. Và những “Tiếng nói lớn” (Big Vs) – những người bất đồng chính kiến có ảnh hưởng nhất trên mạng tiểu blog của Trung Quốc, đã bị buộc im lặng, và đây chính là điều chính phủ cần. Có rất nhiều lý do để tin rằng Lỗ đã giành được sự đánh giá cao của ông Tập.

Lưu Nguyên là trợ thủ đắc lực của Tập Cận Bình trong quân đội. Mặc dù chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ tiết lộ mối quan hệ giữa hai người, truyền thông Hồng Kông cho biết ông Tập đã ủng hộ Lưu trong cuộc chiến chống Từ Tài Hậu (Xu Caihou), Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Thậm chí còn có tin đồn rằng Lưu Nguyên sẽ đóng một vai trò quan trọng trong Ùy ban giám sát kỷ luật của Giải phóng  Quân Trung Quốc (PLA). Cả Tập Cận Bình và Lưu Nguyên đều là con cái các nguyên lão của Đảng, tức họ cùng là “hạt giống đỏ” và trung thành với Trung Quốc và ĐCSTQ.

Cuối cùng, Lật Chiến Thư chịu trách nhiệm hoạch định toàn bộ các hoạt động mà Tập Cận Bình tham dự, và đảm bảo an toàn cá nhân của Chủ tịch Tập. Lật Chiến Thư luôn nằm trong đoàn tháp tùng Tập Cận Bình trong các chuyến thăm nước ngoài, một bằng chứng rõ ràng về tầm quan trọng của nhân vật này. 

Câu hỏi thứ ba: Liệu Tập có gặp phải sự chống đối chính trị thực sự nào không?

Trái với nền chính trị phương Tây, ĐCSTQ không hé lộ chuyện phe cánh trong nội bộ Đảng, một nguyên tắc từ thời Mao Trạch Đông. Bất cứ phe phái nào quá lộ liễu đều nhanh chóng bị dán nhãn “chủ nghĩa bè phái” và trở thành mục tiêu bị phê phán. Nói cách khác, trên lý thuyết thì một đảng viên (ở bất kỳ cấp nào) chỉ được phép trung thành với toàn thể Đảng chứ không phải với một cá nhân nào đó.

Thế nên nhìn từ bên ngoài, các quan chức cấp cao của Đảng không bao giờ để lộ dấu hiệu bất hòa. Công chúng hoàn toàn không hề biết về sự sụp đổ của Bạc Hy Lai (Bo Xilai) cho đến tận tháng Ba năm 2012, khi Phiên họp Đại hội đại biểu Nhân dân hàng năm kết thúc. Đến khi Ôn Gia Bảo chỉ trích “mô hình Trùng Khánh” của Bạc tại buổi họp báo thì người dân mới nhận ra thời của Bạc đã hết. Vụ việc Bạc Hy Lai bị xử như một phiên tòa hình sự. Mặc dù hầu hết mọi người tin rằng sự  ngã ngựa của Bạc can hệ tới cuộc đấu đá chính trị, song không ai có thể đưa ra bằng chứng vững vàng chứng minh rằng Bạc là đối thủ chính trị với Tập.

Tuy vậy, chắc chắn rằng Tập Cận Bình phải đối mặt với sự phản kháng và chống đối thật sự. Một lần ông Tập đã công khai phát biểu: “Công cuộc cải cách bước vào thời kỳ khó khăn và chạm đến vùng tối nhất” và “Tình hình chống tham nhũng vẫn còn phức tạp và nghiêm trọng” – đây là các dấu hiệu cho thấy những chiến dịch này đang vấp phải một cuộc tranh đấu chính trị đầy cam go.

Đó chính là lý do tại sao chính phủ Trung Quốc gây dựng quyền uy của Tập Cận Bình qua các phương tiện truyền thông – bởi ông Tập cần sự đoàn kết trong Đảng cũng như sự ủng hộ của quần chúng. Một quan chức Trung Quốc nói với tôi, “Họ [phe đối lập] rất cứng rắn, cho nên Chủ tịch Tập phải cứng rắn hơn họ”.

Vậy ai ở phe đối lập? Chỉ cần tìm “những con hổ lớn” – và Tập Cận Bình sẽ không để họ yên.

Câu hỏi thứ tư: Tập Cận Bình có thực sự hy vọng sẽ vượt qua các lãnh đạo tiền nhiệm và trở thành một “kiến trúc sư mới”?

Việc ví Tập Cận Bình như là “tân kiến trúc sư” của Trung Quốc là một phát minh của giới truyền thông. Cả Tập lẫn báo chí chính thức đều không thừa nhận cụm từ này. Danh hiệu này chỉ xuất hiện trên trang web của tờ Nhân dân Nhật báo. Nếu ĐCSTQ thực sự muốn ca ngợi Chủ tịch nước là “tân kiến trúc sư”, họ sẽ chạy một tiêu đề lớn trên tờ (báo giấy) Nhân dân Nhật báo.

Hai năm trước, Hồ An Cương (Hu Angang) – giáo sư tại Đại học Thanh Hoa, đã viết một bài báo trên tờ Nhân dân Nhật báo nói rằng Trung Quốc áp dụng một “hệ thống lãnh đạo tập thể”, một cái gì đó khác với cả hai hệ thống dân chủ của phương Tây và truyền thống trung ương tập quyền của Cộng sản. Trong hệ thống của Trung Quốc, quyền lực được chia sẻ giữa các ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Các quyết định về các vấn đề chính được đưa ra bằng cách lấy biểu quyết. Ý kiến táo bạo này của Hồ An Cương đã được cấp cao thừa nhận.

Chúng ta có thể coi sự xuất hiện của cụm từ “tân kiến trúc sư” như cách chính phủ thăm dò phản ứng của công chúng. Đây là thời điểm tốt cho các phương tiện truyền thông khác tiếp tục truyền bá danh xưng này, bởi không những không gặp rủi ro gì mà còn vô cùng hữu ích – sự ra đời một “khái niệm mới” về Tập Cận Bình sẽ thu hút sự chú ý từ mọi nơi trên thế giới.

Điều quan trọng cần phải nhớ là ông Tập chỉ mới nhậm chức được hai năm, và ông ta còn ít nhất tám năm cầm quyền nữa. Trong giai đoạn này, ông Tập sẽ phải là một kiến trúc sư có đầu óc sắc sảo, trong khi dần thâu tóm quyền lực mà trước đây nằm trong tay các ủy viên thường trực khác. Song không có dấu hiệu cho thấy ông Tập sẽ lật đổ “hệ thống lãnh đạo tập thể” bằng cách tước đi quyền bình đẳng tham gia quá trình ra quyết định của các ủy viên thường trực khác trong Bộ Chính trị. Tập Cận Bình sẽ không thể phá vỡ hoàn toàn cơ cấu chính trị ở tầng đỉnh của ĐCSTQ – vốn đã hoàn thiện trong 20 năm qua kể từ thời Giang Trạch Dân.

Tôi chắc chắn rằng Tập Cận Bình là một người ý thức được vai trò lịch sử của mình, và những gì ông ta làm không chỉ có giá trị đối với Trung Quốc hôm nay, mà còn hữu ích cho sự phát triển trong tương lai của Trung Quốc. Trung Quốc cần phải thay đổi, và Tập Cận Bình đã được lịch sử lựa chọn để thúc đẩy cải cách và chống tham nhũng. Điều cốt yếu là có người đứng ra thực hiện.

Một quan chức Trung Quốc đồng ý với quan điểm này, ông nói rằng Tập Cận Bình sẽ đóng vai người hùng giúp Trung Quốc phát triển êm đẹp hơn, an toàn hơn và ít rủi ro hơn. Theo quan chức này, sẽ mất ít nhất năm năm để định danh “kiến trúc sư mới” được chính thức chấp nhận.

Câu hỏi thứ năm: người dân Trung Quốc nghĩ gì về Tập Cận Bình?

Hãy nghĩ đến Putin: Bất chấp sức ép và trừng phạt của phương Tây, ông ta vẫn nhận được tỉ lệ ủng hộ cao. Khi gặp Putin hồi năm ngoái, Tập Cận Bình nhận ra mình và Putin có tính cách giống nhau. Và một số hành động của Chủ tịch Tập nhận được sự ủng hộ ở Trung Quốc tương tự như Putin ở Nga.

Hầu hết người dân Trung Quốc ủng hộ Tập Cận Bình bởi họ nhìn nhận ông là một nhà lãnh đạo kiểu khác – ông giới thiệu vị phu nhân duyên dáng của mình tại các hoạt động ngoại giao; ông cho phép internet đăng các hình hoạt họa về mình; ông Tập có sự kiên quyết khi lật đổ các ủy viên Bộ Chính trị khác; và Tập Cận Bình đã sẵn sàng để tỏ ra cứng rắn với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, những mong muốn của người Trung Quốc đang thay đổi. Họ mưu cầu hội nhập quốc tế và sự công nhận từ quốc tế. Tập Cận Bình đang thỏa mãn nhu cầu tâm lý này đồng thời đáp ứng các nhu cầu về kinh tế. Dưới thời Chủ tịch Tập, Trung Quốc và ngay cả người dân Trung Quốc có vẻ đã khác so với trước kia.

Một số người có thể lo ngại Tập Cận Bình đang khôi phục lại tệ “sùng bái cá nhân” từ thời Mao Trạch Đông. Một quan chức chính phủ mà tôi trò chuyện đã bác bỏ điều vô lý này. Ông cho rằng truyền thông ngày nay đã làm phức tạp hóa chuyện này. Ngày nay người dân có quyền tự do lựa chọn giữa rất nhiều ý tưởng phóng khoáng và đa dạng; do đó không thể có chỗ cho tệ sùng bái cá nhân. Quan chức này khẳng định với tôi là không ai trong chính phủ muốn phục hồi hiện tượng này, nhưng nó lại là yếu tố cần thiết để tạo dựng quyền uy cho Tập Cận Bình.

Rõ ràng gần đây các phương tiện truyền thông đã hơi quá đà trong các chiến dịch tuyên truyền cho Tập Cận Bình. Thế giới có xu hướng diễn dịch quá mức những thông tin này, với khả năng tính toán sai lầm về sự phát triển của Trung Quốc trong tương lai. Thậm chí điều này có thể ru ngủ bản thân ông Tập vào một cảm giác an toàn giả tạo. Để tránh kết cục như vậy đòi hỏi cần có một tư duy khách quan về các vấn đề đối nội và đối ngoại.

Mộc Xuân San (Mu Chunshan) là một nhà báo tại Bắc Kinh. Trước đây ông từng làm cho một dự án của Bộ Giáo dục nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông nước ngoài lên việc tạo dựng hình ảnh Trung Quốc.

Nguồn: Mu Chunshan, “Five questions about Xi Jinping, answered“, The Diplomat, 9/12/2014.

Biên dịch: Trần Quốc Nam | Hiệu đính: Phạm Hồng Anh

Dựa trên các thông tin nội bộ, Mục Xuân San đã đào sâu để chạm đến những bí ẩn của nền chính trị Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Sự cô lập không còn đem lại vinh quang


Vladimir Putin, Raul Castro
Vào cuối thế kỷ 19, Đế quốc Anh theo đuổi một chính sách được biết đến với cái tên “sự cô lập huy hoàng” vốn thể hiện quyết tâm của giới lãnh đạo nước này đối với việc không tham gia vào các vấn đề quốc tế. Với tiềm năng kinh tế cùng với sức mạnh hải quân vượt trội, Anh Quốc có đủ khả năng để tránh bị vướng vào vấn đề của những nước khác.

Các sự kiện diễn ra gần đây cho thấy rằng sự cô lập thời nay thường là một sai lầm hay một hoàn cảnh không đáng mong muốn bắt nguồn từ những chính sách thất bại. Việc Cuba thoát khỏi sự bao vây cô lập do Hoa Kỳ áp đặt sau hàng thập kỷ là một thắng lợi của đảo quốc này trong khi việc Triều Tiên bị nhiều quốc gia tẩy chay đã và đang đưa đất nước đến gần bờ vực sụp đổ.

Tương tự, các chính sách gây tranh cãi và những rủi ro về mặt ngoại giao của Israel đang khiến cho nhà nước Do Thái rơi vào tình trạng đơn độc chưa từng có. Bên cạnh đó, chính sách hướng nội ở Nga và Thổ Nhĩ Kỳ, vốn được hình thành chủ yếu do cái tôi của giới lãnh đạo, dường như chỉ đem lại những kết quả xấu.

Bằng cách khởi động quá trình bình thường hóa quan hệ, Cuba và Hoa Kỳ đã nhanh chóng thoát khỏi nguy cơ dẫn đến thất bại kép: thất bại của lệnh cấm vận và thất bại của nền kinh tế Cuba. Thỏa thuận giữa Mỹ và Cuba hồi tháng 12 cho phép Chủ tịch Raul Castro đạt được thành công trong việc khôi phục quan hệ mà không phải đưa ra những nhượng bộ chính trị đáng kể. Về phía Tổng thống Barack Obama, bước đột phá này là cơ hội để ông củng cố di sản của mình như là một vị tổng thống mang đến những bước chuyển hóa quan trọng giống với hình mẫu của Abraham Lincoln và Franklin D. Roosevelt – mặc dù với việc chấm dứt chính sách ngoại giao sai lầm trong gần sáu thập niên đối với Cuba, ông có nhiều nét tương đồng với Tổng thống Richard Nixon, kiến trúc sư của công cuộc mở cửa với Trung Quốc hơn.

Trong việc thúc đẩy nối lại quan hệ ngoại giao giữa hai nước Mỹ và Cuba, bên cạnh vai trò quan trọng của Giáo hoàng Francis – giáo hoàng người Mỹ Latinh đầu tiên – thì sự kiện giá dầu tuột dốc cũng có tác động không kém phần quan trọng. Tình trạng cô lập nếu kéo dài sẽ có thể đặt chế độ ở Cuba vào thế nguy kịch trong bối cảnh ngân sách của Venezuela – quốc gia có nguồn dầu lửa dồi dào và cũng là nhà viện trợ chủ yếu cho Cuba – đang vơi dần.

Trái lại, trường hợp của Triều Tiên tương phản hoàn toàn với chính sách can dự thành công của Cuba. Bị cho là có liên quan đến cuộc tấn công mạng gần đây vào hãng phim Sony Pictures, chế độ Triều Tiên càng tự dồn bản thân vào chân tường. Hậu quả là sự cô lập quốc tế sẽ ngày càng trở nên sâu sắc và rốt cuộc sẽ thảm khốc hơn đối với Triều Tiên. Ngay cả Trung Quốc là quốc gia viện trợ chủ yếu cho Triều Tiên cũng đang dần mất kiên nhẫn với đất nước đàn em này.

Trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, tình trạng cô lập không còn đem đến sự tự hào mà trái lại, nó là một trong số các nguyên nhân gây ra nỗi quan ngại cho các quốc gia. Không nơi nào mà điều này thể hiện ra một cách rõ ràng như ở Israel. Thậm chí những thành tựu khoa học kỹ thuật xuất chúng hay xã hội dân sự năng động ở đây cũng không thể bù đắp được những thiệt hại gây ra bởi nền chính trị và chính sách thiếu hấp dẫn của chính phủ Israel. Hậu quả là sự ủng hộ của phương Tây với Israel, điều mà nước này rất cần, đang ngày càng suy giảm với tốc độ đáng báo động.

Sự chuyển hướng chính sách gần đây của hai đế chế hùng mạnh ngày nào là Nga và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đáng lo ngại không kém. Hai nhà lãnh đạo của hai nước là Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan đặt quyền lực của họ lên trên lợi ích của người dân và cả hai người đều đang đổ thêm dầu vào ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa sô vanh tôn giáo lệch lạc, trong khi bao quanh họ là những triều thần chết nhát với công việc chính là che dấu sự thực.

Mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ năng động hơn Nga và nền kinh tế của nước này chắc chắn cũng đang vận hành hiệu quả hơn, nhưng cả hai chế độ ở Nga lẫn Thổ Nhĩ Kỳ đều đang đánh giá quá cao vị thế của họ và đánh giá thấp cái giá của việc chuyển hướng sang hình thái cai trị chuyên chế.

Mới chỉ bốn năm trước, Thổ Nhĩ Kỳ còn được nhiều nước coi là hình mẫu để noi theo, đặc biệt là thế giới Hồi giáo. Ngày nay, quốc gia này đang co mình trong thế phòng ngự, thậm chí còn sợ ngay cả những nhà báo trong nước. Trong suốt giai đoạn đầu của cuộc tấn công của Nhà nước Hồi giáo (IS) nhằm vào thị trấn Kobani của người Kurd ở biên giới với Syria, Thổ Nhĩ Kỳ dường như đã lặp lại chiến thuật của Liên Xô trong cuộc khởi nghĩa Vác-xa-va năm 1944 khi quân phát xít Đức giao chiến với lực lượng kháng chiến của Ba Lan, đó là chờ cho những kẻ tham chiến quần thảo đến khi cả hai đều sức cùng lực kiệt tới hết mức có thể rồi mới tiến hành can thiệp. Chính sách tàn nhẫn như vậy có thể tỏ ra hiệu quả trong ngắn hạn nhưng về dài hạn nó chắc chắn sẽ khiến Thổ Nhĩ Kỳ phải trả giá đắt.

Cùng lúc đó, ở Nga, nền kinh tế càng tuột dốc bao nhiêu thì Putin lại càng tỏ ra ngoan cố hơn bấy nhiêu. Giờ đây câu hỏi lớn chưa có lời đáp là liệu Putin sẽ còn có thể dựa vào chiêu bài chủ nghĩa dân tộc để át đi những tính toán lợi ích duy lý của người dân Nga được bao lâu nữa.

Dù vậy có một điều chắc chắn là trong một thế giới ngày càng minh bạch và phụ thuộc lẫn nhau thì sự cô lập là một sai lầm chứ không hề đem lại vinh quang, như tất cả những trường hợp gần đây đã cho thấy.

Dominique Moisi là giáo sư tại L’Institut d’estudes politiques de Paris (Sciences Po) và là Cố vấn cao cấp của Viện các vấn đề quốc tế của Pháp (IFRI), đồng thời là giáo sư thỉnh giảng tại đại học King’s College tại Luân Đôn. Ông là tác giả của cuốn The Geopolitics of Emotion: How Cultures of Fear, Humiliation and Hope are Reshaping the World.

Nguồn: Dominique Moisi, “Not So Splendid Isolation”, Project Syndicate, 30/12/2014.

Biên dịch: Lương Khánh Ninh |

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/01/09/su-co-lap-khong-con-dem-lai-vinh-quang/#more-5288

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Tại sao các nước giàu lại dân chủ?


228416-u-s-congress

Nguồn: Ricardo Hausmann, “Why Are Rich Countries Democratic?Project Syndicate, Mar. 26, 2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Khi 22 tuổi, Adam Smith đưa ra một tuyên bố nổi tiếng, “Điều kiện tiên quyết để đưa một quốc gia từ mức độ man rợ thấp nhất đến phồn thịnh cao nhất là không gì khác ngoài hòa bình, thuế khóa vừa phải, và một chính quyền tôn trọng công lý: mọi điều còn lại là do quá trình tự nhiên của sự vật đem tới.”[1] Ngày nay, gần 260 năm sau, chúng ta biết điều đó là hoàn toàn sai lầm.

Việc chiếc máy bay mang số hiệu MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines biến mất đã chứng tỏ Smith sai lầm ra sao khi nó làm nổi bật sự tương tác phức tạp giữa nhà nước và nền sản xuất hiện đại.

Để đảm bảo đi lại bằng hàng không khả thi và an toàn, nhà nước đảm bảo phi công biết cách lái máy bay và chiếc máy bay đó phải vượt qua các bài kiểm tra nghiêm ngặt. Họ xây dựng sân bay và cung cấp hệ thống ra-đa và vệ tinh để theo dõi các máy bay, kiểm soát không lưu để giữ chúng bay cách xa nhau, và các dịch vụ an ninh để ngăn chặn những kẻ khủng bố. Và, khi có sự cố, người ta không cần đến sự hỗ trợ từ hòa bình, thuế khóa hợp lý, và công lý; mà cần đến các cơ quan chính phủ chuyên nghiệp, có nguồn lực dồi dào.

Mọi nền kinh tế tiên tiến hiện nay có vẻ cần nhiều hơn những gì Smith dự đoán hồi ông còn trẻ. Các chính phủ không chỉ lớn và phức tạp, bao gồm hàng ngàn cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hàng triệu trang quy tắc và quy định; họ còn dân chủ – và không chỉ bởi họ tổ chức bầu cử thường xuyên. Tại sao?

Khi xuất bản cuốn The Wealth of Nations[2] ở tuổi 43, Smith trở thành nhà khoa học về sự phức tạp (complexity scientist) đầu tiên. Ông hiểu rằng nền kinh tế là một hệ thống phức tạp cần phối hợp công việc của hàng ngàn người chỉ để tạo nên những thứ đơn giản như một bữa ăn hay một bộ đồ.

Nhưng Smith cũng hiểu rằng trong khi nền kinh tế quá phức tạp để một người có thể tổ chức được thì nó lại có khả năng tự tổ chức. Nó sở hữu một “bàn tay vô hình,” thứ hoạt động thông qua giá cả thị trường để cung cấp một hệ thống thông tin có thể dùng để tính toán rằng liệu việc sử dụng những nguồn lực cho một mục đích nhất định là có đáng hay không – tức là có lợi nhuận hay không.

Lợi nhuận là một hệ thống động lực khiến các doanh nghiệp và cá nhân đáp ứng lại các thông tin mà giá cả cung cấp. Và thị trường vốn chính là một hệ thống huy động nguồn lực, nó cung cấp tiền bạc cho các công ty và các dự án được mong đợi ​​sẽ đem lại lợi nhuận – tức những dự án phản ứng hiệu quả với giá thị trường.

Thế nhưng sản xuất hiện đại lại đòi hỏi nhiều yếu tố đầu vào mà thị trường không thể cung cấp. Và như trong trường hợp của các hãng hàng không, các yếu tố đầu vào này – quy định, tiêu chuẩn, chứng nhận, cơ sở hạ tầng, trường học và trung tâm đào tạo, phòng thí nghiệm khoa học, các dịch vụ an ninh, và nhiều thứ khác khác – được kết hợp với những yếu tố có thể mua được từ thị trường. Chúng tương tác với các hoạt động mà thị trường tổ chức theo những cách thức phức tạp nhất.

Vậy vấn đề ở đây là: Ai kiểm soát việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công chúng? Thủ tướng? Cơ quan lập pháp? Thẩm phán hàng đầu đất nước nào đã đọc hàng triệu trang các quy định pháp luật hoặc xem xét chúng bổ sung hay mâu thuẫn lẫn nhau thế nào, chưa nói đến việc áp dụng chúng vào vô số hoạt động khác nhau bao gồm nền kinh tế? Ngay cả một tổng thống hành pháp (presidential executive)[3] cũng không thể nắm rõ những thứ được hay không được thực hiện bởi hàng ngàn cơ quan chính phủ và cách chúng ảnh hưởng đến từng phần của xã hội như thế nào.

Đây là một vấn đề cần nhiều thông tin, và cũng như các thách thức về mặt phối hợp xã hội mà thị trường giải quyết, nó không cho phép điều khiển theo hướng tập trung hóa. Điều cần thiết là một cơ chế tương tự bàn tay vô hình của thị trường: một cơ chế tự tổ chức. Bầu cử rõ ràng là không đủ, bởi chúng thường diễn ra hai hay bốn năm một lần và thu thập rất ít thông tin từ mỗi cử tri.

Thay vào đó, một hệ thống chính trị thành công phải tạo nên được một bàn tay vô hình thay thế – một hệ thống phi tập trung hóa quyền lực để có thể xác định được vấn đề, đề xuất giải pháp, và giám sát hiệu quả thực hiện, để các quyết định được đưa ra dựa trên nhiều thông tin hơn.

Để lấy một ví dụ, chính phủ liên bang Hoa Kỳ chỉ chiếm 537 ghế trong khoảng 500.000 vị trí dân cử của nước này. Rõ ràng, còn nhiều điều diễn ra ở những nơi khác.

Quốc hội Hoa Kỳ có 100 thượng nghị sĩ với 40 trợ lý cho mỗi người, và 435 dân biểu với 25 trợ lý cho mỗi người. Họ được tổ chức thành 42 ủy ban và 182 tiểu ban, có nghĩa là có 224 cuộc đàm thoại song song diễn ra cùng lúc. Nhưng nhóm gồm hơn 15.000 người này không tồn tại đơn lẻ. Đối mặt với họ là khoảng 22.000 chuyên gia vận động hành lang, mà một trong những nhiệm vụ của họ là cùng ngồi xuống với những nhà lập pháp để dự thảo các đạo luật.

Điều này, cùng với một nền báo chí tự do, là một phần của cái cấu trúc vốn giúp đọc hàng triệu trang luật và giám sát những gì các cơ quan chính phủ thực hiện hay không thực hiện. Nó tạo ra các thông tin và các động cơ để phản hồi lại nó. Nó ảnh hưởng đến việc phân bổ ngân sách. Nó là một hệ thống mở mà trong đó ai cũng có thể tạo ra tin tức hoặc tìm một chuyên gia vận động hành lang để được trợ giúp, cho dù đó là bảo vệ cá voi hay là ăn thịt chúng.

Nếu không có một cơ chế như vậy, hệ thống chính trị không thể cung cấp kiểu môi trường mà nền kinh tế hiện đại cần. Đó là lí do tại sao tất cả các nước giàu lại dân chủ, và tại sao một số nước, như của người viết bài này (Venezuela), đang trở nên nghèo hơn. Cho dù một số các nước này có tổ chức bầu cử, họ có xu hướng vấp ngã tại ngay cả những vấn đề phối hợp đơn giản nhất. Xếp hàng để bỏ phiếu không đảm bảo rằng người dân sẽ không còn phải xếp hàng để mua giấy vệ sinh.

Ricardo Hausmann là cựu Bộ trưởng Kế hoạch của Venezuela và cựu Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, giáo sư ngành Thực hành phát triển kinh tế tại Đại học Harvard, nơi ông giữ chức Giám đốc Trung tâm Phát triển Quốc tế.

———————-

[1] Xem Adam Smith. The Theory Of Moral Sentiments (Lý thuyết về cảm tính đạo đức), Quyển II Phần II Chương III – ND.

[2] Tên đầy đủ là Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia, bản tiếng Việt hiện nay dịch là Bàn về của cải quốc gia, hay Quốc phú luận – ND.

[3] Hình thức chính thể tổng thống chế, trong đó tổng thống có quyền lực mạnh, chẳng hạn như ở Hoa Kỳ. Ngược lại là hệ thống tổng thống hình thức (figurehead presidents), nghị viện có quyền lực mạnh, chẳng hạn như ở các nước Cộng hòa đại nghị – ND.

Nguồn: Ricardo Hausmann, “Why Are Rich Countries Democratic?Project Syndicate, Mar. 26, 2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Yếu tố địa chính trị trong quan hệ Mỹ – Cuba


dc-1962-map-of-cuban-missile-crisis

Tuần trước, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raul Castro vừa thống nhất trao đổi tù nhân bị giam giữ với tội danh tình báo. Ngoài ra, Washington và Havana còn nhất trí thảo luận về vấn đề thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tuy nhiên, chưa một thỏa thuận nào được đưa ra về việc chấm dứt lệnh cấm vận của Mỹ đối với Cuba, một bước đi đòi hỏi sự chấp thuận của Quốc hội.Đây là một thỏa thuận khiêm tốn, gây được tiếng vang chỉ bởi trước nay chẳng có một thỏa thuận nào. Quan hệ Mỹ-Cuba đã đóng băng nhiều thập niên, và cả hai bên đều không sẵn sàng nhượng bộ cũng như có những động thái đi trước. Một phần lý do là vì chính trị nội bộ ở cả hai nước đều khiến việc để mặc cho mối quan hệ đóng băng trở thành lựa chọn dễ dàng hơn.

Về phía Mỹ, việc liên minh những người Mỹ gốc Cuba, các chính trị gia bảo thủ và các tổ chức nhân quyền lên án Cuba vi phạm nhân quyền đã đập tan nỗ lực làm tan băng quan hệ. Về phía Cuba, sự thù địch với Mỹ đóng vai trò nòng cốt trong việc duy trì tính chính đáng của chế độ cộng sản ở nước này. Chính phủ nước này không những được xây dựng trên nền tảng của sự đối đầu với đế quốc Mỹ mà Havana còn sử dụng lệnh cấm vận đang tiếp diễn của Mỹ để biện minh cho những thất bại về kinh tế của Cuba. Chẳng có một sức ép bên ngoài nào buộc một nước chung sống với bên kia nhưng lại có rất nhiều lý do trong nước khiến tình hình cứ giậm chân tại chỗ.

Nhưng hiện nay Cuba đang chịu một số sức ép buộc nước này phải thay đổi chính sách. Cuba đã vật lộn để tồn tại được sau khi Liên Xô sụp đổ. Nhưng nay nước này phải đối mặt với một vấn đề cấp bách hơn: đó là tình hình bất ổn ở Venezuela. Caracas cung cấp dầu lửa cho Cuba với giá ưu đãi đặc biệt. Khó mà biết được kinh tế Cuba đã tới gần vực thẳm tới mức nào, nhưng chắc chắn là dầu lửa của Venezuela sẽ tạo sự khác biệt lớn. Chính phủ của Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro đang phải đối mặt với bất ổn dâng cao vì các vấn đề kinh tế. Nếu chính phủ Venezuela sụp đổ thì Cuba cũng sẽ mất một trong những bệ đỡ quan trọng. Không ai biết chắc liệu số phận Venezuela sẽ đi về đâu, nhưng Cuba phải đối mặt với khả năng tình huống xấu nhất xảy ra và nước này buộc phải tính đến chuyện mở cửa. Xét về mặt bảo vệ chế độ thì mở cửa với Mỹ là hợp lý hơn cả.

Lý do của Mỹ cho sự thay đổi chính sách này không rõ ràng như vậy. Nhưng nếu đứng từ quan điểm của ông Obama thì sự thay đổi này có ý nghĩa về chính trị. Trước hết, về mặt ý thức hệ, Obama muốn chấm dứt cấm vận Cuba. Thứ hai, ông có rất ít thành công về chính sách ngoại giao cho đến thời điểm này. Bình thường hóa quan hệ với Cuba có thể là điều mà ông muốn đạt được, vì những nhóm lợi ích như Phòng Thương mại Hoa Kỳ rất ưu ái việc bình thường hóa quan hệ và sẽ giúp tạo vỏ bọc về chính trị (để chống chỉ trích – NBT) trong nội bộ Đảng Cộng hòa.

Nhưng lý do cuối cùng, và có lẽ là quan trọng nhất là phần lớn những nền tảng địa chính trị đằng sau nỗi ám ảnh của nước Mỹ với Cuba gần như đã không còn, nếu không phải là mãi mãi thì ít nhất cũng là trong tương lai gần. Việc bình thường hóa quan hệ với Cuba không còn đặt ra thách thức chiến lược nào nữa. Để hiểu được phản ứng của Mỹ với Cuba trong suốt nửa thế kỷ qua, chúng ta cần hiểu thách thức địa chính trị của Cuba đối với Mỹ.

Giá trị chiến lược của Cuba

Thách thức mang tên Cuba khởi thủy từ hồi Tổng thống Thomas Jefferson hoàn thành thương vụ mua Louisiana năm 1803. Trong suốt chiều dài lịch sử của mình Lãnh thổ Louisiana thuộc sở hữu của Tây Ban Nha cho tới khi được nhượng lại cho Pháp để rồi mấy năm sau đó Napoleon lại bán lại cho Mỹ để lấy tiền trang trải cho cuộc chiến với người Anh. Jefferson nhận thấy Louisiana là điểm mấu chốt cho an ninh quốc gia Mỹ ở hai điểm: thứ nhất, dân Mỹ vào thời điểm đó chủ yếu quần cư phía đông dãy Appalachia thành một dải dài từ New England tới biên giới Georgia-Florida khiến nước Mỹ cực kỳ dễ bị xâm lược và không có chỗ để thoái lui, và điều này đã trở thành hiện thực trong cuộc chiến tranh năm 1812. Thứ hai, Jefferson luôn mơ về một nước Mỹ thịnh vượng với những người nông dân sở hữu đất đai của riêng mình, sống như những chủ doanh nghiệp chứ không phải như nông nô. Vùng đất đai màu mỡ của Louisiana nằm trong tay những người di cư đến Mỹ sẽ tạo ra của cải xây dựng đất nước và là vị trí chiến lược để bảo vệ của cải ấy.

Louisiana chiến lược ở chỗ nó có hệ thống sông ngòi cho phép nông dân vùng Trung Tây chuyển sản phẩm làm ra bằng xà lan tới sông Mississipi và từ đó xuống New Orleans. Ngũ cốc từ đó sẽ được chuyển xuống các tàu đi biển và sang châu Âu. Chính số ngũ cốc này sẽ tạo điều kiện cho Cách mạng Công nghiệp nổ ra ở Anh, bởi lẽ việc nhập khẩu một số lượng lớn lương thực thực phẩm đã giải phóng nông dân Anh khỏi công việc đồng áng để làm việc trong các ngành công nghiệp ở thành thị.

Để làm được vậy, nước Mỹ cần kiểm soát hệ thống sông Ohio-Missouri-Mississipi (bao gồm nhiều sông khác nữa), cửa sông Mississipi, Vịnh Mexico và cửa ra Đại Tây Dương chạy dọc giữa Cuba và Florida, và giữa Cuba và Mexico. Nếu chuỗi cung ứng này bị phá vỡ ở một điểm nào đó, hệ lụy toàn cầu – mà đặc biệt là hệ lụy với nước Mỹ – sẽ là vô cùng lớn. Hiện nay, New Orleans vẫn là cảng hàng hóa lớn nhất nước Mỹ, thường xuyên vận chuyển ngũ cốc đi châu Âu và nhập thép cho sản xuất trong nước.

Đối với người Tây Ban Nha, Lãnh thổ Louisiana là tấm khiên chắn chống lại các cuộc tấn công của Mỹ vào Mexico và những mỏ bạc trù phú của nước này, vốn là phần đóng góp lớn vào sự thịnh vượng của Tây Ban Nha. Nếu Louisiana rơi vào tay Mỹ, những tài sản chiến lược đó sẽ bị đe dọa. Từ quan điểm của Mỹ, mối quan ngại của Tây Ban Nha làm tăng khả năng nước này can thiệp vào thương mại Mỹ. Với Florida, Cuba và Yucatan nằm trong tay mình, người Tây Ban Nha có thừa khả năng làm tê liệt dòng chảy hàng hóa dọc theo sông Mississipi.

Cựu Tổng thống Andrew Jackson là người đóng vai trò then chốt trong chiến lược của Jefferson. Là một vị tướng, ông đã phát động chiến tranh chống lại người da đỏ Seminole ở Florida và chiếm vùng đất này từ tay Tây Ban Nha – và từ tay người Seminole. Ông bảo vệ New Orleans khỏi đợt tấn công của người Anh năm 1814. Khi trở thành tổng thống, ông nhận ra rằng Mexico khi đó đã độc lập khỏi Tây Ban Nha là một mối đe dọa chính đối với toàn bộ miền Trung nước Mỹ. Biên giới của Texas thuộc Mexico nằm trên sông Sabine, chỉ cách sông Mississipi 193km. Jackson, thông qua Sam Houston, đã châm ngòi một cuộc nổi dậy chống Mexico ở Texas tạo điều kiện cho việc xâm lược.

Nhưng Cuba thuộc Tây Ban Nha vẫn là cái gai trong mắt Mỹ. Eo biển Florida và Yucatan tương đối hẹp. Và mặc dù Tây Ban Nha khi đã suy yếu vẫn có thể ngăn chặn các ngả giao thương của Mỹ thì chính người Anh mới là những kẻ làm người Mỹ lo ngại nhất. Người Anh đóng căn cứ ở Bahamas, gần Cuba, với những cái đầu sẵn tư duy hằn học với Mỹ, có thể giành lấy Cuba và áp đặt một lệnh phong tỏa gần như không thể xuyên thủng và làm suy yếu nền kinh tế Mỹ. Người Anh phụ thuộc vào ngũ cốc của Mỹ, và không thể loại trừ khả năng họ sẽ tìm cách kiểm soát nguồn xuất khẩu ngũ cốc từ vùng Trung Tây ngõ hầu đảm bảo an ninh kinh tế cho chính họ. Nỗi lo sợ sức mạnh của Anh đã là động lực định hình cuộc Nội chiến Mỹ và nhiều thập niên sau đó.

Cuba là mấu chốt. Nếu nằm trong tay một cường quốc thù địch với Mỹ, Cuba có thể trở thành con dao đâm thẳng vào Mississipi cũng như cướp lấy New Orleans. Sự yếu kém của người Tây Ban Nha khiến người Mỹ lo sợ. Bất cứ một cường quốc châu Âu nào – như nước Anh, hay sau đó vào năm 1871 là Đức – đều có thể dễ dàng hất cẳng Tây Ban Nha khỏi Cuba. Và nước Mỹ khi ấy chưa có hải quân mạnh, sẽ không đủ sức để đối phó. Giành lấy Cuba vì thế trở thành nhiệm vụ sống còn trong chiến lược của Mỹ. Theodore Roosevelt trên cương vị tổng thống đã nhìn thấy trước nước Mỹ sẽ nổi lên thành một cường quốc hải quân, ông đã góp phần vào việc xây dựng thành công kênh đào Panama vốn có vai trò quan trọng đối với một lực lượng hải quân hoạt động trên hai đại dương, và ông cũng là người hùng trong cuộc chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ (1898-1900) khi Mỹ giành được Cuba.

Với việc chiếm được Cuba, con đường trung chuyển New Orleans-Đại Tây Dương được đảm bảo. Nước Mỹ duy trì kiểm soát Cuba cho đến khi Fidel Castro nổi lên. Nhưng từ lâu nước Mỹ đã lo ngại về an ninh của Cuba. Tự thân hòn đảo không thể đe dọa đến các tuyến đường vận chuyển. Nhưng nếu nằm trong tay một cường quốc thù địch, Cuba có thể trở thành bàn đạp để bóp nghẹt nước Mỹ. Trước Thế chiến II, khi cảm nhạn được ảnh hưởng của Đức ở Cuba, Mỹ đã làm mọi cách để đưa Fulgencio Batista lên nắm quyền; người vẫn được coi là đồng minh, hay có người coi là con rối của Mỹ, tùy cách nhìn nhận vấn đề. Nhưng điểm mấu chốt nằm ở chỗ: bất cứ khi nào một cường quốc khác quan tâm tới Cuba, nước Mỹ phải phản ứng, và nước Mỹ đã phản ứng hiệu quả cho tới khi Castro lên nắm quyền năm 1959.

Ảnh hưởng của Liên Xô

Nếu Liên Xô muốn tìm một địa điểm để từ đó đe dọa lợi ích của Mỹ thì không đâu lý tưởng bằng Cuba. Vì thế, dù cho Fidel có là người cộng sản trước khi lên nắm quyền ở Cuba hay không thì có vẻ là sau rốt kiểu gì ông cũng trở thành một đồng minh của phe cộng sản. Tôi nghĩ rằng ông ta đã là một người cộng sản nhiều năm trước khi lên cầm quyền nhưng khôn khéo che giấu việc đó vì biết rằng một nhà cầm quyền cộng sản công khai ở Cuba sẽ làm sống lại mối lo sợ của Mỹ. Cũng có thể ông không là cộng sản nhưng rồi đã ngả về phía Liên Xô vì lo sợ Mỹ can thiệp. Nước Mỹ vốn không hiểu hết được cuộc cách mạng Cuba đã tự động tiến tới gia tăng kiểm soát. Castro, là một người cộng sản, nhà cải cách nông nghiệp hay gì đi chăng nữa, cũng cần một đồng minh để chống lại sự can thiệp của Mỹ. Dù sự sắp đặt ấy đã được lên kế hoạch nhiều năm, như tôi nghi ngờ, hay chỉ là chớp nhoáng, thì hẳn Liên Xô cũng coi đây là mối tơ duyên trời cho.

Nếu Liên Xô không đặt vũ khí hạt nhân ở Cuba thì trong Chiến tranh Lạnh kiểu gì Mỹ cũng vẫn sẽ phản đối một đồng minh nào đó của Liên Xô kiểm soát Cuba. Đây là vấn đề đã ăn sâu bén rễ vào tư duy địa chính trị Mỹ. Nhưng thực tế là Liên Xô đã lắp đặt tên lửa ở Cuba, một câu chuyện chúng ta phải kể đến.

Không lực Liên Xô thiếu máy bay đánh bom chiến lược tầm xa. Trong Thế chiến II, Liên Xô chỉ tập trung vào tầm ngắn, máy bay hỗ trợ cho các chiến dịch trên bộ. Nước Mỹ đã từng có rất nhiều kinh nghiệm đánh bom tầm xa từ những lần giao tranh với Đức và Nhật trên không. Vì thế, trong thập niên 1950, Mỹ đặt căn cứ không quân ở châu Âu và sau đó là căn cứ B-52 ở lục địa Mỹ giúp nước Mỹ có thể tấn công Liên Xô bằng vũ khí hạt nhân. Liên Xô khi đó không có đội hình máy bay đánh bom tầm xa nên không thể trả đũa nước Mỹ. Cân bằng quyền lực hoàn toàn nghiêng về hướng có lợi cho Mỹ.

Liên Xô muốn nhảy cóc, từ xây dựng một đội hình máy bay đánh bom có người lái sang tên lửa đạn đạo xuyên lục địa. Đầu thập niên 1960, thiết kế các tên lửa loại này đã có nhiều bước tiến, nhưng việc lắp đặt thì chưa. Liên Xô vẫn chưa có công cụ ngăn chặn hiệu quả chống lại một cuộc tấn công hạt nhân từ Mỹ ngoại trừ một hạm đội tàu ngầm đã lỗi thời. Không khí thù địch giữa Mỹ và Liên Xô khi ấy vô cùng căng thẳng, và Mát-xcơ-va không thể không tính tới chuyện Washington sẽ lợi dụng thời cơ để tấn công Liên Xô mà không sợ bị trả đũa.

Liên Xô đã có dàn tên lửa đạn đạo tầm trung hiệu quả. Mặc dù số tên lửa này không thể bắn tới Mỹ từ Liên Xô, nhưng chúng có thể bao quát gần như toàn bộ lãnh thổ Mỹ từ Cuba. Liên Xô cần một ít thời gian để lắp đặt một dàn tên lửa đạn đạo lớn cùng lực lượng tàu ngầm. Cuba là địa điểm hoàn hảo để triển khai dàn tên lửa ấy. Nếu thành công, Liên Xô sẽ đập tan cơ hội của Mỹ bằng cách đặt một lực lượng răn đe ở Cuba. Nhưng Liên Xô đã bị phát hiện trước khi thực hiện được ý đồ. Mỹ đe dọa xâm lược Cuba, Liên Xô buộc phải tính đến chuyện Mỹ sẽ đe dọa tiến hành một cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu vào Liên Xô và họ đã phải xuống nước. Như chúng ta đều biết, Mỹ không có ý định tiến hành một cuộc tấn công nào như thế, nhưng Liên Xô không thể không dè chừng.

Cuba hằn sâu vào tư duy chiến lược của Mỹ ở hai tầng nấc. Tự thân nó chưa bao giờ là mối đe dọa với Mỹ. Nhưng dưới sự kiểm soát của một cường quốc hải quân, Cuba có thể bóp nghẹt nước Mỹ. Sau khi Liên Xô cố gắng triển khai dàn tên lửa đạn đạo tầm trung tại đó, một tầng nấc nữa được tạo ra trong đó Cuba là mối đe dọa tiềm tàng đối với lục địa Mỹ cũng như đối với các tuyến giao thương. Mỹ và Liên Xô đã thỏa thuận với nhau, theo đó Mỹ cam kết không xâm lược Cuba và Liên Xô cam kết không đặt vũ khí hạt nhân ở nước này.

Nhưng Cuba vẫn luôn là vấn đề với Mỹ. Nếu như xảy ra chiến tranh ở châu Âu, Cuba có thể trở thành một căn cứ đe dọa sự kiểm soát của Mỹ ở vùng biển Caribe và theo đó là khả năng vận chuyển tàu chiến từ Hạm đội Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương. Nước Mỹ chưa bao giờ nới lỏng sức ép đối với Cuba, cũng như Liên Xô cứ dùng nước này làm căn cứ cho nhiều thứ ngoài vũ khí hạt nhân (chúng tôi đồ vậy), và chế độ của Castro thì cứ bám lấy Liên Xô để có được an ninh trong khi nước này ủng hộ các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (theo cách gọi của Cuba) ở các nước Mỹ Latinh và châu Phi phục vụ những lợi ích chiến lược của Liên Xô.

Cuba hậu Xô-viết

Với sự sụp đổ của Liên Xô, Castro mất đi người bảo trợ và đảm bảo chiến lược cho mình. Mặt khác, Cuba không còn là mối đe dọa đối với Mỹ nữa. Có một thỏa hiệp bất thành văn là mặc dù Cuba không còn là mối đe dọa với Mỹ nhưng do trên lý thuyết thì nước này vẫn có thể trở thành mối đe dọa nên Washington sẽ không chấm dứt thù địch với Havana nhưng cũng sẽ không tích cực tìm cách lật độ (chế độ ở) nước này. Về phần mình, chính phủ Cuba cam kết không làm cái mà thực sự nước này không thể làm: đó là trở thành mối đe dọa chiến lược đối với Mỹ. Cuba sẽ vẫn là một sự phiền phức ở những nơi như Venezuela, nhưng một sự phiền phức không phải là mối đe dọa chiến lược. Vì thế, mối quan hệ giữa hai nước vẫn đóng băng.

Kể từ thương vụ Louisiana, Cuba luôn là mối đe dọa tiềm tàng đối với nước Mỹ khi nước này liến kết với hoặc bị kiểm soát bởi một cường quốc châu Âu. Vì thế nước Mỹ thường xuyên cố gắng định hình chính sách của Cuba và từ đó là chính sách đối nội của nước này. Fidel Castro muốn chấm dứt ảnh hưởng của Mỹ, nhưng ông chỉ làm được điều đó bằng cách liên kết với một cường quốc khác: Liên Xô. Cuba muốn độc lập với Mỹ lại cần phụ thuộc vào Liên Xô. Và việc đó, cũng giống tất cả các mối quan hệ, đều có cái giá của nó.

Việc trao đổi tù nhân là rất thú vị. Việc mở đại sứ quán là quan trọng. Nhưng những câu hỏi lớn vẫn chưa có lời đáp. Hiện tại, không có cường quốc nào có khả năng lợi dụng vị trí địa lý của Cuba (ngay cả Trung Quốc). Vì vậy không có vấn đề nghiêm trọng nào. Nhưng ai mà biết được tương lai sẽ ra sao. Cuba thì muốn bảo vệ chính quyền của mình và đang tìm cách giảm sức ép từ phía Mỹ. Hiện tại, Cuba thực sự không đáng lo ngại lắm. Nhưng rồi mọi việc qua đi, và không ai có thể dám chắc nước này lại không trở thành một mối bận tâm lớn. Vì vậy, nước Mỹ luôn một mực đòi có thay đổi chế độ ở Cuba trước rồi mới nới lỏng sức ép. Nhưng khi Cuba quyết tâm giữ vững sự tồn tại của chế độ thì người Cuba có thể trao đổi thứ gì đây? Họ có thể hứa hẹn suốt đời trung lập, nhưng những hứa hẹn như thế chẳng có mấy giá trị.

Cuba cần cải thiện quan hệ với Mỹ, đặc biệt là trong trường hợp chính phủ Venezuela sụp đổ. Trên lý thuyết, nền kinh tế khốn đốn của Venezuela có thể thúc đẩy sự thay đổi chế độ ở Cuba do sức ép bên trong. Hơn nữa, Raul Castro đã già rồi còn Fidel Castro thì đã gần đất xa trời. Nếu chính quyền Cuba muốn tiếp tục tồn tại, nó phải được bảo vệ ngay bây giờ, bởi chẳng ai biết ai sẽ kế nhiệm hai anh em Castro. Nhưng nước Mỹ có thời gian, và mối quan ngại của Mỹ đối với Cuba đã ăn vào xương tủy. Do không có lợi ích gì nên việc duy trì sức ép hiện nay là không cần thiết, nhưng Washington cũng không cần hấp tấp lơi lỏng Havana. Obama muốn để lại di sản đối ngoại nào đó, nhưng logic tình hình hiện nay cho thấy Cuba cần bình thường hóa hơn Mỹ, và cái giá mà người Mỹ đặt ra cho bình thường hóa quan hệ sẽ cao hơn so với vẻ bề ngoài bây giờ, dù cái giá đó do ông Obama hay người kế nhiệm ông đưa ra.

Chúng ta còn lâu mới ngã ngũ được cuộc tranh cãi liên quan đến vị trí của Cuba và thực tế rằng vị trí ấy vẫn có khả năng đe dọa lợi ích của Mỹ. Bởi thế, những bước đi ban đầu chỉ là khởi đầu. Vẫn còn cả một chặng đường dài phía trước.

Tiến sĩ George Friedman là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty Tình báo Toàn cầu Stratfor, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như The Next 100 Years (đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên “Thế giới 100 năm sau”), The Next Decade, America’s Secret War…

Nguồn: George Friedman, “The Geopolitics of U.S. – Cuba Relations”, Stratfor, 23/12/2014.

Biên dịch: Nguyễn Quang Khải | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Tại sao Cuba – Mỹ quyết định bình thường hóa quan hệ?


cuba us migration crop

Nguồn: Jorge G. Castañeda, “Why Cuba Turned,” Project Syndicate, 19/12/2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Cuộc điện thoại giữa Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raúl Castro, theo sau là cuộc trao đổi một tù nhân Mỹ để đổi lại ba nhân viên tình báo Cuba bị giam giữ tại Mỹ, đánh dấu thời điểm quan trọng nhất trong quan hệ song phương nhiều thập kỷ qua. Không lâu sau đó, Mỹ và Cuba thông báo rằng họ sẽ bắt đầu quá trình khôi phục quan hệ ngoại giao đầy đủ.

Thoạt nhìn, thỏa thuận này có vẻ là một thắng lợi lớn của Cuba với việc Mỹ cuối cùng cũng phải từ bỏ nỗ lực cô lập hòn đảo cộng sản này. Thực tế có phần phức tạp hơn thế.

Thứ nhất, đây không phải là sự kết thúc lệnh cấm vận thương mại của Mỹ vốn chỉ Quốc hội mới có thể dỡ bỏ. Quan hệ giữa hai nước cũng không hoàn toàn bình thường hóa; sẽ có đại sứ quán, nhưng không có đại sứ.

Nhưng chắc chắn thỏa thuận này, do Vatican và Canada làm trung gian, là một bước tiến quan trọng. Người Mỹ không phải gốc Cuba sẽ có thể tới Havana dễ dàng hơn. Các giao dịch ngân hàng giữa hai nước cũng có thể được thực hiện. Một số vấn đề về thương mại sẽ được giải quyết. Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ loại Cuba khỏi danh sách các quốc gia mà nó cáo buộc là hỗ trợ cho khủng bố.

Về phần mình, đúng là Cuba có vẻ phải nhượng bộ rất ít. Ngoài thả tự do một người Mỹ, Alan Gross, Castro còn đồng ý thả 53 tù nhân chính trị, nới lỏng các hạn chế về mạng Internet, và cho phép các quan chức về nhân quyền của Liên Hợp Quốc và các quan sát viên đến từ Hội Chữ thập đỏ Quốc tế vào Cuba. Đây chắc chắn là những nhượng bộ, nhưng không phải lớn lao gì khi xem xét những thứ Cuba có thể đạt được khi nối lại quan hệ ngoại giao sau một nửa thế kỷ bị cô lập.

Thế nhưng Cuba đang gặp khó khăn do một yếu tố quan trọng vốn có lẽ đã thúc đẩy quyết định của Castro: sự sụt giảm gần đây của giá dầu. Một loạt các yếu tố – như mức tăng ngoạn mục trong sản xuất dầu lửa và khí đốt của Mỹ, suy thoái ở châu Âu và Nhật Bản, quyết định giữ công suất khai thác dầu của Ả-rập Xê-út, và suy giảm kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ – đã dẫn đến nguồn cung dư thừa. Và hai nước bị ảnh hưởng nhiều nhất chính là những quốc gia mà trong lịch sử Cuba từng phụ thuộc vào để giữ nền kinh tế của mình sống sót: Nga và Venezuela.

Trong hai nước, Venezuela và những rắc rối của nó đe dọa nhiều nhất đến sự ổn định của Cuba. Nga đã thôi viện trợ đáng kể cho Cuba kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Nhưng Venezuela, dưới thời cố Tổng thống Hugo Chávez, từng là người bảo trợ quan trọng, gửi cho Cuba khoảng 100.000 thùng dầu mỗi ngày, cùng một khoản viện trợ 5-15 tỉ đô la mỗi năm.

Những khoản viện trợ này khó có thể tiếp tục. Quả thật, không phải ngẫu nhiên mà các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Cuba bắt đầu không lâu sau khi Chávez qua đời năm 2013. Chắc chắn rằng nếu không còn trợ cấp từ Venezuela, Cuba sẽ một lần nữa rơi vào suy thoái, như nó đã từng gặp phải sau khi viện trợ từ Nga suy giảm hồi đầu những năm 1990.

Điều này khiến Cuba rất dễ bị tổn thương. Cải cách kinh tế rõ ràng đã không đem lại những hiệu quả như mong muốn. Thu nhập giảm. Thiếu hụt (hàng hóa) trên diện rộng khiến lạm phát tràn lan, với nguy cơ siêu lạm phát ngày một tăng. Tỉ giá giao dịch ngoại tệ trên thị trường chợ đen chỉ cao hơn 3% so với tỉ giá chính thức một chút. Một biến động chính trị lớn đang ngày càng trở nên khả dĩ.

Trong cuốn Back Channel to Cuba: The Hidden History of Negotiations Between Washington and Havana , William LeoGrande và Peter Kornbluh đã mô tả việc Cuba liên tục từ chối đưa ra những nhượng bộ chính trị để đổi lại việc chấm dứt lệnh cấm vận hay bình thường hóa quan hệ ngoại giao như thế nào. Và quả thực, Castro đã không hề đưa ra bất cứ nhượng bộ chính trị nào trong thỏa thuận được công bố gần đây.

Nhưng những tính toán kinh tế gần đây cho thấy sự thay đổi như thế rất có thể sẽ sớm xảy ra. Khi không có một người bảo trợ giàu có và hào phóng, sự phục hồi của nền kinh tế Cuba sẽ phụ thuộc vào việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ ngoại giao với Mỹ, điều chắc chắn không thể xảy ra nếu không có những thay đổi lớn về dân chủ và quyền con người.

Khi lịch sử hiện tại được viết nên, có thể hóa ra không phải việc sử dụng vũ lực hay nỗ lực của các nhà ngoại giao, mà rốt cuộc chính sự can thiệp vô tư của những ông trùm dầu mỏ xa xôi ở Bắc Dakota và Bán đảo Ả-rập đã khiến Cuba của Castro cuối cùng phải mở cửa.

Jorge G. Castañeda là Ngoại trưởng Mexico giai đoạn 2000-2003, sau khi cùng đối thủ ý thức hệ của ông, Tổng thống Vicente Fox, tạo nên chính phủ dân chủ đầu tiên của nước này. Ông hiện là giáo sư ngành Chính trị học và ngành Nghiên cứu Mỹ Latinh và Caribe tại Đại học New York, và là tác giả của cuốn “The Latin American Left After the Cold War” và “Compañero: The Life and Death of Che Guevara.”

Nguồn: Jorge G. Castañeda, “Why Cuba Turned,” Project Syndicate, 19/12/2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Khi Trung Quốc đáp trả sự sỉ nhục của phương Tây


schell_1-102314_jpg_600x626_q85

Khi Đặng Tiểu Bình đến thăm Căn cứ Không quân Andrews gần thủ đô Washington vào năm 1979, đất nước Trung Quốc mới chỉ thức dậy sau một thời gian dài chìm trong giấc ngủ của cuộc Cách mạng Văn hóa. Không nhiều người biết rõ thân thế của nhà lãnh đạo Trung Quốc có chiều cao chưa đầy mét rưỡi này. Ông bất ngờ quay trở lại sân khấu chính trị sau hai lần bị Mao Trạch Đông cách chức. Bản thân Mao đã từng có câu nói nổi tiếng mô tả Đặng là “một cái kim nằm trong bọc.” Tuy nhiên, vào năm 1979, Đặng hiểu rõ mình muốn gì: đó là một mối quan hệ tốt đẹp hơn với Hoa Kỳ. Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Jimmy Carter đã tỏ ra hết sức nghiêm túc trong việc giải quyết những khác biệt giữa hai bên. Trong thời gian làm công việc đưa tin về những buổi họp giữa Đặng và Carter, tôi có ấn tượng là hai vị lãnh đạo này đã coi mình đang diễn xuất trong một bộ phim tình bằng hữu, và cùng nhân cơ hội này để truyền tải một thông điệp rõ ràng rằng họ đã sẵn sàng để hợp tác.“Ngày hôm nay chúng ta tiến thêm một bước nữa trong tiến trình bình thường hóa quan hệ mang tính lịch sử giữa hai nước mà chúng ta đã bắt đầu từ năm nay,” Carter nói trong bài phát biểu chào mừng Đặng tại buổi chiêu đãi cấp nhà nước tổ chức ở Nhà Trắng.

Chúng ta cùng chia sẻ niềm hy vọng nảy mầm từ sự hòa giải những bất đồng trong quá khứ và từ viễn cảnh đầy hy vọng của một chuyến đồng hành trong tương lai… Chúng ta hãy cùng cam kết rằng cả Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ cho thấy sự hiểu biết, lòng kiên nhẫn và sự quyết tâm cần thiết để mối quan hệ mới giữa hai quốc gia chúng ta có thể tồn tại và duy trì.

Sau đó hai nhà lãnh đạo khởi hành đến Atlanta, Houston và Seattle với một kỷ niệm không thể nào quên ở Simonton, Texas. Khi Đặng tham dự vào một buổi biểu diễn, một nữ cao bồi đã cưỡi ngựa phi nước đại đến trước chỗ ngồi của Đặng và tặng ông một chiếc mũ cao bồi. Khi Đặng đội chiếc mũ biểu tượng của người Mỹ lên đầu, nó gần như che mất tầm nhìn của ông ta. Nhưng Đặng đã đạt được mục tiêu: cho người dân hai nước thấy những gì đã qua chỉ còn là quá khứ và bây giờ là thời điểm bắt đầu của một giai đoạn hoàn toàn mới.

Đặng Tiểu Bình tại Simonton, Texas, 2/1979. Nguồn: AP

Thậm chí đến ngày hôm nay những bức ảnh chụp những sự kiện kể trên vẫn còn truyền tải nguyên vẹn tình bằng hữu và ý nghĩa lớn lao khi hai nhà lãnh đạo đã gạt ngờ vực sang một bên và tin tưởng nhau đến mức cho phép giao lưu theo những cách hoàn toàn mới mẻ. Dù vậy, những nỗ lực của họ chỉ đưa đến thay đổi phần nào cho mối quan hệ. Một điều mà “quá trình bình thường hóa” đã không và không thể thay đổi là hình thái nhà nước độc đảng theo kiểu Leninist của Trung Quốc. Thêm vào đó, bởi vì hai hệ thống chính trị cũng như hệ thống giá trị giữa hai nước vẫn còn đối lập nhau, một rào cản bất đồng to lớn vẫn còn tồn tại. Dẫu vậy, lần gặp gỡ này vẫn tạo cảm giác thân tình khi nó giúp Đặng và Carter có thể hình dung được rằng (dù theo những cách khác nhau) hai quốc gia và hai xã hội vẫn có thể dần dần tìm ra nhiều lĩnh vực có thể hợp tác hơn.

Dù Trung Quốc chưa bao giờ có được một nhà nước dân chủ thực sự, từ thời lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch cho đến thời của Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương và Đặng Tiểu Bình, nhưng các nền dân chủ trên thế giới vẫn có thể tạm hài lòng với niềm hy vọng mơ hồ rằng chừng nào mà Trung Quốc còn mở cửa – và có lẽ cùng với sự trợ giúp từ thị trường mở, trao đổi học thuật, các khoản từ thiện của Mỹ, vv… – Trung Quốc sẽ có thể dần trở nên dân chủ hơn.

Những giấc mơ này dường như đã được xác thực khi Bức tường Berlin sụp đổ và khối Liên Xô tan rã. Nhưng trong khi những sự kiện kịch tính này làm phương Tây hài lòng, chúng đã khiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc kinh ngạc và hoảng sợ. Họ không hề vừa lòng khi Tổng thống Bill Clinton, khi nói về sự kiện Thiên An Môn năm 1989 trong chuyến công du Trung Quốc năm 1997, đã chỉ trích Trung Quốc một cách trịch thượng vì đã “đi vào lề trái của lịch sử.” Khi đó Tổng bí thư Giang Trạch Dân chẳng có lựa chọn nào khác ngoài phải im lặng lắng nghe.

Đằng sau chuyến thăm của cựu Tổng thống Carter

Nhưng hóa ra lịch sử không hẳn nghiêng về phương Tây như ông Clinton đã nghĩ. Mặc dù biểu hiện bên ngoài chưa rõ ràng, nhưng thực chất giấc mơ về một Trung Quốc dân chủ hơn đã gần như bị triệt tiêu kể từ vụ thảm sát Thiên An Môn, khi nó tạo ra một tâm lý đề phòng cao độ, không-bao-giờ-cho-phép-tái-diễn trong nội bộ Đảng. Sự kiện Tập Cận Bình trở thành Chủ tịch nước và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản năm 2013 đã giáng một đòn kết liễu xuống niềm hy vọng cải cách bộ máy chính trị tại đây của cả phương Tây và người Trung Quốc.

Dựa vào thực tế hiện nay, có thể rút ra được thông điệp mới của Đảng là: “Bởi vì Trung Quốc tuyệt đối chối bỏ mọi hình thái nhà nước dân chủ kiểu phương Tây do chúng không phù hợp với Trung Quốc, người Mỹ nên từ bỏ thứ giấc mơ truyền giáo của họ nhằm đưa tuyển cử, nhân quyền và dân chủ đến Trung Quốc đi. Những điều các người đang nhìn thấy cũng chính là những gì các người sẽ nhận được! Chúng tôi không muốn thay đổi bất cứ điều gì.”

Tại cuộc gặp giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình được tổ chức tại biệt thự Sunnylands vào tháng 6 năm 2013, ông Tập có lẽ đã cố gắng lặp lại kỳ tích năm xưa thời Carter-Đặng khi bày tỏ mong muốn chứng kiến hai quốc gia hình thành một “mối quan hệ cường quốc kiểu mới.” Ông ta ám chỉ rằng mỗi bên nên chấp nhận tình hình thực tế của đối phương. Ý tưởng này của Tập chưa bao giờ được đón nhận.

Tuy nhiên trong tháng 9 vừa qua, Jimmy Carter, người có công giúp khởi động quan hệ Mỹ-Trung, đã quay trở lại Trung Quốc. Đây chẳng phải là cơ hội tốt để khôi phục bầu không khí tôn trọng lẫn nhau như xưa và để cùng nhau tìm kiếm những bước tiến mới trước khi ông Obama đến Trung Quốc vào tháng 11 hay sao? Còn ai phù hợp hơn Carter trong việc góp phần cải thiện một mối quan hệ mà giờ đây chồng chất những tranh chấp, căng thẳng và hoài nghi, thêm vào đó là để đạt được một mối quan hệ “kiểu mới”?

Tôi chấp nhận lời mời cùng đi với Carter trong chuyến thăm lần này. Dĩ nhiên, so với năm 1979, Trung Quốc đã phát triển vượt bậc về nhiều mặt và quá trình thể chế hóa quan hệ song phương với Hoa Kỳ đã đạt được những biến chuyển tích cực. Nhưng đáng kinh ngạc không kém chính là những ngờ vực về động cơ và ý đồ vẫn còn tồn tại nguyên vẹn giữa hai bên. Thực vậy, nhìn vào tình hình hiện nay, ta chỉ có thể đi đến kết luận rằng hai nước đang ngày càng rời xa nhau, đây là một thực tế rõ ràng thậm chí trước cả khi Carter đáp máy bay xuống Bắc Kinh. Lý do gì đã dẫn đến tình trạng này?

Carter lần đầu đến Trung Quốc vào năm 1949, với tư cách là một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phục vụ trên một tàu ngầm của Hoa Kỳ đang ghé thăm Thanh Đảo và Bắc Kinh vào thời điểm chỉ mấy tháng trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Ba thập niên sau, vào ngày 15 tháng 12 năm 1978, sau một loạt cuộc thương thảo bí mật kéo dài và cực kỳ gian truân, Carter khiến cả thế giới kinh ngạc khi thông báo Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ tái thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường. Bất chấp sự phản đối gay gắt từ Quốc hội Mỹ – Thượng Nghị sĩ Barry Goldwater đã buộc tội ông đã “lừa dối, khinh thường Quốc hội, và bán rẻ Đài Loan” – sáu tuần sau đó Đặng Tiểu Bình xuất hiện tại Nhà Trắng.

Khi Carter quay trở lại Bắc Kinh vào tháng 9 để dự lễ kỷ niệm 35 năm “bình thường hóa quan hệ,” điểm dừng chân đầu tiên của ông là Đại học Nhân dân Trung Quốc. Tôi đã tưởng rằng đây là một cơ hội không chỉ để ca ngợi vai trò của Carter trong quan hệ Mỹ-Trung mà còn để ông bày tỏ quan điểm về những sự kiện sau khi bình thường hóa và gặp gỡ các sinh viên. Nhưng thay vào đó, chúng tôi nhận thấy mình bị nhét vào một hội thảo về nền tài chính toàn cầu do trường tổ chức, đó là một trong vô số những cuộc hội thảo kinh doanh ngày nay đang ngập tràn ở Trung Quốc bởi chủ đề này nằm trong diện an toàn. Chỉ sau bài phát biểu không có gì đặc sắc của ông hiệu trưởng và một cựu chuyên viên về đầu tư của Liên Hợp Quốc người Argentina, Carter mới có thể có một bài nói chuyện ngắn và sau đó chỉ có một câu hỏi được đặt ra trực tiếp cho ông.

Hóa ra Carter được trả tiền cho bài nói chuyện này, điều này khiến chuyến thăm lần này chỉ như một chặng dừng trong nỗ lực không ngừng nghỉ trên phạm vi toàn cầu của ông nhằm duy trì nguồn quỹ cho Trung tâm Carter. Nhìn cựu Tổng thống Hoa Kỳ bị đối xử một cách hờ hững ta mới thấy rõ được rằng cán cân quyền lực giữa hai quốc gia đang dần dịch chuyển như thế nào: ngày nay không chỉ có phương Tây mới là những kẻ giàu có. Và thực tế, Trung Quốc được dự báo là sẽ sớm vượt Mỹ về GDP.

Sự dịch chuyển quyền lực mang tính cấu trúc trong quan hệ Mỹ-Trung còn thể hiện ra theo nhiều cách khác. Dù Carter trước đó đã gặp Tập Cận Bình bốn lần, trong chuyến thăm lần này ông không gặp cả Tập hay Thủ tướng Lý Khắc Cường; điều này thật kỳ lạ, bởi nếu họ thực sự mong muốn quan hệ Mỹ-Trung trở nên tốt đẹp hơn thì tại sao họ lại bỏ qua một nhân vật đã từng làm rất nhiều điều để cải thiện mối quan hệ này?

Thêm vào đó, người Trung Quốc trước đó đã không nể nang khi không cho phép một thành viên trong đoàn của Carter đứng lên phát biểu trong một diễn đàn được tổ chức tại Đại lễ đường Nhân dân. Bản thân ông Carter cũng nhanh chóng nhận ra rằng nhiều tổ chức đón tiếp chính thức tại Trung Quốc đã phải hủy bỏ hoặc tổ chức lại một số sự kiện tại Thượng Hải và Thanh Đảo. Và nữa, một cuộc gặp của Trung tâm Carter dành cho Diễn đàn Học giả trẻ của Hoa Kỳ và Trung Quốc trong chương trình Quan hệ Mỹ-Trung bị dời địa điểm tổ chức khỏi Đại học Giao thông Thượng Hải cơ sở ở Tây An đến một khách sạn.

Trung Quốc lãnh đạm với Carter

Phái đoàn Carter hay báo giới đã không thể lý giải nguyên nhân tại sao những thay đổi kể trên lại được phép xảy ra, bất chấp chúng làm tổn hại đến mục đích của chuyến thăm. Có lẽ chiến dịch chống tham nhũng đang được tiến hành ở Trung Quốc đã làm những nhà tổ chức sự kiện lo lắng. Cũng có thể bởi các quan chức tại đây biết được Carter từ lâu rất tận tâm với vấn đề nhân quyền quốc tế và dân chủ, và vì vậy họ lo sợ sẽ xảy ra một sự cố không hay nào đó.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người ngoại quốc luôn gặp rất nhiều khó khăn trong việc bày tỏ mối bất bình tại Trung Quốc. Tất cả các đại sứ quán, doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức phi chính phủ và các cơ quan truyền thông nước ngoài đều nhận thức đươc rằng, ở đây người ngoại quốc phải chấp nhận cảnh cho gì nhận nấy. Phàn nàn nhiều quá sẽ chỉ nhận lại sự trì hoãn hoặc hủy bỏ hợp đồng, visa, chương trình, kế hoạch gặp mặt và các chương trình giao lưu.

Đoạn cao trào nhất trong chuyến thăm của Carter diễn ra tại buổi yến tiệc trong Đại lễ đường Nhân dân, một công trình kiến trúc rộng và đầy khoảng trống có hình dạng giống hầm mộ được “nhân dân” chóng vánh xây nên trong vòng mười tháng trong Phong trào Đại Nhảy vọt năm 1959 khi có khoảng 30-40 triệu người đang bắt đầu dần chết đói. Đây là một trong số những công trình mang tính lịch sử, có ý nghĩa hết sức quan trọng của quá trình mở rộng Quảng trường Thiên An Môn do Mao chỉ đạo. Những căn phòng đồ sộ của nó (mỗi phòng dành riêng cho một tỉnh), tất cả đều được trang trí bằng những bức tranh phong cảnh có kích thước khổng lồ, được tính toán nhằm mục đích khiến người ta cảm thấy nể sợ và choáng ngợp. Thế nhưng bữa tối dành cho ông Carter lại đơn điệu một cách đáng thất vọng. Phó chủ tịch Lý Nguyên Triều chủ trì tiếp đãi bữa yến tiệc này, ông ta có một bài phát biểu ngắn nhưng không còn giữ thái độ nhiệt thành và thân thiện như của những cuộc gặp ba mươi lăm năm về trước.

Trong khi chúng tôi ăn tối giữa một rừng bàn tiệc mà một nửa số đó không có người ngồi, một giáo sư người Trung Quốc thầm nói với tôi rằng cách đây mấy hôm Chủ tịch Tập Cận Bình có cuộc gặp với tổng thống Zimbabwe Robert Mugabe, một người bị cộng đồng quốc tế tẩy chay lên án (còn Tập gọi ông ta là “một người bạn lâu năm của nhân dân Trung Quốc mà chúng ta vô cùng kính trọng”, người mà Trung Quốc “cùng đứng vai kề vai chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa bá quyền”). Ông giáo sư tiếp tục cho biết ông Tập thực ra cũng đang ở Đại lễ đường Nhân dân nâng cốc chúc mừng Quốc vương Malaysia Abdul Halim Mu’adzam Shah ngay tại thời điểm chúng tôi dùng bữa tối. Nhưng ông Tập đã không hề ghé qua buổi chiêu đãi ông Carter để chào lấy một lời.

Không một tờ báo nào trong số sáu tờ báo Trung Quốc mà tôi xem lướt qua vào ngày hôm sau đưa tin về buổi yến tiệc hay chuyến thăm của Carter. Chỉ có duy nhất phiên bản tiếng Anh của tờ China Daily, một tờ báo được người Mỹ làm việc ở Trung Quốc biết đến rộng rãi, là có đề cập chút thông tin, tờ báo này đăng tải một bức ảnh không có mặt Carter mà thay vào đó là đội văn nghệ sinh viên tại buổi yến tiệc, ở dưới là một bài báo ngắn có tiêu đề: “Buổi chiêu đãi vinh danh quan hệ Trung-Mỹ.”

May mắn thay, tối hôm sau chúng tôi được thết đãi một bữa tối được tài trợ bởi tờ Caijing Magazine và bà Đặng Dung, con gái của Đặng Tiểu Bình. Với việc rất nhiều cựu quan chức Trung Quốc trước đây từng làm việc với chính quyền Carter hiện diện ở đây, nghe nói ông cựu tổng thống cùng phu nhân cảm thấy vô cùng hài lòng khi nhìn thấy rất nhiều “bạn cũ,” hầu như tất cả bọn họ nay đều đã rời nhiệm sở.

Tác động nhìn chung của chuyến thăm – và đây cũng là một “tác động” xuất hiện ở rất nhiều chuyến thăm khác giữa người Mỹ và người Trung Quốc – là để khiến cho những vị khách đến thăm cảm thấy việc gây dựng những mối quan hệ thực chất là điều bất khả thi. Trên thực tế, tôi đã nghe được từ những nguồn tin thân cận với Carter rằng ông đã cảm thấy buồn chán đến mức tính đến việc xách va li về nước ngay lập tức.

Yếu tố khiến bữa tối tại Đại lễ đường tạo cho người ta khó chịu hơn cả là cảm giác “sỉ nhục” phảng phất nơi đây. Đảng Cộng sản Trung Quốc từ lâu đã nhấn mạnh những năm tháng trong lịch sử Trung Quốc khi đất nước bị người nước ngoài nhục mạ và bóc lột. Cảm nhận dường như người Trung Quốc đang muốn trả đũa theo chiều ngược lại khiến tôi chỉ muốn rời bữa tiệc tối hôm đó ngay từ đầu.

Tại sao Trung Quốc ngạo mạn?

Trong lúc tôi đi bộ khỏi Đại lễ đường để đến Quảng trường Thiên An Môn cùng với một học giả người Hoa gốc Mỹ, trên con đường được thắp sáng như thể để trang hoàng cho đêm Giáng Sinh, chúng tôi đồng tình với nhau rằng thật đáng thất vọng khi chứng kiến không chỉ riêng việc Carter bị ngăn không cho tiếp xúc chính thức và tư cách của ông bị xúc phạm, mà cả việc đây thực chất chỉ là một phần trong chuỗi sự kiện cũng diễn ra theo cách giống như vậy mà gần đây chúng tôi đã tham gia. Hơn thế nữa, chúng tôi cũng cảm thấy bàng hoàng khi thấy Trung Quốc ngày nay chính thức thể hiện cho thế giới hình ảnh một quốc gia đầy ngờ vực, bí ẩn, kẻ cả và khắc nghiệt.

Những hình ảnh này đặc biệt được gửi tới những quốc gia theo nền dân chủ, những nước mà Trung Quốc đặc biệt coi là tiếp tay cho phản động và thậm chí thù nghịch. Có thời kỳ, cách đây chưa lâu, chính người Trung Quốc đã từng chỉ trích phương Tây vì lối xử sự tương tự. Nhưng nếu cách hành xử khi đó của những nước mà Trung Quốc coi là “đế quốc” không giúp gì cho quan hệ của họ với Bắc Kinh, thì chẳng có lý gì để thấy lối hành xử hiện nay của Bắc Kinh lại mang tính xây dựng hơn cả.

Tuy nhiên nhiều quan chức và sĩ quan quân đội của Trung Quốc ngày nay dường như quá tự hào rằng đất nước của họ đã trở nên giàu có và hùng mạnh đến độ họ cảm thấy hầu như nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng có thể dùng vũ lực chống lại Nhật Bản và Việt Nam – và ngay cả âm thầm sỉ nhục một nước Mỹ hùng mạnh – mà không màng đến những hậu quả tiêu cực và thậm chí nguy hiểm có thể xảy ra cho phần còn lại của thế giới khi họ hành xử ngang ngược như vậy. Lúc này đây cả hai phía có lẽ đang cảm thấy ngày một lúng túng với câu hỏi tại sao mọi thứ lại quá khó khăn đến vậy, ngay lúc nước sôi lửa bỏng khi chúng ta cần tìm cách để né tránh những xung đột mà rất nhiều người lo lắng sẽ có thể xuất hiện cùng với sự trỗi dậy của một cường quốc mới.

Thái độ hờ hững ngăn cản hai phía chúng ta thực sự tiếp cận nhau đến từ đâu? Có lẽ là từ một mối quan ngại cho rằng nếu người Trung Quốc tỏ ra quá mềm mỏng và niềm nở, họ có thể sẽ bị hiểu sai thành sự yếu đuối, nhu nhược mà Trung Quốc đã rất vất vả để xóa mờ đi bằng cách nỗ lực vươn đến sự giàu có và quyền lực.

Nguyên nhân thứ hai có lẽ là do nhận thức của Bắc Kinh cho rằng bất chấp tất cả những thành tựu kinh tế nước này đã đạt được, các nước dân chủ kiểu phương Tây không những vẫn tiếp tục coi thường hệ thống quản trị theo mô hình Leninist của Trung Quốc mà còn rất muốn nhìn thấy hệ thống này có những thay đổi về căn bản. Không có gì bất ngờ khi thái độ của phương Tây về các nguyên tắc của Đảng Cộng sản Trung Quốc được nhìn nhận là thứ tác phong trịch thượng, và điều này khiến nhiều người Trung Quốc vốn rất tự tôn cảm thấy vô cùng bực bội.

Giờ đây khi Trung Quốc đang tận hưởng thành tựu của sự phát triển khiến cán cân quyền lực đã và đang nhanh chóng ngả về phía nước này, người Mỹ nhận thấy họ đang đối mặt với một thực tế mới xuất hiện ở Bắc Kinh. Kế hoạch cải cách của Tập Cận Bình giờ đây thậm chí còn không bao gồm một chương trình cải cách chính trị thực chất. Đã xa rồi những ngày các quan chức phải bao biện, “Hãy cho chúng tôi thêm thời gian. Trung Quốc không thể thay đổi tất cả mọi thứ trong một sớm một chiều được.”

Thêm vào đó, việc chứng kiến cảnh tượng một Quốc hội Mỹ tê liệt và các chính phủ châu Âu trượt dốc khiến cho Trung Quốc càng thêm tự tin vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa theo mô hình Leninist cũng như có thêm lý do để bắt đầu thể hiện thái độ cương quyết với thế giới bên ngoài.

Những thất bại của các mẫu hình dân chủ như vậy càng củng cố niềm tin của các quan chức trong Đảng rằng họ đã hoàn toàn đúng đắn khi chối bỏ các sản phẩm của nền dân chủ phương Tây: hệ thống cân bằng và kiểm soát, nền chính trị bầu cử, các giá trị phổ quát, nhân quyền, xã hội dân sự độc lập, nền truyền thông mở, và sự tự do của các nhóm tôn giáo. “Một trong những nhược điểm của nền dân chủ phương Tây mà lâu nay giới lãnh đạo Trung Quốc luôn phê phán là nó dễ dẫn đến trạng thái tê liệt, bế tắc và sau cùng là sự yếu kém của chính quyền,” Tập Cận Bình đã nhận xét như vậy gần đây.

Trước đây, phương Tây từng tin chắc rằng Trung Quốc, trước tác động của thị trường tự do, nền giáo dục chịu ảnh hưởng từ nước ngoài và quyền lực mềm của phương Tây, sớm muộn gì cũng sẽ phải cởi mở hơn về chính trị – điều mà nhiều người phương Tây cho là con đường cách mạng tất yếu (và thậm chí đáng mơ ước) đối với bất kỳ xã hội nào. Nhưng giờ đây, niềm tin này bị các nhà lãnh đạo Trung Quốc thẳng thừng và lớn tiếng bác bỏ với nội dung tóm lược như sau: “Chúng tôi không muốn tham gia vào giấc mơ định hướng mục tiêu của các người! Quan điểm “lề phải của lịch sử” do Tổng thống Clinton đưa ra không nằm trong quan điểm chính thức về “giấc mộng Trung Hoa” của Tổng bí thư Tập Cận Bình chúng tôi!”

Mặt trái của “Giấc mộng Trung Hoa”

“Giấc mộng Trung Hoa” là ý tưởng do Tập khởi xướng, ngày nay được tung hô trên những biển quảng cáo, trạm dừng xe buýt và trên mọi nẻo đường khắp đất nước; giấc mơ này phục vụ cho khát khao lâu đời của Trung Quốc về sự thịnh vượng, quyền lực, nể trọng, và vị thế toàn cầu. Nhưng trong đó không chứa đựng bất cứ khát vọng nào đối với các khái niệm tự do dân chủ và các giá trị nhân văn của phương Tây. Chính cái bóng của những xung đột tư tưởng này và những dịch chuyển quyền lực to lớn ban đầu trong quan hệ đối với châu Á đã hủy hoại chuyến thăm của Jimmy Carter. Dẫu sao, ông cũng là tổng thống Mỹ đầu tiên đưa nhân quyền phổ quát trở thành một trong những tiêu chí trọng tâm khi xây dựng chính sách đối ngoại của Nhà Trắng.

Quyền lực mới của Trung Quốc giờ cho phép đất nước này kháng cự lại hầu hết các hình thức gây sức ép từ bên ngoài. Khi những người từ những vùng đất “man di mọi rợ” như ông Carter đến thăm, các quan chức hàng đầu của Trung Quốc sẽ hào hứng hơn nhiều với việc buộc họ tuân thủ một thứ hệ thống giống như “triều cống” của các vương triều khi xưa, chính hệ thống này đã từng đặt ra những quy tắc ngặt nghèo đối với các sứ thần đến từ các quốc gia phụ thuộc như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Miến Điện. Những vị sứ thần như vậy được cho phép đến Bắc Kinh, chờ đợi được diện kiến với hoàng đế, dâng tặng những lễ vật lên Thiên Tử như những “cống phẩm,” và rồi nhanh chóng lui ra. Họ chưa bao giờ được hưởng vị thế ngang hàng, bởi vì suy cho cùng thì không có cường quốc nào “ngang hàng” được với Trung Quốc mà chỉ có thể kém hơn.

Bởi vì những người Trung Quốc yêu nước đã chờ đợi rất lâu để thấy được ngày đất nước của họ “phục hưng”, nên ta có thể hiểu được tại sao họ lại cảm thấy hân hoan với vị thế ngày một lớn mạnh của đất nước và thèm muốn thể hiện khả năng kháng cự của họ đối với sức ép từ phương Tây, thứ sức mạnh mà họ đã không có được trong một thế kỷ rưỡi.

Tuy nhiên sự cương quyết, cứng nhắc và thái độ chủ nghĩa dân tộc ngày một hằn học hơn của Trung Quốc trong thời gian gần đây đang thổi bùng làn sóng phản kháng trong khu vực ảnh hưởng của nước này. Trên thực tế, một vài người đang đặt ra câu hỏi, “Trung Quốc có bất kỳ bạn bè nào không?”. Những hành động của Trung Quốc cũng đang khiến người ta quan ngại sâu sắc về ý đồ của họ, đặc biệt trong nhóm ủng hộ Trung Quốc mà ta có thể tạm gọi là “phe thỏa hiệp” tại Mỹ và những nơi khác trên thế giới vốn đang nỗ lực để hai nước xích lại gần nhau.

Rất nhiều người ủng hộ Trung Quốc như vậy đang bắt đầu tự hỏi liệu hy vọng về loại hình hợp tác Mỹ-Trung – mục tiêu mà Tổng thống Carter đã cố gắng thúc đẩy ba mươi lăm năm về trước nay được ông nhắc đi nhắc lại ở Bắc Kinh hồi tháng 9 này – liệu bây giờ đã trở thành ngây thơ quá hay không. Thực vậy, ngày càng có nhiều những người ngoại quốc sau môt thời gian tham gia sâu vào các vấn đề của Trung Quốc tỏ ra vỡ mộng và lo lắng về cách cư xử gần đây của quốc gia này. Đặc biệt đáng chú ý là số lượng CEO người nước ngoài, những người từng một thời là nền tảng của mối quan hệ khởi sắc giữa Mỹ và Trung Quốc, bắt đầu tự hỏi liệu họ có còn tương lai nào ở đất nước này hay không.

Chuyến thăm gần đây của Carter là một cơ hội quý giá, được nhiều mất ít cho Trung Quốc để bắt đầu đảo chiều lòng tin đang dần xuống dốc này. Tất cả những gì họ cần làm chỉ là ca ngợi quan hệ đối tác tuyệt vời giữa Carter và Đặng năm 1979 và nói thêm rằng mối quan hệ hệ trọng nhất trong các mối liên kết toàn cầu này giờ cần được tiếp nối.

Thay vào đó, người Trung Quốc lại hết lần này đến lần khác chọn gửi đi những thông điệp gây phức tạp hóa tình hình: “Kể từ bây giờ, các người chơi theo luật của chúng tôi, nếu không các doanh nghiệp nước ngoài sẽ bị hạn chế quyền lợi, các chuyến thăm chính thức sẽ bị hạ thấp tầm quan trọng, visa dành cho các học giả và nhà báo có tư tưởng tự do sẽ bị cấm, và những người tỏ ra có đầu óc mơ mộng đến chuyện dân chủ sẽ bị loại trừ thẳng thừng. Và bởi vì chúng tôi biết rằng chẳng một ai có thể gánh chịu được thiệt hại khi bị đá khỏi thị trường Trung Quốc béo bở, nên chúng tôi ở Bắc Kinh có thể viết lại luật của cuộc chơi này.”

Nói vậy không có nghĩa là Trung Quốc không muốn có một quan hệ tốt đẹp hơn với Mỹ, quốc gia này chỉ muốn xây dựng nó theo cách của họ. Một lý do nữa góp phần vào tình trạng bế tắc này là ở chỗ những quan chức ở Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ hiện không có mấy hứng thú cũng như kinh nghiệm đối với Trung Quốc, và họ cũng bị phân tâm bởi nhiều vấn đề cấp bách khác trên thế giới. Hơn nữa, chúng ta có một vị tổng thống sở hữu một phong thái khá lãnh đạm, cho đến bây giờ vẫn chưa thể làm gì để kết thân với người đồng cấp Tập Cận Bình, cũng là một người dường như rất kín đáo và tiết chế bản thân với một nụ cười bí ẩn.

Nói tóm lại, những quốc gia mà trước đây từng được coi là “phương Tây” ngày nay phải đối mặt với một tình thế ngày càng khó khăn, khi cán cân quyền lực đang thay đổi, đây là một sự thật mà hầu như chưa ai thực sự chú tâm để thừa nhận, chứ chưa nói đến việc tính đến những cách tiếp cận mới đối với Trung Quốc. Chúng ta vẫn còn hoài niệm về những tháng ngày xa xôi, khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn nghe theo lời dặn dò hãy “giấu mình chờ thời” (thao quang dưỡng hối) của Đặng Tiểu Bình. Điều ông ta muốn nói đến trong câu thành ngữ này không phải là Trung Quốc nên mãi mãi kiềm chế bản thân, mà là thời điểm để Trung Quốc thể hiện tham vọng toàn cầu vẫn chưa chín muồi. Dẫu vậy, dường như các nhà lãnh đạo nước này đang ngày càng tin rằng thời cơ ấy cuối cùng cũng đã đến và họ không còn muốn nhấn mạnh đến khái niệm “trỗi dậy hòa bình” nhằm ru ngủ nước khác nữa.

Ẩn đằng sau thái độ gần đây của Trung Quốc là một lời cảnh báo ngầm: “Nếu như Trung Quốc không thể có cái mình muốn một cách hòa bình, thì chúng tôi bây giờ có đủ sức mạnh để đạt được mục đích đó bằng những cách khác, và chúng tôi cũng không ngại phải đụng chạm ai cả.” Lời đe dọa này gợi nhắc đến hình bóng của Vladimir Putin. Thông điệp mà người Trung Quốc dường như muốn gửi đi nhưng không muốn nó quá thẳng thừng (họ luôn là bậc thầy về lối nói bóng gió) là họ muốn được nhìn nhận theo cách mà họ muốn, chứ không phải theo cách của chúng ta. Dù muốn hay không thì đây vẫn chính là thực tế thế giới mới.

Thử thách mới này vẫn còn lạ lẫm với chúng ta và nó đặt ra một câu hỏi hóc búa: Liệu các quốc gia dân chủ phương Tây có thể chấp nhận Trung Quốc đúng như bản chất hiện nay, để chúng ta có thể đối phó hiệu quả hơn với hàng loạt vấn đề toàn cầu mới xuất hiện đang đe dọa tất cả chúng ta như biến đổi khí hậu, bệnh dịch, chủ nghĩa khủng bố, và phổ biến vũ khí hạt nhân hay không?

Nguồn: Orville Schell, “China Strikes Back!”, The New York Review of Books, October 23, 2014 Issue.

Biên dịch: Lương Khánh Ninh | Hiệu đính: Nguyễn Thị Nhung

 

Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Lý Quang Diệu viết về chiến lược Thao quang dưỡng hối của TQ


china-is-the-chinese-dragon-ready-to-show-its-L-sBVUuB

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Tao guang yang hui”, in L.K. Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 28-50.

Biên dịch & Hiệu đính: Phạm Trang Nhung

Tôi gặp Tập Cận Bình lần đầu tiên ở Đại lễ đường Nhân dân trong một chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 11 năm 2007. Ban đầu tôi không yêu cầu gặp ông ta. Tôi đã đề nghị gặp một người khác, nhưng rồi người ta sắp xếp cho tôi gặp ông, như vừa nói. Họ coi ông ở vị trí cao trong danh sách ưu tiên. Đó là lần đầu tiên ông ấy gặp một vị lãnh đạo nước ngoài sau khi được bổ nhiệm vào Thường vụ  Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, một động thái rõ ràng để ám chỉ với thế giới rằng người ta đã dự kiến để ông tiếp quản vị trí của Hồ Cẩm Đào.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là một người cực kì phóng khoáng – cái mà người Trung Quốc hay gọi là đại khí (da qi), ngược với tiểu khí (xiao qi). Ông không phải kẻ hẹp hòi. Ông ấy suy nghĩ kĩ càng về các vấn đề và không muốn khoe khoang hiểu biết của mình. Ông thiếu sự thân thiện của Giang Trạch Dân và cũng không kiểu cách như Hồ Cẩm Đào. Nhưng ông có vẻ trang trọng. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi. Cân nhắc thêm những thách thức và khổ sở mà ông ấy đã trải qua, khi còn trẻ đã bị đưa về nông thôn, tới Thiểm Tây năm 1969, nhưng lại tìm cách để từng bước quay về, không phàn nàn, không cằn nhằn. Tôi muốn đặt ông vào cùng kiểu người với Nelson Mandela.

Ông Tập là cốt lõi của thế hệ lãnh đạo thứ 5 của Trung Quốc tính từ năm 1949. Ông đứng đầu một chính phủ có tiêu chuẩn về năng lực cao ở mọi cấp độ – một phẩm chất có từ thời chế độ quan lại (phong kiến). Hơn thế nữa, các quan chức Trung Quốc lại được tiếp xúc với giáo dục kiểu phương Tây, quen thuộc với thế giới, và nói tiếng Anh trôi chảy. Họ không còn là những người cộng sản theo đúng nghĩa đen của từ này, mà là những người theo chủ nghĩa thực dụng quyết tâm tôi luyện được một quốc gia giàu có, phát triển và có kỹ thuật tiên tiến. Cả bốn lãnh đạo tối cao trước đó đều để lại những dấu ấn riêng. Với Mao Trạch Đông, đó là những cuộc cách mạng liên miên. Với Đặng Tiểu Bình, đó là cải cách và mở cửa. Với Giang Trạch Dân, đó là củng cố và phát triển. Và với Hồ Cẩm Đào, đó là xã hội hài hòa – cụ thể hơn, rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Còn ông Tập sẽ để lại di sản gì?

Kể từ khi tôi thăm Trung Quốc lần đầu năm 1976, tôi đã quyết định là phải cố thăm nước này thường xuyên – mỗi năm một lần nếu có thể. Tôi đã gặp tất cả các vị lãnh đạo tối cao này, từ Mao tới Hồ, và giờ là Tập. Mao là một người đàn ông vĩ đại đã giúp Trung Quốc hồi sinh. Năm 1949, sau 200 năm hỗn loạn, ông ta đứng ở Thiên An Môn và tuyên bố rằng “Người Trung Quốc đã vùng lên”. Là một người cách mạng, Mao chẳng thua kém ai. Ông là bậc thầy về chiến tranh du kích và với các hành động quân sự khéo léo, đã đánh bại Quốc Dân Đảng và thống nhất đất nước. Nhưng liệu ông có phải người hiện đại hóa Trung Quốc? Lịch sử ghi nhận đầy bi thương rằng người đàn ông đã giải phóng Trung Quốc lại gần như đã phá hủy nước này trong Cách mạng Văn hóa. Nếu ông còn sống tiếp, hay nếu Hoa Quốc Phong – người kế nhiệm ngay sau ông và đã thừa hưởng tư tưởng của ông – còn tiếp tục nắm quyền, Trung Quốc sẽ đi theo con đường của Liên Xô. Tôi chỉ có cơ hội gặp Mao khi ông đã kết thúc sự nghiệp, khi ông không còn ở đỉnh cao nhất. Có một người phụ nữ dịch những gì ông nói bằng giọng Hồ Nam cho người phiên dịch để người này dịch lại sang tiếng Anh. Tôi đã chỉ thấy được cái bóng của một người đàn ông huyền thoại.

Thật may cho Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã đảo ngược lộ trình của nước này. Ông ấy tới Singapore năm 1978, sau khi tới Bangkok và Kuala Lumpur. Ông ta muốn chúng tôi tập hợp lại và ngăn chặn việc Việt Nam tấn công Campuchia, và, nếu họ thực sự tấn công Campuchia, thì cản bước họ. Tôi nghĩ chuyến đi đó đã mở mắt cho ông. Hẳn là ông ấy đã kì vọng sẽ thấy ba thủ đô lạc hậu. Đó vốn là ba nước nghèo. Thay vào đó, ông đã thấy ba thủ đô vượt trội so với bất kì thành phố nào ở Trung Quốc. Ông ấy ở Singapore bốn ngày. Khi cửa lên máy bay của ông đóng lại ở sân bay, tôi nói với các đồng nghiệp của mình: “Những báo cáo viên của ông ta sắp phải chịu trận rồi bởi vì ông ta đã thấy một Singapore hoàn toàn trái ngược với những báo cáo ông ta nhận được.” Những bản báo cáo đó hẳn là do những người ủng hộ cộng sản ở đây soạn ra và nó đã bị xuyên tạc.

Ông ấy đã chúc mừng tôi lúc ăn tối và khi tôi hỏi lý do, ông nói: “Các ông có một thành phố thật đẹp, một thành phố xanh” (từ gốc: garden city). Tôi đã cảm ơn ông nhưng lại nói thêm: “Bất kể cái gì chúng tôi làm được, các vị đều có thể làm tốt hơn bởi vì chúng tôi là hậu duệ của những nông dân mất đất ở miền Nam Trung Quốc. Các vị có trí thức, các vị có nhà khoa học, các vị có chuyên gia. Dù chúng tôi làm gì, các vị cũng sẽ làm tốt hơn.” Ông ấy không trả lời tôi mà chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt sắc lẻm và rồi ông tiếp tục và chuyển chủ đề. Đó là vào năm 1978.

Năm 1992, ông xuống Quảng Đông trong chuyến thăm miền nam nổi tiếng nhằm thúc đẩy tầng lớp lãnh đạo tiến hành mở cửa và ông đã nói: “Học tập từ thế giới, và đặc biệt là học tập Singapore rồi làm tốt hơn họ.” Tôi tự nói với mình: “À, ông ấy không quên những gì mình nói.” Thực sự là họ có thể làm tốt hơn chúng tôi.

Ở Singapore, Đặng đã thấy được làm thế nào mà một hòn đảo nhỏ chẳng có tài nguyên thiên nhiên gì lại có thể tạo ra đời sống tốt đẹp cho người dân chỉ bằng cách thu hút đầu tư, quản lý và kĩ thuật của nước ngoài. Ông đã trở về Trung Quốc khi bị thuyết phục rằng cần phải mở cửa nền kinh tế với thế giới. Đó là một thời khắc có vai trò quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, một bước ngoặt chủ chốt mà nước này đã không còn nhìn lại từ đó nữa.

Tôi đã chứng kiến những biến đổi lớn của nước này. Công cuộc xây dựng vật chất đã biến những thành phố cũ nát, không được xây dựng tử tế với cơ sở vật chất nghèo nàn trở thành những thành phố có tàu tốc hành, đường cao tốc và sân bay. Bạn có thể thăm Đại Liên, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Đông, hay Thâm Quyến – giờ chúng có thể sánh với Hong Kong hay bất kì thành phố nào khác trên thế giới. Người Trung Quốc là những người thợ xây và thợ mộc vĩ đại. Tôi chẳng hiểu nổi vì sao họ lại kìm hãm việc này lâu đến thế, dù nó gây hại cho chính họ.

Đặng xứng đáng được ghi công nhiều nhất vì đã đưa Trung Quốc vào một quỹ đạo khác. Khi ông muốn mở cửa, nhiều lãnh đạo cũ đã phản đối. Nhưng ông là người cương quyết. Ông gạt họ sang bên và cứ tiếp tục tiến hành. Nếu không có ông, thì quá trình chuyển đổi đã chẳng diễn ra nhanh như vậy, bởi vì ông là người duy nhất từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh đã không đếm xỉa đến những kẻ hay nghi ngại. Một người đàn ông có vóc dáng nhỏ bé, nhưng lại là một lãnh đạo vĩ đại – không nghi ngờ gì nữa Đặng là lãnh đạo quốc tế ấn tượng nhất mà tôi từng gặp.

Giang Trạch Dân được Đặng Tiểu Bình chọn làm người lãnh đạo kế nhiệm. Là bí thư đảng của Thượng Hải khi diễn ra sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Giang đã trấn áp thành công những cuộc nổi loạn tương tự ở Thượng Hải. Ông là người kiên định xem việc hoàn thành chương trình hiện đại hóa do Đặng khởi xướng là mục tiêu của mình. Tôi vẫn nhớ ông là một người nồng hậu và thân thiện. Ông ta có thể hát vang bài hát tiếng Ý nổi tiếng, O Sole Mio. Và ông ấy chộp lấy tôi và nói: “Ông nghĩ người Mỹ sẽ làm gì chúng tôi?” Tất nhiên, đó là trước khi họ có những mối quan hệ tốt đẹp với người Mỹ. Giờ thì họ chẳng còn cần hỏi tôi câu đó nữa.

Tôi cho rằng Hồ Cẩm Đào là người củng cố (Trung Quốc). Có lẽ có vài thay đổi căn bản đã diễn ra dưới thời ông cầm quyền. Nhưng ông đã có quá nhiều vấn đề cần giải quyết liên quan đến việc củng cố (đất nước), xét đến hàng loạt thách thức mà Trung Quốc phải đối mặt, như là việc di dân giữa thành thị và nông thôn và khoảng cách thu nhập gia tăng. Tôi có ấn tượng rằng ông là một người trầm tính và sâu sắc. Ông không khoa trương, nhưng ông có trí nhớ tuyệt vời và nghiên cứu cẩn thận mọi vấn đề. Ngay sau khi nắm quyền, đã có một vài sai lầm ban đầu khi giải quyết khủng hoảng dịch SARS, nhưng khi họ nhận ra rằng nó là mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền kinh tế, họ đã kìm lại để giải quyết vấn đề, kể cả việc sa thải Bộ trưởng Y tế và Thị trưởng Bắc Kinh chưa từng có tiền lệ.  Đó là cuộc phô diễn cho sự lãnh đạo cứng rắn của Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Sau cùng thì, một trong những lý do Hồ được đưa vào trung ương là vì ông đã dẹp yên cuộc nổi loạn ở Tây Tạng. Đằng sau vẻ ngoài ôn hòa thân thiện, tôi nghĩ ông là người đàn ông thép.

Thật khó để dự đoán là Tập Cận Bình sẽ theo đuổi chính sách gì và ông ấy sẽ để lại những di sản gì sau một thập kỉ cầm quyền. Các lãnh đạo Trung Quốc không phổ biến kế hoạch tương lai trước khi nhậm chức. Họ không thích mạo hiểm. Trung Quốc đang ở trong một thời kì quan trọng liên quan đến các thách thức trong nước và ông ấy sẽ muốn dành sức giải quyết những vấn đề này. Có nhiều chuyện cũng phụ thuộc vào các sự kiện bên ngoài đột nhiên phát sinh. Kế hoạch tốt nhất của bạn có thể đi chệch hướng khi bạn phải đối mặt với một diễn biến không mong muốn nghiêm trọng. Nhưng tôi tin là ông sẽ phản ứng một cách thấu đáo, không sợ hãi. Ông có ảnh hưởng lớn và tôi nghĩ ông sẽ quản lý được đảng theo ý mình. Xuất thân quân đội của ông cũng giúp ông có ảnh hưởng với quân đội.

Chính sách đối ngoại của ông sẽ được theo dõi sát sao. Sự nổi lên của Trung Quốc đã trở thành nỗi khiếp sợ với nhiều nước, dù phương Tây hay châu Á. Một nước Trung Quốc mạnh mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng toàn cầu, như là khoản đầu tư ngày càng tăng của các công ty Trung Quốc hoạt động ở nước ngoài. Nhưng các láng giềng của Trung Quốc đã bắt đầu cảm nhận được một lập trường chính sách đối ngoại cứng rắn hơn từ phía người khổng lồ ngủ say vừa mới thức tỉnh này. Nước Mỹ cũng sẽ đối mặt với những thách thức lớn đối với thế ưu việt của nước này, nếu không phải là ở mức độ toàn cầu thì chắc chắn cũng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Vấn đề trung tâm là liệu người ta có tin vào việc Trung Quốc lặp đi lặp lại đảm bảo rằng nước này chẳng tìm kiếm gì hơn ngoài một sự trỗi dậy hòa bình và nước này sẽ không bao giờ trở thành bá quyền không? Có hai cách nhìn. Một là Trung Quốc sẽ trở nên mạnh mẽ một cách thầm lặng và lặng lẽ tăng cường ảnh hưởng của họ mà không hành động như là kẻ gây hấn. Một cách khác là họ sẽ phô trương sức mạnh và cố gắng hăm dọa các nước khác.

Tôi nghĩ họ sẽ chọn cách thứ nhất, nhưng đồng thời cũng tăng cường sức mạnh. Đặng Tiểu Bình bị thuyết phục rằng sẽ khôn ngoạn hơn khi Trung Quốc cố gắng tránh gây chú ý khi nước này dần trở nên mạnh hơn. Ông đã tin vào việc che dấu năng lực, hay như người Trung Quốc gọi là thao quang dưỡng hối. Người Trung Quốc biết rằng họ cần từ 30 tới 40 năm hòa bình nữa thì mới bắt kịp với phần còn lại của thế giới. Họ đã đi đến kết luận rằng nếu họ vẫn giữ nguyên lộ trình, tránh làm phật lòng các cường quốc hiện tại và kết bạn với mọi nước, họ sẽ chỉ càng ngày càng mạnh hơn. Việc này sẽ cho họ không gian để giải quyết các vấn đề nội bộ và tiếp tục phát triển kinh tế.

Họ cũng quan tâm tới nhu cầu tránh đi vào những vết xe đổ của Nhật Bản và Đức. Sự trỗi dậy của Đức và Nhật đã dẫn đến một cuộc cạnh tranh quyền lực ở châu Âu và châu Á, ảnh hưởng và tài nguyên đã dẫn đến hai cuộc chiến tranh khủng khiếp trong thế kỉ hai mươi, và hoàn toàn kết liễu sự trỗi dậy của họ. Nếu Trung Quốc tham gia vào một cuộc chiến, nước này sẽ phải mạo hiểm đối mặt với bất ổn nội bộ, xung đột và hỗn loạn, và có thể lại tụt lùi – một khoảng lớn. Do vậy, với người Trung Quốc, tính toán có lý trí sẽ là “Chúng ta đã chờ đợi lâu như vậy mới có cơ hội này để bắt kịp thế giới phát triển. Tại sao lại phải vội vã và gây nguy hại cho quá trình trỗi dậy từ từ của chúng ta?”

Tất nhiên điều đó không có nghĩa là Trung Quốc chỉ đơn thuần nhượng bộ mỗi khi có xung đột với nước khác. Khi cân bằng quyền lực thay đổi, nước này sẽ càng tự do thể hiện những gì họ thích và không thích. Và như cựu Ngoại trưởng Dương Khiết Trì từng nói, ở đâu mà lợi ích cốt lõi của Trung Quốc bị đe dọa thì người Trung Quốc sẽ phải tự khẳng định mình.

Các láng giềng gần gũi nhất của Trung Quốc ở châu Á đã thử nếm trải điều này. Vào năm 2008, Việt Nam trao cho công ty dầu khí Exxon Mobil của Mỹ quyền khoan dầu trong vùng nước tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Hải quân Trung Quốc đã đề nghị Exxon Mobil dời đi. Chính phủ Trung Quốc cũng nói rõ rằng nếu thỏa thuận này được tiến hành, thì việc làm ăn của ExxonMobil ở Trung Quốc sẽ bị đe dọa. Và thế là ExxonMobil phải dời đi bởi vì hải quân Mỹ không ở đó để hỗ trợ hay đảm bảo quyền của họ.

Gần đây hơn, vào năm 2010, Nhật Bản đã bắt giữ một thuyền trưởng tàu cá của Trung Quốc sau khi tàu của ông ta va chạm với tàu tuần tra Nhật Bản ở ngoài khơi Quần đảo Senkaku đang tranh chấp, được người Trung Quốc gọi là quần đảo Điếu Ngư. Ban đầu Nhật Bản muốn xét xử thuyền trưởng này theo luật nước mình, những cuối cùng lại phải nhượng bộ do áp lực nặng nề từ phía Trung Quốc và quyết định thả ông ta.

Vụ việc cho thấy cân bằng quyền lực đã thay đổi nhiều thế nào. Người Nhật hiện giờ phải đối phó với một nước Trung Quốc to gấp 10 lần nước Nhật, không phải là một nước Trung Quốc mà họ có thể xâm lược và gần như tóm gọn như hồi Thế chiến thứ 2 nữa. Sự khuất phục của Nhật Bản chỉ là một sự chấp nhận thực tại. Họ đã hiểu được rằng họ phải đối phó với một Trung Quốc có tổ chức, có kỉ luật – không phải với các lãnh chúa cát cứ, mà với một chính quyền trung ương có thể hành động quyết đoán.

Do vậy qua thời gian, bạn có thể thấy rất rõ ràng rằng người Trung Quốc không phải những người bị động. Họ chủ động theo đuổi những yêu sách của mình, và họ sẽ tiếp tục làm thế. Người Trung Quốc biết họ là nước lớn nhất trong khu vực và rằng khi họ ngày càng mạnh lên, họ có thể đòi hỏi các láng giềng tôn trọng quyền của họ hơn. Do đó, việc Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện đáng kể ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương để cân bằng với Trung Quốc cũng là lợi ích của các nước châu Á khác, bao gồm cả các nước ASEAN. Nếu không có đối trọng từ phía Mỹ, các nước nhỏ ở châu Á sẽ chẳng thể cựa quậy được. Khi bạn có hai cái cây, chứ không phải một, bạn có thể chọn đứng dưới bóng cái cây nào. Ở lại vùng Thái Bình Dương cũng quan trọng với Mỹ, bởi vì nếu người Mỹ đánh mất thế vượt trội ở đây, họ cũng sẽ mất nó trên toàn cầu.

Cuộc cạnh tranh giành thế ưu việt trong khu vực giữa Mỹ và Trung Quốc đã diễn ra rồi. Và nó sẽ tiếp tục trong phần còn lại của thế kỉ 21. Tới khi ấy, quan hệ Mỹ-Trung sẽ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới, không khác quan hệ Mỹ – Xô thời Chiến tranh Lạnh. Trong vài năm sau sự kiện 11/9, nước Mỹ đã bị phân tâm bởi chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, và Trung Quốc đã có thể thầm lặng tăng cường lợi ích trong khu vực, làm sâu sắc thêm các mối quan hệ và ký một thỏa thuận thương mại tự do với ASEAN.

Khi cựu thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đề xuất về khu vực thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN cách đây một thập kỉ, các chính quyền ASEAN đã rất kinh ngạc bởi vì chúng tôi nghĩ rằng Trung Quốc rất ngần ngại với việc mở cửa nền kinh tế hơn nữa thông qua các thỏa thuận thương mại tự do song phương và khu vực. Đó là một bước đi chiến lược của người Trung Quốc để phát triển các mối quan hệ kinh tế mạnh với ASEAN qua đó ASEAN sẽ xem sự phát triển của Trung Quốc là một cơ hội chứ không phải một mối đe dọa. Tôi đã nói với Đại diện thương mại Mỹ khi ấy rằng nếu không có thỏa thuận thương mại tự do Mỹ-ASEAN trong vòng 10 tới 20 năm thì nền kinh tế ASEAN sẽ ngày càng hội nhập với thị trường Trung Quốc, và Mỹ sẽ trở thành thị trường thứ yếu đối với chúng tôi.

Về mặt quân sự, người Mỹ vẫn còn bỏ xa trong cuộc chơi. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, dù đã đạt mức tăng trưởng hàng năm hai chữ số, vẫn thua kém ngân sách quốc phòng của Mỹ khi chỉ bằng một phần sáu của họ – và điều này được phản ánh trong công nghệ quân sự vượt trội của người Mỹ. Rốt cuộc người Trung Quốc sẽ muốn trở thành một cường quốc quân sự mạnh như Mỹ. Điều này sẽ tốn nhiều thập kỉ.

Nhưng người Trung Quốc đang làm tất cả những gì có thể để đuổi kịp. Họ đang cố gắng tương xứng với Mỹ về mặt công nghệ cao – đưa người vào vũ trụ và phát triển một hệ thống GPS mà Mỹ không thể phá hủy hay vô hiệu hóa. Họ biết rằng nếu họ phụ thuộc vào hệ thống GPS của Mỹ, họ sẽ bị qua mặt. Và khi người Trung Quốc chứng minh rằng họ có thể tự bắn hạ vệ tinh trong vũ trụ và đánh chặn chính các tên lửa đạn đạo của mình, họ muốn gửi cho Mỹ một cảnh báo: “Anh không thể đe dọa tôi nữa. Tôi sẽ bắn hạ tên lửa của anh trên Thái Bình Dương.” Chúng ta đang nói về việc một cái kim truy đuổi một cái kim khác đang di chuyển trên bầu trời – đó không phải là kiểu bắn cung đơn giản về mặt kĩ thuật. Đó là minh chứng rõ ràng nhất cho khả năng của họ.

Cùng lúc, tôi thấy người Trung Quốc cố gắng giữ vùng duyên hải phía đông của họ thoát khỏi do thám của Mỹ. Vào thời điểm hiện tại, người Mỹ đã có thể tiếp cận được đến cách bờ biển Trung Quốc 12 hải lý và thăm dò vào trong (từ đó). Bây giờ, thử tưởng tượng điều ngược lại. Nếu hải quân và không lực Trung Quốc – các tàu sân bay của nước này – cũng đến gần bờ biển nước Mỹ một khoảng tương tự, người Mỹ sẽ thấy không thể chấp nhận được. Họ sẽ không cho phép điều đó xảy ra. Giờ bạn có thể tưởng tượng người Trung Quốc cảm thấy thế nào.

Nhưng để có khả năng đẩy người Mỹ ra xa khỏi bờ biển của mình, họ phải cải thiện công nghệ của các tên lửa tầm xa. Khi bạn đã làm được điều đó, mối đe dọa ngầm là nếu ai đó đến quá gần, bạn sẽ phóng tên lửa đánh chìm tàu sân bay hay bắn rơi máy bay của kẻ đó. Vào thời điểm hiện tại, Trung Quốc chưa thể làm được điều này. Đến lúc họ làm được, máy bay (của Mỹ) sẽ ở ngoài tầm với. Người Mỹ sẽ chẳng trông chờ vào vận may. Và người Trung Quốc sẽ nói “Đây là vùng đặc quyền kinh tế của tôi, (anh) cứ ở ngoài. Tôi không đi đến bờ biển phía Thái Bình Dương của anh, thế thì ai cho anh quyền tới đây?” Liệu người Mỹ có nói “không”? Cuối cùng, lẽ phải thuộc về kẻ mạnh.

Do đó cuối cùng, sẽ có cân bằng – cán cân được cân bằng dần trong vòng 20 hay 30 năm. Sự cân bằng đầu tiên sẽ đẩy người Mỹ ra khỏi giới hạn 12 hải lý. Sự cân bằng thứ hai sẽ đẩy họ ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Và một khi họ (Trung Quốc) có thể làm thế, họ sẽ trở thành cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực.

Một vài học giả dự đoán dựa trên lịch sử rằng khi một cường quốc trỗi dậy và siêu cường hiện hữu thấy sự thống trị của mình bị đe dọa, xung đột quân sự giữa hai bên rất có khả năng xảy ra nếu không nói là không thể tránh khỏi. Trong trường hợp Trung Quốc và Mỹ, tôi không đồng ý với họ. Hai bên chẳng có lợi ích gì khi đối mặt với nhau trên chiến trường. Cả hai nước đều có vũ khí hạt nhân, vì vậy họ biết có khả năng dẫn tới kết cục hủy diệt khủng khiếp. Hơn nữa, không giống với quan hệ Xô-Mỹ, hiện nay chẳng có xung đột về ý thức hệ khốc liệt, không thể hòa giải được giữa người Mỹ và một Trung Quốc đã rất nhiệt tình ủng hộ thị trường tự do. Người Trung Quốc cần quan hệ thân thiện với Mỹ để đảm bảo tiếp tục được tiếp cận thị trường, đầu tư, công nghệ và các trường đại học của nước này. Còn Mỹ thì đơn giản là không có nhu cầu biến Trung Quốc thành một kẻ thù lâu dài.

Cuộc khủng hoảng lớn nhất có thể phát sinh giữa hai nước là vấn đề Đài Loan. Nhưng tôi không nghĩ Mỹ sẽ gây chiến với Trung Quốc để bảo vệ sự độc lập của Đài Loan. Điều đó không đáng. Bạn có thể chiến đấu và thắng vòng một. Nhưng liệu người Mỹ có chuẩn bị để chiến đấu hết vòng này đến vòng khác? Liệu cuối cùng họ có chuẩn bị để trả cái giá mà Trung Quốc sẵn sàng trả vì Đài Loan? Xin nhớ rằng không có lãnh đạo nào của Trung Quốc có thể tồn tại nếu để mất Đài Loan trong nhiệm kì của mình. Do vậy, với người Trung Quốc, đây là vấn đề rất nghiêm trọng.

Kể cả khi họ thua vòng đầu tiên, họ sẽ trở lại với vòng hai, rồi vòng ba và vòng bốn – không ngừng không nghỉ, cho tới khi họ thắng. Điều này không đáng giá với Mỹ. Qua thời gian người Đài Loan sẽ nhận ra điều này, nếu hiện giờ họ vẫn chưa hiểu ra. Mã Anh Cửu đã gần như nói thẳng ra điều này với khẩu hiệu “bất thống, bất độc, bất vũ(bu tong, bu du, bu wu) – Không thống nhất, không độc lập, không sử dụng vũ lực. Cụm từ cốt yếu là không độc lập, bởi vì không nghi ngờ gì nữa ngay thời điểm Đài Loan tuyên bố độc lập, Trung Quốc sẽ viện đến vũ lực để giành lại hòn đảo này.

Thống nhất Đài Loan và Đại lục chỉ là vấn đề thời gian. Không quốc gia nào có thể ngăn cản điều này. Thực tế, số phận quốc tế của Đài Loan đã được xác định từ lâu ở Hội nghị Cairo năm 1943 khi Franklin D. Roosevelt và Winston Churchill đồng ý với Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch về việc trả Đài Loan về với Trung Quốc. Khi Lý Đăng Huy lên làm Tổng thống, ông đã bắt đầu một quá trình Đài Loan hóa – tập trung vào việc tách rời hòn đảo này khỏi Trung Quốc. Nhưng điều này sẽ không thay đổi kết cục thống nhất cuối cùng. Tác dụng của việc này chỉ là khiến người Đài Loan càng tổn thương hơn khi hợp nhất thực sự xảy ra. Kinh tế sẽ giải quyết vấn đề này. Sự hợp nhất về kinh tế dần dần và không ngừng sẽ mang hai xã hội lại gần nhau, và Trung Quốc sẽ không thấy cần thiết phải dùng vũ lực.

Hiện giờ quan hệ kinh tế hai bên đã phát triển dưới sự cầm quyền của Tổng thống Mã và sẽ tiếp tục phát triển trong bốn năm tới. Và sau thời kì 8 năm dưới quyền Quốc Dân Đảng, cứ cho rằng Đảng Dân tiến sẽ lại nắm quyền và đảo ngược chính sách, thì các nông dân và nhà công nghiệp Đài Loan cũng sẽ phải chịu hậu quả, và DPP sẽ thất bại trong kì bầu cử sau đó, hoặc sau đó nữa. Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng sẽ khiến cho việc Đài Loan tiến tới độc lập là bất khả thi.

Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Diễn văn của Tổng thống Obama về cải cách nhập cư 2014


USA-immigration

Biên dịch: Lê Xuân Hùng

  1. Thưa các đồng bào Mỹ của tôi, tối nay tôi muốn nói với các bạn về vấn đề nhập cư.
  2. Suốt hơn 200 năm, truyền thống chào đón người nhập cư từ khắp thế giới đã cho chúng ta một lợi thế to lớn trước các quốc gia khác. Điều đó đã giữ cho chúng ta luôn trẻ trung, năng động và tràn đầy tinh thần kinh doanh. Điều đó đã nhào nặn bản sắc của chúng ta như một dân tộc với những tiềm năng vô hạn – một dân tộc không bị níu giữ bởi quá khứ, mà luôn có khả năng tái tạo chính mình theo sự lựa chọn của chúng ta.

3. Nhưng ngày nay, hệ thống nhập cư của chúng ta đã hư hỏng  – và tất cả đều biết điều đó.

4. Những gia đình nhập cư vào đất nước chúng ta một cách hợp pháp và hành xử theo luật lệ nhìn kẻ khác xúc phạm những luật lệ đó. Những chủ doanh nghiệp trả lương và trợ cấp tốt cho nhân công của mình thấy đối thủ cạnh tranh bóc lột những người nhập cư không có giấy tờ bằng cách trả lương thấp hơn nhiều cho họ. Tất cả chúng ta đều cảm thấy bị xúc phạm bởi bất kỳ kẻ nào đang thu vén những lợi ích từ việc sống ở nước Mỹ mà không chịu thực thi những trách nhiệm của việc sống ở nước Mỹ. Và những người nhập cư không có giấy tờ đang mong chờ trong vô vọng để được thực thi những trách nhiệm đó lại không có nhiều lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục ở trong bóng tối, hoặc phải đối mặt với nguy cơ gia đình họ bị chia ly.

5.  Tình trạng này đã kéo dài hàng thập kỷ. Và trong hàng thập kỷ, chúng ta vẫn chưa làm được gì nhiều để giải quyết nó.

6. Khi nhậm chức, tôi đã cam kết sẽ sửa lại hệ thống nhập cư đã hư hỏng của chúng ta. Và tôi đã bắt đầu bằng việc làm tất cả những gì tôi có thể để bảo vệ đường biên giới của chúng ta. Ngày nay, chúng ta có nhiều nhân viên và công nghệ được triển khai để bảo vệ đường biên giới phía Nam của chúng ta hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử đất nước. Và trong vòng sáu năm vừa qua, nạn vượt biên trái phép đã giảm hơn một nửa. Mặc dù vào mùa hè năm nay, đã có thời điểm ngắn ngủi khi số trẻ em không có người lớn đi kèm bị bắt giữ tại biên giới của chúng ta tăng đột biến, số lượng những trẻ em như thế trên thực tế thấp hơn số lượng trong khoảng hai năm qua.  Nhìn chung, số người tìm cách vượt biên vào nước ta một cách trái phép đang ở mức thấp nhấp từ những năm 1970. Đó là những thực tế.

7. Cùng lúc đó, tôi đã làm việc với Quốc hội để có một giải pháp toàn diện, và năm ngoái, 68 nghị sĩ Dân chủ, Cộng hòa và độc lập đã sát cánh với nhau để phê chuẩn một dự luật lưỡng đảng tại Thượng viện. Dự luật đó chưa hoàn hảo. Nó là một sự thỏa hiệp. Nhưng nó đã phản ánh lý lẽ thông thường. Nó đã có thể giúp tăng gấp đôi số lượng nhân viên tuần tra biên giới, cùng lúc đó trao cho những người nhập cư không có giấy tờ một con đường để có được quyền công dân, nếu họ chịu nộp phạt, bắt đầu đóng thuế, và trở lại xếp hàng (chịu tuân thủ luật lệ – ND). Và các chuyên gia độc lập nói rằng điều đó sẽ giúp nền kinh tế của chúng ta tăng trưởng và giảm các khoản thâm hụt ngân sách của chúng ta.

8. Nếu Hạ viện cho phép một dư luật như thế được trải qua một cuộc bỏ phiếu tán thành hay không tán thành đơn giản, nó đã có thể được thông qua với sự ủng hộ từ cả hai đảng, và ngày hôm nay nó đã có thể thành luật. Nhưng một năm rưỡi đã qua, các lãnh đạo phe Cộng hòa trong Hạ viện vẫn từ chối tiến hành một cuộc bỏ phiếu đơn giản như vậy.

9. Giờ đây, tôi vẫn tiếp tục tin tưởng rằng biện pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề này là cùng nhau làm việc để phê chuẩn dự luật hợp với lý lẽ thông thường đó. Nhưng cho đến khi điều đó xảy ra, có những biện pháp mà tôi có quyền hành hợp pháp để tiến hành với tư cách Tổng thống – tương tự như những biện pháp đã được các Tổng thống đảng Dân chủ và Cộng hòa trước tôi thực hiện – mà sẽ giúp làm cho hệ thống nhập cư của chúng ta công bằng và công chính hơn.

10. Tối nay, tôi đang tuyên bố về những biện pháp đó.

11. Đầu tiên, chúng ta sẽ phát huy tiến bộ của chúng ta tại vùng biên giới, thông qua những nguồn lực bổ sung cho các nhân viên thi hành pháp luật của chúng ta, để họ có thể ngăn chặn dòng người vượt biên trái phép, và đẩy nhanh tiến độ hồi hương của những người đã vượt biên.

12. Thứ hai, tôi sẽ khiến việc những người nhập cư có tay nghề cao, sinh viên đã tốt nghiệp và các doanh nhân được ở lại và cống hiến cho nền kinh tế của chúng ta trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn, điều đã được rất nhiều lãnh đạo doanh nghiệp đề đạt.

13. Thứ ba, chúng ta sẽ tiến hành các bước để giải quyết một cách có trách nhiệm hàng triệu người nhập cư không có giấy tờ đang sống trên đất nước chúng ta.

14. Tôi muốn nói kỹ hơn về vấn đề thứ ba này, bới nó gây ra những cảm xúc mạnh mẽ và nhiều sự tranh cãi nhất. Dù chúng ta là một quốc gia của những người nhập cư, chúng ta cũng đồng thời là một quốc gia của luật pháp. Những người nhập cư không có giấy tờ đã vi phạm luật về nhập cư của chúng ta, và tôi tin rằng họ phải chịu trách nhiệm về điều đó – đặc biệt là những những kẻ có thể trở nên nguy hiểm. Đó là lý do tại sao trong suốt 6 năm vừa qua, số tội phạm bị trục xuất đã tăng 80 phần trăm. Và đó là lý do tại sao chúng ta sẽ tiếp tục tập trung những nguồn lực chấp pháp vào những nguy cơ thực tế đối với an ninh của chúng ta. Những kẻ gian, chứ không phải các gia đình. Những tên tội phạm, chứ không phải những đứa trẻ. Thành viên các băng đảng, chứ không phải những người mẹ đang làm lụng chăm chỉ để nuôi nấng con cái. Chúng ta sẽ có sự ưu tiên, như những gì ngành chấp pháp đang làm hàng ngày.

15. Nhưng kể cả khi chúng ta tập trung vào việc trục xuất những tên tội phạm, thực tế là, hàng triệu người nhập cư ở mọi bang, từ mọi chủng tộc và quốc tịch vẫn đang sống ở đây một cách trái phép. Thành thật mà nói – truy lùng, vây bắt, và trục xuất hàng triệu người là không thực tế. Bất kỳ ai cho rằng điều đó là khả dĩ là họ đang không thẳng thắn với các bạn. Điều đó cũng không giống với tính cách của chúng ta, những người dân Mỹ. Dù sao, đa số những người nhập cư này đã sống ở đây trong thời gian dài.  Họ làm việc chăm chỉ, và thường làm các công việc vất vả, lương thấp. Họ nuôi gia đình của mình. Họ thờ cúng trong các nhà thờ của chúng ta. Nhiều đứa con của họ được sinh ra ở Mỹ và sống phần lớn cuộc đời của chúng tại đây, và những niềm hy vọng, những giấc mơ và lòng yêu nước của chúng cũng giống như con cái chúng ta. Như người tiền nhiệm của tôi, Tổng thống Bush, đã từng nói: “Họ là một phần của đời sống Mỹ”.

16. Vấn đề là thế này: chúng ta mong muốn người dân sống trong đất nước này tuân theo các luật lệ. Chúng ta mong rằng những người đã phá luật sẽ không được tưởng thưởng một cách bất công. Vậy nên chúng ta sẽ đưa ra một thỏa thuận như sau: nếu các bạn đã sống ở Mỹ hơn 5 năm; nếu các bạn có con em là công dân Mỹ hoặc là cư dân hợp pháp; nếu các bạn đăng ký và vượt qua được kỳ kiểm trả tiền án tiền sự, và nếu các bạn sẵn sàng chi trả khoản tiền thuế công bằng của các bạn – các bạn sẽ được đăng ký tạm trú tại đất nước này mà không phải lo sợ trục xuất. Các bạn có thể ra khỏi bóng tối và sửa sai trước pháp luật. Đó chính là nội dung của thỏa thuận này.

17. Bây giờ, hãy làm rõ những gì không nằm trong thỏa thuận này. Thỏa thuận này không có hiệu lực với bất kỳ ai mới đến đất nước này trong thời gian gần đây. Nó không có hiệu lực đối với bất kỳ ai sẽ đến nước Mỹ một cách trái phép trong tương lai. Nó không trao quyền công dân hay quyền định cư vĩnh viễn, hay trao những lợi ích mà các công dân được hưởng – chỉ có Quốc hội mới có quyền hạn này. Tất cả những gì chúng tôi đang nói là chúng tôi sẽ không trục xuất các bạn

18. Tôi biết những người phê phán biện pháp này gọi đây là một sự ân xá. Không, nó không phải là như vây. Ân xá chính là hệ thống nhập cư mà chúng ta đang có ngày hôm nay – hàng triệu người sống tại đây mà không đóng thuế hay tuân thủ các luật lệ, trong khi các chính trị gia đang dùng vấn đề này để hăm dọa người dân và lùa phiếu bầu về cho mình trong thời kỳ tuyển cử.

19. Đó mới chính là ân xá – bỏ mặc hệ thống hư hỏng này trong tình trạng hiện tại của nó. Ân xá quy mô lớn sẽ là bất công. Trục xuất quy mô lớn vừa bất khả thi, vừa trái ngược với tính cách của chúng ta. Điều tôi đang miêu tả là trách nhiệm giải trình – một cách tiếp cận trung dung, hợp với lý lẽ thông thường: Nếu các bạn đạt được các tiêu chuẩn, các bạn có thể ra khỏi bóng tối và sửa sai trước pháp luật. Nếu các vị là tội phạm, các vị sẽ bị trục xuất. Nếu các vị tính vào Hoa Kỳ một cách trái phép, khả năng bị bắt giữ và phải hồi hương của các vị đã tăng lên.

20. Những biện pháp mà tôi đang tiến hành không chỉ hợp pháp, đó là các loại biện pháp đã được mọi Tổng thống của Đảng Cộng hòa và mọi Tổng thống của Đảng Dân chủ tiến hành trong nửa thế kỷ vừa qua. Và đối với những thành viên Quốc hội đang đặt câu hỏi về quyền hành của tôi trong việc giúp cho hệ thống nhập cư của chúng ta hoạt động tốt hơn, hay đặt câu hỏi về tính hợp lý của việc tôi hành động trong vấn đề mà Quốc hội đã thất bại, tôi có một câu trả lời: Hãy phê chuẩn một dự luật.

21. Tôi muốn làm việc với cả hai đảng để thông qua một giải pháp luật bền vững. Và cái ngày mà tôi ký cho dự luật đó thành luật, những biện pháp tôi đang tiến hành sẽ không còn cần thiết. Trong khi đó, xin đừng để bất đồng trong một vấn đề phá hoại thương lượng trong các vấn đề khác. Đó không phải cách nền dân chủ của chúng ta hoạt động, và Quốc hội không nên đóng cửa chính phủ (tức không thông qua ngân sách – NBT) của chúng ta một lần nữa chỉ vì chúng ta bất đồng về vấn đề này. Người dân Mỹ đã mệt mỏi với sự bế tắc. Điều đất nước chúng ta cần từ chúng ta ngay lúc này là một mục tiêu chung – một mục tiêu cao cả.

22. Đa số người Mỹ ủng hộ những hình thức cải cách mà tôi đã nói đến tối nay. Nhưng tôi hiểu được những ý kiến bất đồng mà nhiều người trong số các bạn đang giữ tại nhà mình (tức những ý kiến cá nhân không được bày tỏ công khai – ND). Hàng triệu người trong số chúng ta, bao gồm chính tôi, có nguồn gốc từ nhiều thế hệ trước tại đất nước này, với những người tổ tiên đã phải làm việc cần cù để trở thành các công dân. Thế nên chúng ta không thích quan niệm rằng ai cũng có thể lấy được một tấm vé thông hành miễn phí để trở thành công dân Mỹ.

23. Tôi biết một số người lo lắng rằng vấn đề nhập cư sẽ thay đổi chính những nền tảng đang làm nên con người chúng ta, hay lấy đi công ăn việc làm của chúng ta, hay ngược đãi các gia đình trung lưu vào thời điểm mà họ đã cảm thấy phải chịu thiệt thòi trong suốt cả thập kỷ. Tôi lắng nghe những quan ngại đó. Nhưng những bước đi này sẽ không làm như vậy. Lịch sử của chúng ta cũng như các thực tế chỉ ra rằng những người nhập cư mang lại lợi ích ròng cho nền kinh tế và xã hội của chúng ta. Và tôi tin rằng việc tất cả chúng ra bàn thảo về vấn đề này mà không công kích đặc điểm của nhau là một điều quan trọng

24. Bởi sau tất cả những lời qua tiếng lại của Washington, chúng ta cần nhớ rằng cuộc tranh luận này là về một điều to lớn hơn. Nó là cuộc tranh luận về việc chúng ta đang là ai với tư cách một đất nước, và chúng ta muốn trở thành ai cho các thế hệ tương lai.

25. Liệu chúng ta có phải là một quốc gia chấp nhận một hệ thống đạo đức giả, nơi mà những người lao động đang hái quả và dọn giường cho chúng ta không bao giờ có cơ hội được sửa sai trước pháp luật? Hay chúng ta là một quốc gia biết trao cho họ một cơ hội để chuộc lại lỗi lầm, nhận trách nhiệm và cho con cái họ một tương lai tốt đẹp hơn?

26. Liệu chúng ta có phải là quốc gia chấp nhận sự tàn ác của việc cướp đoạt con trẻ từ vòng tay cha mẹ chúng? Hay chúng ta là một quốc gia đề cao các gia đình, một quốc gia hành động để giữ cho các gia đình luôn bên nhau?

27. Liệu chúng ta có phải là một quốc gia giáo dục được những người thông minh và giỏi giang nhât thế giới, chỉ để gửi họ về nhà để gây dựng những doanh nghiệp tại các nước cạnh tranh với chúng ta? Hay chúng ta là một quốc gia biết động viên họ ở lại và tạo ra các việc làm ở đây, gây dựng các doanh nghiệp ở đây, tạo ra các ngành sản xuất công nghiệp trên chính nước Mỹ này?

28. Đó mới chính là mục đích của cuộc tranh luận này. Chúng ta cần nhiều hơn là chính trị như bình thường khi mà nó có liên quan đến vấn đề nhập cư. Chúng ta cần một cuộc tranh luận kỹ càng, thận trọng và bao dung, tập trung vào những niềm hy vọng chứ không phải vào nỗi sợ hãi của chúng ta. Tôi biết rằng chính trị trong vấn đề này rất khó khăn. Nhưng hãy để tôi nói với các bạn lý do tại sao tôi trở nên quan tâm mạnh mẽ đến vấn đề này như vậy.

29. Trong vài năm vừa qua, tôi đã thấy lòng quả quyết của những người cha nhập cư đã phải làm hai, ba công việc mà không lấy một hào nào từ chính phủ, và chịu nguy cơ mất tất cả các công việc này bất cứ lúc nào, chỉ để gây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho con cái của mình. Tôi đã thấy trái tim tim tan vỡ và mối lo âu của những đứa trẻ mà mẹ chúng có thể bị bắt đi chỉ vì họ không có giấy tờ hợp lệ. Tôi đã thấy lòng dũng cảm của những sinh viên mà, ngoại trừ hoàn cảnh sinh thành của họ, cũng là  những người Mỹ như là Malia và Sasha vậy (hai con gái của ông Obama – ND); những sinh viên đã dũng cảm xuất hiện như những người không có giấy tờ với niềm hy vọng họ sẽ tạo ra một sự thay đổi tại quốc gia mà họ yêu quý.

30. Những người này – những người hàng xóm, bạn học, bạn bè của chúng ta – họ không đến đây để tìm kiếm một chuyến xe miễn phí (hưởng thụ quyền lợi mà không phải lo trách nhiệm – ND) hay một cuộc sống dễ dàng. Họ đến đây để lao động, và học tập, và phục vụ trong quân đội của chúng ta, và trên tất cả, để cống hiến cho sự thành công của nước Mỹ.

31. Ngày mai, tôi sẽ du hành đến Las Vegas và gặp gỡ với một số trong các sinh viên đó, trong đó có một người phụ nữ trẻ tên là Astrid Silva. Astrid đã được mang đến nước Mỹ khi cô mới bốn tuổi. Tài sản duy nhất của cô khi đó là một thập giá, con búp bê của cô, và bộ váy xếp tầng cô mặc trên người. Khi cô bắt đầu đi học, cô không nói được bất cứ từ tiếng Anh nào. Cô đã theo kịp những đứa trẻ khác bằng việc đọc báo và xem đài PBS, và cô đã trở thành một học sinh giỏi. Bố cô làm vườn. Mẹ cô dọn dẹp nhà cửa cho người khác. Họ không muốn để Astrid nộp hồ sơ vào trường công chuyên về công nghệ, không phải vì họ không yêu quý cô, mà bởi vì họ sợ rằng việc làm giấy tờ nhập học sẽ khiến việc cô là người nhập cư không có giấy phép bị lộ – thế nên cô đã nộp hồ sơ sau lưng bố mẹ mình và đã được nhận.  Tuy vậy, cô vẫn sống chủ yếu trong bóng tối – cho đến khi bà cô, người hàng năm luôn đến thăm cô từ Mexico, qua đời, và cô đã không thể dự tang lễ mà không phải chịu nguy cơ bị phát hiện và trục xuất. Khoảng thời gian đó là lúc cô quyết định bắt đầu vận động cho bản thân và cho những người khác giống như mình, và hôm nay, Astrid Silva đã là một sinh viên đại học đang hoàn thành văn bằng thứ ba của mình.

32. Liệu chúng ta có phải là một quốc gia đánh đuổi một người nhập cư biết nỗ lực và tràn đầy hy vọng như Astrid, hay chúng ta là một quốc gia biết tìm một cách để chào đón cô vào? Kinh thánh nói với chúng ta rằng chúng ta sẽ không áp bức một người ngoại bang, bởi chúng ta biết được tâm tư của người ngoại bang – chúng ta cũng đã có lúc từng là những người ngoại bang. (nguyên văn trong Kinh thánh: Ngươi chớ hiếp đáp người ngoại bang, vì các ngươi đã kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô, chính các ngươi hiểu biết lòng khách ngoại bang là thế nào – Xuất Ê-díp-tô 23:9 – ND)

33. Hỡi những đồng bào Mỹ của tôi, chúng ta đang và sẽ mãi là một quốc gia của những người nhập cư. Chúng ta cũng đã có lúc từng là những người ngoại bang. Và cho dù tổ tiên của chúng ta là những người ngoại bang đã từng vượt Đại Tây Dương, hay Thái Bình Dương, hay dòng sông Rio Grande (giữa Mexico và Mỹ – ND), chúng ta đang có mặt tại đây chỉ bởi vì đất nước này đã chào đón họ, và đã dạy cho họ biết rằng làm một người dân Mỹ là một điều quan trọng hơn việc chúng ta trông như thế nào, hay họ của chúng ta là gì, hay chúng ta thờ cúng thế nào. Điều khiến cho chúng ta là những người dân Mỹ là cam kết chung của chúng ta với một lý tưởng – đó là tất cả chúng ta đều sinh ra bình đẳng, và tất cả chúng ta có cơ hội để được sống theo ý mình.

34. Đó là đất nước cha mẹ và ông bà ta và các thế hệ trước đó đã gây dựng cho chúng ta. Đó là truyền thống chúng ta cần giữ gìn. Đó là di sản mà chúng ta phải truyền lại cho những thế hệ sau này.

35. Cảm ơn các bạn. Xin Thượng đế phù hộ cho các bạn. Và xin Thượng đế phù hộ cho đất nước mà chúng ta yêu quý này.

Toàn văn tiếng Anh:

  1. My fellow Americans, tonight, I’d like to talk with you about immigration.
  2. For more than 200 years, our tradition of welcoming immigrants from around the world has given us a tremendous advantage over other nations. It’s kept us youthful, dynamic, and entrepreneurial. It has shaped our character as a people with limitless possibilities –- people not trapped by our past, but able to remake ourselves as we choose.
  3. But today, our immigration system is broken — and everybody knows it.
  4. Families who enter our country the right way and play by the rules watch others flout the rules. Business owners who offer their workers good wages and benefits see the competition exploit undocumented immigrants by paying them far less. All of us take offense to anyone who reaps the rewards of living in America without taking on the responsibilities of living in America. And undocumented immigrants who desperately want to embrace those responsibilities see little option but to remain in the shadows, or risk their families being torn apart.
  5. It’s been this way for decades. And for decades, we haven’t done much about it.
  6. When I took office, I committed to fixing this broken immigration system. And I began by doing what I could to secure our borders. Today, we have more agents and technology deployed to secure our southern border than at any time in our history. And over the past six years, illegal border crossings have been cut by more than half. Although this summer, there was a brief spike in unaccompanied children being apprehended at our border, the number of such children is now actually lower than it’s been in nearly two years. Overall, the number of people trying to cross our border illegally is at its lowest level since the 1970s. Those are the facts.
  7. Meanwhile, I worked with Congress on a comprehensive fix, and last year, 68 Democrats, Republicans, and independents came together to pass a bipartisan bill in the Senate. It wasn’t perfect. It was a compromise. But it reflected common sense. It would have doubled the number of border patrol agents while giving undocumented immigrants a pathway to citizenship if they paid a fine, started paying their taxes, and went to the back of the line. And independent experts said that it would help grow our economy and shrink our deficits.
  8. Had the House of Representatives allowed that kind of bill a simple yes-or-no vote, it would have passed with support from both parties, and today it would be the law. But for a year and a half now, Republican leaders in the House have refused to allow that simple vote.
  9. Now, I continue to believe that the best way to solve this problem is by working together to pass that kind of common sense law. But until that happens, there are actions I have the legal authority to take as President –- the same kinds of actions taken by Democratic and Republican presidents before me -– that will help make our immigration system more fair and more just.
  10. Tonight, I am announcing those actions.
  11. First, we’ll build on our progress at the border with additional resources for our law enforcement personnel so that they can stem the flow of illegal crossings, and speed the return of those who do cross over.
  12. Second, I’ll make it easier and faster for high-skilled immigrants, graduates, and entrepreneurs to stay and contribute to our economy, as so many business leaders have proposed.
  13. Third, we’ll take steps to deal responsibly with the millions of undocumented immigrants who already live in our country.
  14. I want to say more about this third issue, because it generates the most passion and controversy. Even as we are a nation of immigrants, we’re also a nation of laws. Undocumented workers broke our immigration laws, and I believe that they must be held accountable -– especially those who may be dangerous. That’s why, over the past six years, deportations of criminals are up 80 percent. And that’s why we’re going to keep focusing enforcement resources on actual threats to our security. Felons, not families. Criminals, not children. Gang members, not a mom who’s working hard to provide for her kids. We’ll prioritize, just like law enforcement does every day.
  15. But even as we focus on deporting criminals, the fact is, millions of immigrants in every state, of every race and nationality still live here illegally. And let’s be honest -– tracking down, rounding up, and deporting millions of people isn’t realistic. Anyone who suggests otherwise isn’t being straight with you. It’s also not who we are as Americans. After all, most of these immigrants have been here a long time. They work hard, often in tough, low-paying jobs. They support their families. They worship at our churches. Many of their kids are American-born or spent most of their lives here, and their hopes, dreams, and patriotism are just like ours. As my predecessor, President Bush, once put it: “They are a part of American life.”
  16. Now here’s the thing: We expect people who live in this country to play by the rules. We expect that those who cut the line will not be unfairly rewarded. So we’re going to offer the following deal: If you’ve been in America for more than five years; if you have children who are American citizens or legal residents; if you register, pass a criminal background check, and you’re willing to pay your fair share of taxes — you’ll be able to apply to stay in this country temporarily without fear of deportation. You can come out of the shadows and get right with the law. That’s what this deal is.
  17. Now, let’s be clear about what it isn’t. This deal does not apply to anyone who has come to this country recently. It does not apply to anyone who might come to America illegally in the future. It does not grant citizenship, or the right to stay here permanently, or offer the same benefits that citizens receive -– only Congress can do that. All we’re saying is we’re not going to deport you.
  18. I know some of the critics of this action call it amnesty. Well, it’s not. Amnesty is the immigration system we have today -– millions of people who live here without paying their taxes or playing by the rules while politicians use the issue to scare people and whip up votes at election time.
  19. That’s the real amnesty –- leaving this broken system the way it is. Mass amnesty would be unfair. Mass deportation would be both impossible and contrary to our character. What I’m describing is accountability –- a common-sense, middle-ground approach: If you meet the criteria, you can come out of the shadows and get right with the law. If you’re a criminal, you’ll be deported. If you plan to enter the U.S. illegally, your chances of getting caught and sent back just went up.
  20. The actions I’m taking are not only lawful, they’re the kinds of actions taken by every single Republican President and every single Democratic President for the past half century. And to those members of Congress who question my authority to make our immigration system work better, or question the wisdom of me acting where Congress has failed, I have one answer: Pass a bill.
  21. I want to work with both parties to pass a more permanent legislative solution. And the day I sign that bill into law, the actions I take will no longer be necessary. Meanwhile, don’t let a disagreement over a single issue be a dealbreaker on every issue. That’s not how our democracy works, and Congress certainly shouldn’t shut down our government again just because we disagree on this. Americans are tired of gridlock. What our country needs from us right now is a common purpose –- a higher purpose.
  22. Most Americans support the types of reforms I’ve talked about tonight. But I understand the disagreements held by many of you at home. Millions of us, myself included, go back generations in this country, with ancestors who put in the painstaking work to become citizens. So we don’t like the notion that anyone might get a free pass to American citizenship.
  23. I know some worry immigration will change the very fabric of who we are, or take our jobs, or stick it to middle-class families at a time when they already feel like they’ve gotten the raw deal for over a decade. I hear these concerns. But that’s not what these steps would do. Our history and the facts show that immigrants are a net plus for our economy and our society. And I believe it’s important that all of us have this debate without impugning each other’s character.
  24. Because for all the back and forth of Washington, we have to remember that this debate is about something bigger. It’s about who we are as a country, and who we want to be for future generations.
  25. Are we a nation that tolerates the hypocrisy of a system where workers who pick our fruit and make our beds never have a chance to get right with the law? Or are we a nation that gives them a chance to make amends, take responsibility, and give their kids a better future?
  26. Are we a nation that accepts the cruelty of ripping children from their parents’ arms? Or are we a nation that values families, and works together to keep them together?
  27. Are we a nation that educates the world’s best and brightest in our universities, only to send them home to create businesses in countries that compete against us? Or are we a nation that encourages them to stay and create jobs here, create businesses here, create industries right here in America?
  28. That’s what this debate is all about. We need more than politics as usual when it comes to immigration. We need reasoned, thoughtful, compassionate debate that focuses on our hopes, not our fears. I know the politics of this issue are tough. But let me tell you why I have come to feel so strongly about it.
  29. Over the past few years, I have seen the determination of immigrant fathers who worked two or three jobs without taking a dime from the government, and at risk any moment of losing it all, just to build a better life for their kids. I’ve seen the heartbreak and anxiety of children whose mothers might be taken away from them just because they didn’t have the right papers. I’ve seen the courage of students who, except for the circumstances of their birth, are as American as Malia or Sasha; students who bravely come out as undocumented in hopes they could make a difference in the country they love.
  30. These people –- our neighbors, our classmates, our friends –- they did not come here in search of a free ride or an easy life. They came to work, and study, and serve in our military, and above all, contribute to America’s success.
  31. Tomorrow, I’ll travel to Las Vegas and meet with some of these students, including a young woman named Astrid Silva. Astrid was brought to America when she was four years old. Her only possessions were a cross, her doll, and the frilly dress she had on. When she started school, she didn’t speak any English. She caught up to other kids by reading newspapers and watching PBS, and she became a good student. Her father worked in landscaping. Her mom cleaned other people’s homes. They wouldn’t let Astrid apply to a technology magnet school, not because they didn’t love her, but because they were afraid the paperwork would out her as an undocumented immigrant –- so she applied behind their back and got in. Still, she mostly lived in the shadows –- until her grandmother, who visited every year from Mexico, passed away, and she couldn’t travel to the funeral without risk of being found out and deported. It was around that time she decided to begin advocating for herself and others like her, and today, Astrid Silva is a college student working on her third degree.
  32. Are we a nation that kicks out a striving, hopeful immigrant like Astrid, or are we a nation that finds a way to welcome her in? Scripture tells us that we shall not oppress a stranger, for we know the heart of a stranger –- we were strangers once, too.
  33. My fellow Americans, we are and always will be a nation of immigrants. We were strangers once, too. And whether our forebears were strangers who crossed the Atlantic, or the Pacific, or the Rio Grande, we are here only because this country welcomed them in, and taught them that to be an American is about something more than what we look like, or what our last names are, or how we worship. What makes us Americans is our shared commitment to an ideal -– that all of us are created equal, and all of us have the chance to make of our lives what we will.
  34. That’s the country our parents and grandparents and generations before them built for us. That’s the tradition we must uphold. That’s the legacy we must leave for those who are yet to come.
  35. Thank you. God bless you. And God bless this country we love.

Biên tập: Lê Hồng Hiệp | Bản gốc tiếng Anh: The White House

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Lý Quang Diệu viết về Hoa Kỳ

HOA KỲ: Nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số 1Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lí là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin, Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này.

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam. (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam, là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam. Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.

Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore. Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.

Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.

Tại sao tôi lại tin vào thành công về dài hạn của Hoa Kỳ?

Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore. Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York. Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương  mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York, bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.

Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “America: Troubled But Still on Top”, in L.K. Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 68-93.

Biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Bài viết của John Lee trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam Tháng 11/2014

Ảnh của John Lee.

Ảnh của John Lee.
Ảnh của John Lee.
Ảnh của John Lee.
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Vai trò của truyền thông kỹ thuật số trong cách mạng ở Ai Cập và Tunisia


Nguồn: Philip N. Howard & Muzammil M. Hussain (2011). “The Upheavals in Egypt and Tunisia: The Role of Digital Media”, Journal of Democracy, Vol. 22, No. 3, pp. 35-48.

Biên dịch: Nguyễn Thị Nghĩa | Hiệu đính: Nguyễn Thị Nhung

 

Như những bài nghiên cứu từ trước đến nay thường nhận định, trên thực tế hiện nay thế giới vẫn còn một khu vực chưa hề bị tác động bởi làn sóng dân chủ thứ ba, đó là Bắc Phi và Trung Đông. Thế giới của người Ả Rập không chỉ thiếu vắng chế độ dân chủ, mà còn không có cả những phong trào quần chúng rộng lớn để thúc đẩy chế độ này. Tuy nhiên, vào tháng Mười hai năm 2010 và những tháng đầu của năm 2011, tình hình đã thay đổi với tốc độ hết sức ấn tượng. Những cuộc biểu tình công khai với qui mô lớn và trong thời gian dài đòi cải cách chính trị lan ra như thác lũ từ Tunisia đến Cairo, Sana’a, Amman và Manama. Chúng đã khơi dậy tinh thần đấu tranh cho người dân sống ở Casablanca, Damascus, Tripoli, và hàng chục những thành phố khác đổ xuống đường đấu tranh đòi thay đổi.

Tính đến tháng 5, nhiều nhà chính trị chủ chốt đã sụp đổ: Zineal-Abidine Ben Ali của Tunisia, Hosni Mubarak của Ai Cập, hai nhà độc tài lâu năm nhất trong khu vực, đã phải ra đi; Chính quyền Lybia của Qadhafi Mubarak phải vật lộn trong cuộc chiến với lực lượng chống đối có vũ trang, khi lực lượng này giành được quyền thống trị trên một nửa đất nước và thu hút được sự giúp đỡ từ NATO; và vài quốc vương đã bãi nhiệm nội các của họ, đồng thời cam kết cải cách hiến pháp. Các chính quyền trong khu vực cố giải quyết trong hòa bình bằng cách hứa hẹn với công dân hàng trăm triệu đô la sẽ được đem ra đầu tư vào nhiều lĩnh vực mới. Marốc và Ả Rập Xê-út có vẻ đã đẩy lùi được những cuộc nổi dậy nghiêm trọng trong nước, nhưng cho đến thời điểm của bài viết này vào tháng Năm năm 2011, thì số phận cuối cùng của những chính quyền ở Bahrain, Jordan, Syria, và Yemen vẫn còn bỏ ngỏ.

Có rất nhiều cách để kể về câu chuyện thay đổi chính trị này. Nhưng một trong những cách tường thuật nhất quán nhất của các nhà lãnh đạo xã hội dân sự ở các nước Ả Rập đó là lần này, chính Internet, điện thoại di động, các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook hay Twitter đã tạo nên sự khác biệt. Với việc sử dụng những công nghệ này, những người quan tâm tới chế độ dân chủ có thể xây dựng được những mạng lưới rộng khắp, tạo ra vốn xã hội, và tổ chức những hoạt động chính trị với một tốc độ và qui mô chưa từng thấy trước đó. Nhờ có những công nghệ này, những mạng lưới ảo đã trở thành thực trên đường phố. Truyền thông kỹ thuật số trở thành công cụ cho phép các phong trào xã hội đạt được những thành quả chưa từng có, trong khi các thế lực cầm quyền lại chậm chạp đối phó bằng cách triển khai những phương pháp đáp trả công nghệ cao hay công nghệ thông thường. Nhìn lại vài tháng “Mùa xuân Ả Rập” vừa qua, chúng ta học được gì về vai trò của phương tiện truyền thông kỹ thuật số đối với các cuộc nổi dậy chính trị và dân chủ hóa? Từ những sự kiện này, chúng ta có thể rút ra được những ý nghĩa gì cho hiểu biết của chúng ta về cách thức hoạt động thực sự của công cuộc dân chủ hóa ngày nay?

Những ngòi nổ đầu ở Tunisia

Vào ngày 17 tháng 12 năm 2010, Mohamed Bouazizi tự thiêu. Anh chàng bán hàng rong trong thành phố nhỏ bé Sidi Bouzid của Tunisia đã cố gắng trong vô vọng để phản đối khoản phạt của thanh tra, đầu tiên kháng án với cảnh sát, rồi chính quyền địa phương, rồi thống đốc vùng. Mỗi lần anh ta dọa sẽ đưa vụ việc lên báo, anh lại bị nhân viên an ninh đánh đập. Bầm dập, bị xúc phạm và tuyệt vọng vì bị đối xử tàn bạo, Bouazizi tự thiêu ngay trước văn phòng thống đốc. Cho đến thời điểm ngày 4/11, khi Bouazizi tử vong tại bệnh viện, hoàn cảnh khốn khổ của anh đã châm ngòi cho những cuộc biểu tình trên cả nước. Tin tức lan truyền nhanh chóng dù kênh truyền thông quốc gia đã lờ đi thảm kịch này lẫn cả nỗi bất mãn đang sôi sục ở Sidi Bouzid.

Trong suốt nửa cuối tháng Mười hai đầy căm phẫn đó, khắp các blog và tin nhắn điện thoại truyền đi thông điệp rằng người Tunisia đã trải nghiệm “tự do về nhận thức” – theo cách gọi của nhà xã hội học Doug McAdam.[1] Trong sự đồng cảm dành cho người đã khuất, cả gia đình và bạn bè đều nhận ra rằng họ cùng có nỗi bất bình chung. Sự thức tỉnh tràn đến từng mái nhà khi mọi người theo dõi các video về một nhà nước lạm dụng quyền lực trên Youtube, đọc tường thuật tin tức nước ngoài về tham nhũng chính trị trên mạng, và chia sẻ những câu chuyện châm biếm về vị độc tài già nua của họ qua tin nhắn điện thoại. Liên lạc thông qua các cách mà chính quyền không thể kiểm soát được, mọi người cũng sử dụng truyền thông kỹ thuật số để đưa ra các chiến lược cho hành động và hướng đến một mục tiêu chung: Hạ bệ chế độ độc tài.

Trong nhiều năm qua, những bản cáo trạng tham nhũng chính trị trực tiếp nhất bắt nguồn từ cộng đồng blog. Các bài báo điều tra hầu như là hoạt động chỉ của những công dân bình thường sử dụng Internet theo những cách rất sáng tạo. Nổi tiếng nhất là video trên Youtube chiếu cảnh phi cơ tổng thống của Tunisia trên đường băng gần với các điểm mua sắm xa hoa của châu Âu, trên màn hình còn hiện rõ cả ngày tháng và địa điểm, và đặt ra câu hỏi ai đang sử dụng chiếc máy bay này? (Gợi ý đưa ra là bà vợ với lối sống xa xỉ của Ben Ali). Ngay khi video này xuất hiện trên mạng, chính quyền đã chặn truy cập Youtube, Facebook và các ứng dụng khác. Nhưng các blogger và các nhà hoạt động vẫn không chùn bước, họ tạo ra những kênh truyền thay thế trên mạng và tạo không gian ảo cho những cuộc thảo luận chính trị ẩn danh, bày tỏ sự cảm thông với những công dân cùng cảnh ngộ bị hành hạ bởi chính quyền.

Sau cái chết của Bouazizi, những người phản đối Ben Ali bước từ không gian ảo ra đời thực. Shamseddine Abidi, nhà thiết kế nội thất 29 tuổi, thường xuyên đăng tải các video và cập nhật lên Facebook. Hãng thông tấn Al Jazeera sử dụng nội dung này để truyền tải tin tức về các sự kiện cho cả thế giới. Những hình ảnh về việc điều trị của Bouazizi lan truyền thông qua các trang mạng của gia đình và bạn bè. Một chiến dịch trên mạng kêu gọi công dân và các tổ chức, hiệp hội ủng hộ cho cuộc nổi dậy ở Sidi Bouzid. Các luật sư và sinh viên là những người đầu tiên xuống phố biểu tình một cách có tổ chức.

Chính phủ cố gắng cấm Facebook, Twitter và các trang mạng video như Daily Motion và Youtube. Tuy nhiên, chỉ trong vài ngày, mọi người lại lựa chọn tin nhắn đa phương tiện là công cụ tổ chức thay thế. Dưới 20% dân số hay sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, nhưng hầu hết ai cũng có thể tiếp cận một chiếc điện thoại di động. Ở nước ngoài, các cộng đồng hacker Anonymous và Telecomix giúp làm tê liệt chính quyền bằng cách thực hiện tấn công từ chối dịch vụ và xây dựng phần mềm mới giúp các nhà hoạt động vượt qua tường lửa của chính quyền. Đầu tháng Một, chính quyền đáp trả bằng cách bỏ tù một nhóm các blogger.

Tuy nhiên, hầu hết các cuộc nổi dậy chính trị đều không có người lãnh đạo theo kiểu cũ – không còn lãnh tụ cách mạng danh nghĩa lâu dài, không còn lãnh tụ phe đối lập truyền thống, hay những nhà diễn thuyết thu hút để kích động quần chúng nữa. Nhưng đã có những cá nhân nổi bật trên các mạng điện tử, những người mà sự đóng góp của họ có ảnh hưởng lớn và giúp vận động mọi người. Slim Amamou, một thành viên của trang sao chép bản quyền Pirate Party, đã viết blog cập nhật về cuộc cách mạng (và sau đó đã nắm giữ một vi trí trong chính phủ đoàn kết quốc gia trong một thời gian ngắn). Sami ben Gharbia, một công dân Tunisia lưu vong, đã nghiên cứu các cách kiểm duyệt trực tuyến và tuyên truyền những phương thức tránh kiểm duyệt. Một rapper trung lưu người Tunisia tự gọi mình là El Général đã cho phát trên phương tiện điện tử “Những bài hát cho cách mạng”.

Vào đầu tháng Một, những yêu cầu khẩn cấp kêu gọi giúp đỡ và các đoạn video quay bằng điện thoại về sự đàn áp của cảnh sát đã được truyền tải khắp Bắc Phi. Vị trí của Ben Ali dường như đang bị lung lay. Nhiều vụ biểu tình lớn xảy ra ở Algeria, đi đôi với vài vụ tự sát. Một lần nữa, hãng tin truyền thông của nhà nước lại đăng tải rất ít thông tin về các sự kiện ở nước láng giềng Tunisia. Chính phủ Algeria cố gắng ngăn chặn truy cập Internet và sử dụng Facebook khi thông tin về nỗi phẫn nộ của quần chúng nước láng giềng ngày một tăng. Nhưng do còn có các đường cáp quang ngầm của tư nhân chạy tới châu Âu, các nhà cầm quyền Algeria thiếu một điểm chặn hiệu quả. Một khi Chính phủ cũng trở thành một mục tiêu của Anonymous, các mạng lưới hạ tầng thông tin của Chính phủ đều thành nạn nhân bị tấn công.

Vào thời điểm Ben Ali chạy trốn từ Tunisia tới Ả Rập Xêút để tị nạn vào ngày 14 tháng Một, các chiến dịch bất phục tùng dân sự chống lại nền cai trị chuyên chế đang nổi lên ở cả Jordan, Oman, và Yemen. Ở các nước khác như Libăng, Mauritania, Ả Rập Xêút và Sudan, những cuộc phản đối qui mô nhỏ cũng nổ ra về một loạt các vấn đề khác nhau và dẫn đến những thỏa thuận nhượng bộ nhanh chóng hoặc gần như không gây ra tác động đáng kể. Nhưng kể cả ở những nước này, các lãnh đạo đối lập cũng được truyền lửa từ những diễn biến ở Tunisia. Hơn thế nữa, những nhà lãnh đạo đối lập khắp khu vực dần học hỏi các thủ thuật kỹ thuật số để gây bất ngờ cho các nhân vật cầm quyền. So với Tunisia, chỉ có Ai Cập là có cộng đồng mạng xã hội rộng hơn, và câu chuyện thành công của Tunisia đã giúp truyền cảm hứng cho những cuộc biểu tình lớn nhất của Cairo trong ba mươi năm qua.

Ai Cập được truyền cảm hứng

Ở Ai Cập, hầu hết mọi người đều sử dụng điện thoại di động. Đây cũng là nước có số dân sử dụng Internet cao thứ hai trong khu vực (chỉ sau Iran). Tin tức về vụ bỏ trốn của Ben Ali nhanh chóng lan truyền khắp Ai Cập, truyền thông nhà nước của nước này chỉ miễn cưỡng đăng tải thông tin về sự ra đi của ông ta, và liên tục chậm chạp trong tường thuật câu chuyện quy mô lớn hơn – đó là những hoạt động phản đối trên phạm vi toàn khu vực, bao gồm cả những cuộc biểu tình đột ngột khởi phát ở Cairo.

Giống như Tunisia, Ai Cập từ lâu cũng có một không gian trực tuyến công cộng lớn và sôi nổi, nơi hoạt động chủ yếu của các đảng chính trị đã bị cấm, các nhà chính thống cấp tiến, cũng như là những phóng viên điều tra và các công dân bất mãn với chế độ. Chính phủ cũng không thể đóng sập nó hoàn toàn: ví dụ, khi trang tin tức trực tuyến của tổ chức Huynh đệ Hồi giáo (MB) bị cấm, tổ chức này đã thuê các máy chủ đặt ở London và tiếp tục tuyên truyền quan điểm của họ khắp mạng internet. Nhưng hơn bất kỳ một nhóm có danh thế nào, sự kiện đã biến thái độ đả kích chống Mubarak trở thành cuộc biểu tình quần chúng chính là một chiến dịch tưởng nhớ một blogger đã bị sát hại.

Giám đốc quốc gia làm việc cho Google Wael Ghonim lập một nhóm Facebook có tên “Chúng ta đều là Khaled Said” để lưu giữ những kỷ niệm về chàng blogger 28 tuổi, người bị cảnh sát đánh tới chết vì vạch trần hành vi tham nhũng của họ. Cũng như những bức ảnh của Bouazizi trong bệnh viện được truyền qua những trang mạng của gia đình hay bạn bè ở Ai Cập, một bức hình có khuôn mặt bị đánh đập dã man của Said do anh trai chụp khi thi thể Khaled nằm trong nhà xác thành phố Alexandria cũng được truyền qua hàng ngàn máy di động. Và cũng như Neda Agha-Soltan, một phụ nữ Iran 26 tuổi đã trở thành biểu tượng phản kháng sau khi cái chết của cô do bị lính bắn tỉa của chế độ giết trong cuộc biểu tình hậu bầu cử ở Tehran được ghi lại vào tháng 6 năm 2009, thì tương tự Said và trang Facebook về những kỷ niệm của anh cũng trở thành nơi quy tụ những ý kiến bất đồng và cả sự cảm thông. Nhưng trang Facebook về Said không chỉ đơn thuần là một trang mạng tưởng nhớ một cá nhân của một nhóm vốn từ lâu đã bị cảnh sát Ai Cập đày đọa dai dẳng. Nó đã trở thành công cụ hậu thuẫn, một điểm gốc vững chắc của cộng đồng – dù chỉ là tạm thời. Ghonim nhanh chóng nổi lên như một tiếng nói lãnh đạo của Ai Cập trên Twitter, kết nối mạng lưới cộng đồng nói tiếng Ả-rập với mạng lưới những nhà quan sát chủ yếu nói tiếng Anh và những người ủng hộ ở nước ngoài.

Những người biểu tình đầu tiên mạo hiểm tiến vào quảng trường Tahrir (Tự do) của Cairo vào ngày 25 tháng Một năm 2011, cũng chia sẻ bao hi vọng và hoài bão với những người đồng cảnh ngộ ở Tunis. Họ là một cộng đồng chung của những người cùng suy nghĩ, được học hành nhưng đều thất nghiệp (trong một xã hội có “nhiều thanh niên” mà thường xuyên không tạo đủ công ăn việc làm cho những lớp lao động trẻ của mình), háo hức thay đổi nhưng không cam kết đối với lòng mộ đạo tôn giáo hay ý thức hệ chính trị nào. Họ tìm được sự thống nhất thông qua các phương tiện điện tử, và sau đó sử dụng điện thoại di động để kêu gọi mạng lưới xã hội của mình xuống đường.

Biểu tình lan rộng rất nhanh, khiến các quan chức chế độ và giới quan sát bên ngoài phải ngạc nhiên một mạng lưới rộng lớn từng ấy với những công dân thuộc tầng lớp trung lưu, vốn sống yên bình và khá thoải mái lại có thể sẵn sàng tập hợp chống lại Mubarak với tốc độ nhanh đến vậy. Nhiều tín đồ Hồi giáo, những người ủng hộ đảng đối lập và thành viên công đoàn cũng tham gia, nhưng chính các công dân từ xã hội tự do và dân sự mới là những tiếng nói chủ chốt trong cuộc đối thoại trên mạng này. Các tin tức hay những bài phát biểu của Mubarak, tổng thống Mỹ Barack Obama, hay nhiều lãnh đạo khác trong khu vực được truyền trực tiếp tới điện thoại di động hay máy tính xách tay trên quảng trường.

Vào tuần cuối tháng Một, Mubarak ngày càng tỏ ra tuyệt vọng khi cố gắng cắt Ai Cập khỏi hệ thống hạ tầng thông tin toàn cầu, và nỗ lực này của ông ta đã đạt được cả thành công lẫn thất bại. Đoán trước được kế hoạch này, các sinh viên có hiểu biết về công nghệ và những nhà lãnh đạo xã hội dân sự đã chuẩn bị điện thoại vệ tinh và những kết nối đường truyền tới Israel và Châu Âu, và từ đó có thể duy trì kết nối chặt chẽ và liên tục với phần còn lại của thế giới. Thêm vào đó, theo quan sát, các kỹ sư viễn thông chịu trách nhiệm làm nghẽn truy cập Internet theo lệnh của nhà nước cũng làm việc rất chậm chạp. Nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn đầu tiên nhận được lệnh đóng cửa vào Thứ Sáu, ngày 28 tháng Một, nhưng cho đến Thứ Bảy mới thực thi. Những nhà cung cấp khác nhanh chóng thực hiện, nhưng lại khôi phục dịch vụ bình thường vào Thứ Hai. Trong vòng bốn ngày, lượng băng thông truyền đến Ai Cập có giảm, nhưng vẫn ít hơn rất nhiều so với lượng mất tín hiệu thông tin tạm thời mà Mubarak muốn đạt được. Cả chế độ cũng phải đối mặt với những tổn thất và tác dụng ngược. Các cơ quan chính phủ tê liệt do bị cắt hệ thống đường truyền. Tầng lớp trung lưu Ai Cập, không truy cập được Internet tại nhà, đổ xuống đường với số lượng nhiều hơn bao giờ hết, nhiều người trong số đó đơn giản chỉ vì bị muốn tìm hiểu xem chuyện gì đang diễn ra.

Vài ngày sau đó, lực lượng an ninh Ai Cập bắt đầu sử dụng Facebook và Twitter để thăm dò các hoạt động sắp diễn ra của nhiều nhà hoạt động riêng lẻ. Chúng đã bắt cóc Ghonim khi nhóm Facebook của anh đạt đỉnh 300.000 thành viên (con số này hiện đã tăng gấp 4 lần). Công nghệ truyền thông số hóa không chỉ khơi dậy làn sóng chống đối của dân chúng trên khắp Ai Cập, mà còn tạo ra một phương thức tổ chức quần chúng độc đáo được nhân rộng trên toàn khu vực.

Truyền thông số hóa truyền bá thông tin ra cả khu vực về từng chi tiết của công cuộc tập hợp quần chúng thành công chống lại nhân vật có thế lực ở Tunisia và Ai Cập. Giống như đã từng diễn ra ở Tunisia và Ai Cập, chính quyền Algeria, Bahrain, Lybia, Ả-rập Xê-út và Syria cũng cố gắng dập tắt các cuộc đối thoại trên mạng về thay đổi chính trị trong nước. Chính quyền các nước này cũng tiến hành những vụ bắt giữ, đánh đập và quấy rối nhằm vào các blogger. Truyền thông số hóa rõ ràng đã nắm giữ một vai trò quan trọng. Hình ảnh những người biểu tình vui sướng hân hoan ở Tunisia đã truyền lửa cho các nước khác khắp vùng. Facebook đã mang lại cơ sở hậu cần vô giá cho khâu chuẩn bị biểu tình ở mỗi quốc gia. Hệ thống tin nhắn văn bản cung cấp cho mọi người cả trong và ngoài nước thông tin về nơi diễn ra hành động, nơi xảy ra ngược đãi, và bước tiếp theo phải thực hiện là gì.

Chỉ trong vài tuần, những trang PDF chỉ ra cách làm thế nào để thực hiện được một cuộc biểu tình thành công được truyền bá rộng rãi. Tờ Atlantic Monthly đã dịch và chủ trì một “Kế hoạch hành động của các nhà hoạt động”, trang boingboing.net cung cấp các thủ thuật hướng dẫn bảo vệ truy cập nặc danh, và Telecomix tuyên truyền các cách sử dụng đường cáp điện thoại cố định để thoát khỏi những biện pháp ngăn chặn mạng băng thông rộng của nhà nước. Bằng Google Earth, dân Hồi giáo Shias ở Bahrain- nhiều người trong số đó phải sống trong những căn nhà chật chội chỉ có một phòng cho cả đại gia đình – có thể xác định vị trí và tập hợp những bức ảnh về các cung điện xa hoa của giới Sunni thiểu số cầm quyền. Truyền thông điện tử giúp người dân nhận thức được giữa họ có cùng những mối bất bình chung, và cũng cung cấp không gian linh động cho các chiến lược hành động của họ.

Mahmood al-Yousif, một blogger hoạt động vì nhân quyền nổi tiếng ở Bahrain, đã cập nhật lên Twitter trong khi bị bắt, và ngay lập tức đã kết nối với mạng lưới hiện có của các nhà hoạt động xã hội dân chủ trong nước như @OnlineBahrain có các nhà quan sát quốc tế thông qua @BahrainRights. Ở Libya, nơi xuất hiện tuyên ngôn đầu tiên của một tổ chức cạnh tranh với chính quyền Muammar Qadhafi là trên mạng Internet , ở một trang web tuyên bố thành lập chính phủ thay thế dưới dạng hội đồng quốc gia lâm thời. Một trong số những cố vấn cao cấp của Qadhafi đã rời bỏ chính quyền bằng cách đăng lời từ chức lên Twitter và mạnh mẽ kêu gọi Qadhafi rời Libya.

Như ở Tunisia và Ai Cập, người Algeria cũng đã biến nỗi tuyệt vọng và bất mãn về kinh tế từng đày đọa mình bùng phát thành những cuộc biểu tình tương tự. Salima Ghezali, nhà hoạt động người Algeria đi đầu trong phong trào, chia sẻ với phóng viên hãng Al Jazeera rằng những cuộc bạo động này “vừa rất cục bộ, nhưng cũng hết sức quốc tế”. Các cuộc bãi công do công đoàn lãnh đạo đã trở nên quen thuộc ở Algeria trong nhiều thập kỷ qua, nhưng tình trạng náo động như của năm 2011 thì kể từ 1991 đến nay là chưa từng thấy. Tại đây, những người chống đối không phải là những người hiểu biết về công nghệ nhất trong khu vực, nhưng trước khi truyền thông quốc gia đưa tin về cuộc các cuộc biểu tình trong nước hay vụ từ chức của Mubarak, rất nhiều người đã nhận được tin tức truyền cảm hứng này thông qua tin nhắn.

Bối cảnh số hóa, các hậu quả chính trị

Ben Ali đã cai trị trong khoảng gần 25 năm, và Mubarak gần 30 năm. Họ bị truất ngôi bởi một mạng lưới những nhà hoạt động mà các thành viên chủ chốt mới chỉ khoảng 20 tuổi, chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức vận động xã hội hay diễn thuyết chính trị nơi đông người. Nhận thấy điều này, các chính phủ khác đã phải cố gắng nhượng bộ với hi vọng ngăn chặn các cuộc bùng nổ. Giới cầm quyền của Algeria đã dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp kéo dài gần hai thập kỷ qua. Vua Oman đã trao cho nhánh lập pháp dân cử của nước này quyền thông qua luật. Tổng thống tội phạm chiến tranh của Sudan cũng hứa sẽ không tìm cách tái cử. Tất cả các quốc gia dầu mỏ đều cam kết tiến hành tái phân phối tài sản hoặc mở rộng dịch vụ công.

Dĩ nhiên chính trị ở thế giới thực còn nhiều điều để nói hơn những gì diễn ra trên mạng. Một nhà nghiên cứu xã hội được đào tạo theo lối cổ điển có thể sẽ giải thích những biến động này dựa vào tình trạng chung của khu vực như dân số trẻ gia tăng, năng suất kinh tế giảm sút, tập trung của cải tăng, thất nghiệp cao, chất lượng cuộc sống thấp. Những nhân tố này là phần điển hình thường thấy trong câu truyện thay đổi xã hội, và sự hiện diện của chúng không làm giảm vai trò của truyền thông số hóa. Những phương tiện truyền thông này có sức mạnh to lớn giúp lan truyền các tin nhắn phản kháng, đẩy lùi việc truyền tải thông tin của các nhà đài của chính quyền, kết nối những công dân tuyệt vọng với nhau, giúp họ nhận ra rằng họ có thể cùng thực hiện những hành động chung dựa trên nỗi bất bình cùng có. Nhiều năm qua, những bất mãn vẫn luôn âm ỉ, nhưng dường như nhân tố thúc đẩy các cuộc biểu tình vẫn chưa đủ mạnh cho đến khi điện thoại di động và website phủ sóng khắp khu vực. Không thể nhìn một cách giản đơn về điều kiện của cách mạng- những nguyên nhân đơn lẻ của nó, cũng như những sự phẫn nộ cụ thể khác biệt rất nhiều giữa quốc gia này với quốc gia khác. Nhưng sử dụng truyền thông số hóa để khuấy động và tổ chức chống đối đã tạo ra một mạch kết nối chung.[2]

Đúng là các nhà báo thường tập trung chủ yếu vào những chiến lược công nghệ hiện hữu, nhất là khi chúng dường như mang lại nhiều thành công, thay vì nhìn nhận những nguyên nhân gốc rễ của bất mãn xã hội. Nhưng các nhà phân tích cũng không nên vì thế mà quá thiên lệch cho những căn nguyên thực chất này mà loại bỏ công nghệ thông tin ra khỏi danh sách tổng hợp các nguyên nhân. Thực tế, bất mãn xã hội không phải là thứ gì đó có sẵn, mà phải được thai nghén dần dần khi mọi người nhất trí về bản chất và mục tiêu cụ thể của nỗi bất mãn trong lòng họ. Trong một vài năm trở lại đây, quá trình thai nghén này được thực hiện thông qua truyền thông, cụ thể là ở Tunisia, Ai Cập, và Bahrain. Không gian mạng có thể là nơi thuận lợi cho bất mãn xã hội xây dựng định dạng tổ chức, và từ đó chuyển nó thành những chiến lược và mục tiêu khả thi. Trong mấy tháng gần đây, quá trình chuyển hóa này diễn ra trên điện thoại di động và các ứng dụng mạng xã hội, kể cả ở các quốc gia có chính phủ rất giỏi trong việc dồn ép hay đàn áp dã man phe chống đối, như Ả-rập Xê-út, Syria, và Yemen.

Ở vùng Trung Đông và Bắc Phi, thái độ bất mãn đã tồn tại từ lâu, trước cả khi có Internet. Nhưng truyền thông kỹ thuật số đã giúp biến nỗi bất mãn của từng cá nhân riêng lẻ, từng địa phương, và từng cộng đồng nhất định thành một phong trào có tổ chức, trong đó mọi thành viên đều có ý thức tập thể về những khó khăn hay cơ hội mà họ sẽ cùng gánh vác khi đứng lên hành động. Như vậy, sẽ có lý hơn khi chúng ta lý giải tình hình biến động ở khu vực bằng tổng hòa các nguyên nhân sau: sức mạnh của các phong trào chống đối hiện hữu, khả năng (hay sự bất lực) của chế độ cầm quyền trong việc mua chuộc lãnh đạo phe chống đối, và vai trò của phương tiện truyền thông kỹ thuật số trong xây dựng các mạng lưới chống đối. Ở từng nước khác nhau sẽ có một “công thức” nguyên nhân khác nhau, nhưng trong đó luôn có một yếu tố nhất quán đó là sự có mặt của truyền thông kỹ thuật số.

Vẫn còn quá sớm để gọi những sự kiện này là một “làn sóng” dân chủ hóa – vì hệ quả của chúng vẫn còn chưa chắc chắn – nhưng chúng ta có thể khẳng định một điều rằng bất đồng đối với chính quyền độc tài đã trở thành mục tiêu hành động tập thể nhất quán cho cả khu vực. Những lãnh tụ phong trào xã hội Ả-rập đã chủ động học hỏi kinh nghiệm đào tạo và lời khuyên từ lãnh đạo các phong trào dân chủ hóa ở các nước khác, và những lời kêu gọi hùng hồn về quyền tự do dân sự đã xuất hiện ở khắp các cuộc biểu tình.

Nếu tổng hợp từ những tháng đầu năm 2011, câu chuyện về truyền thông kỹ thuật số và “Mùa xuân Ả Rập” dường như được phát triển thành năm hoặc sáu chương hay giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là chuẩn bị, trong đó các nhà hoạt động sử dụng truyền thông kỹ thuật số theo các cách riêng để tìm kiếm nhau, xây dựng nền tảng thống nhất trên những bất mãn chung, và xác định mục tiêu chính trị nhất quán. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn châm ngòi, bắt đầu bằng một vụ việc nào đó mà truyền thông quốc gia lờ đi, nhưng lại được đứa tin tràn làn trên mạng và gây phẫn nỗ trong công chúng. Để thực hiện được giai đoạn thứ ba- biểu tình đường phố phải nhờ đến sự kết nối và phối hợp giữa các cá nhân trên mạng trực tuyến.

Sau đó là kêu gọi quốc tế, ở gia đoạn này truyền thông kỹ thuật số sẽ đăng tải thông tin (đa số là các tin địa phương) lôi kéo chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, cộng đồng người Do Thái trên toàn cầu, và các cơ quan truyền thông hải ngoại. Nhiều vấn đề sau đó sẽ được đẩy lên đến đỉnh điểm khi các chế độ, dù đã nỗ lực dập tắt chống đối bằng cách vừa nhân nhượng, vừa đàn áp, nhưng vẫn khiến người biểu tình xuống đường; hoặc không thể xoa dịu hay đe dọa họ, để rồi bắt đầu sụp đổ trước đòi hỏi của nhân dân; hay kết thúc trong thế bế tắc đẫm máu, thậm chí là nội chiến như chúng ta đã thấy ở Bahrain, Libya, Syria và Yemen. Trong một số trường hợp như ở Tunisia và Ai Cập, câu chuyện còn kéo dài thêm một giai đoạn nữa là xung đột thông tin tiếp nối. Đó là khi các bên của cuộc chơi đấu đá nhau bằng cách giành quyền kiểm soát công cuộc cách mạng, nhằm cố gắng lèo lái tương lai theo hướng có lợi cho mình.

Trên khắp khu vực, quá trình đi đến thay đổi chính trị có bao gồm cả công đoạn làm giảm tín nhiệm của chế độ cầm quyền bằng cách điều tra những hành vi tham nhũng của họ. Nơi tốt nhất và có lẽ cũng là duy nhất để các nhà phê bình này có thể truyền bá được thông điệp của họ đi khắp nơi là Internet. Các blog, trang tin tức, những cập nhật Twitter, các diễn đàn chính trị đã tạo ra một không gian thảo luận nơi phụ nữ có thể tranh luận một cách bình đẳng với đàn ông, nơi mọi người có thể bàn về các chính sách mới, và cũng là nơi các bí mật của chế độ bị vạch trần. Nền tảng cho một sự kiện rúng động như vụ chiếm quảng trường trung tâm lại được tạo dựng từ một quá trình hết sức bình thường là mọi người đi mua di động giá rẻ và những giờ lên mạng ở quán cà phê Internet. Những công nghệ số mới đã tạo cơ hội cho các cá nhân cấu trúc lại những cách thức họ cung cấp và sử dụng nội dung thông tin. Khi khủng hoảng chính trị bùng nổ, những thói quen mới trong sử dụng công nghệ đã được hình thành rồi.

Sau năm 2000, những công nghệ liên lạc mới nhanh chóng tràn ngập khắp thế giới Ả Rập. Với nhiều người Ả Rập, đặc biệt là ở các thành phố, đọc tin tức nước ngoài trên mạng và trò chuyện với bạn bè, họ hàng ở hải ngoại đã trở thành thói quen. Truyền thông số hóa có thể trở thành một nguyên nhân ngắn hạn cho các cuộc chính biến vào năm 2011 chính là vì chúng đã trở nên quá phổ biến từ trước đó. Sử dụng truyền thông kỹ thuật số trong thời gian khủng hoảng chính trị nghe có vẻ lạ lẫm. Nhưng đối với người dân ở Tunis, Cairo, và nhiều thủ đô khác, đó là những việc quá đỗi thường ngày, và điện thoại di động do phổ biến trong dân chúng nên đã trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến công cuộc thay đổi chính trị. Cuộc cách mạng có thể được phát trên truyền hình, có thể không, nhưng nó chắc chắn sẽ được đăng trên mạng.

Ngòi châm biểu tình toàn dân bùng nổ không chỉ là ở hành vi độc ác của chế độ cai trị, (như việc cảnh sát đánh đập Mohamed Bouazizi hay Khaled Said) mà còn do nỗi căm phẫn lan truyền từ gia đình, bạn bè và đến cả những người không quen biết, thúc đẩy họ tham gia khi thấy truyền thông chính phủ phớt lờ đi sự việc. Lúc đầu, khi kênh Al Jazeera không thể đưa tin về các hoạt động số hóa ở Syria, các nhà lãnh đạo dân sự đã vận động mạng thông tin quyền lực này sản xuất một bộ phim tài liệu dài và đưa nội dung về các nhà hoạt động Syria lên website của hãng. Kết quả là, dư luận trong nước và khắp khu vực ngày càng quan tâm đến công cuộc chống đối nhà độc tài Bashar al-Assad đang diễn ra tại Syria.

Thú vị hơn, ngòi nổ của cuộc biểu tình gần đây dường như xuất hiện mà không có sự can hệ đến các nhà lãnh đạo có tiếng tăm. Đáng chú ý là những nhà tư tưởng có uy tín, quan chức công đoàn lao động, phát ngôn viên tôn giáo đều vắng mặt (hoặc ít nhất họ chỉ xuất hiện vào giai đoạn đầu). Ở Tunisia, sự kiện châm ngòi là vụ tử tự của Bouazizi. Bài học của Tunisia lại tiếp túc châm ngòi ở Ai Cập. Khi hình ảnh về những người biểu tình đổ ra đường và những tên độc tài chạy trốn tràn ngập trên kênh Al Jazeera và các mạng truyền thông xã hội, số còn lại trong khu vực cũng nổi dậy theo.

Sau khi bùng nổ, các cuộc bạo động chính trị trên đường phố bắt đầu xảy ra, dù theo cách vô cùng khác biệt. Đa số các cuộc biểu tình ở hầu hết các nước được tổ chức theo những cách không thể lường đến được, khiến các chính phủ cũng khó phản ứng. Vì không có một nhà lãnh đạo cụ thể nào, nên chính quyền không biết phải bắt giữ ai. Các nhà hoạt động sử dụng Facebook, Twitter và các trang khác để bàn luận về các kế hoạch cho các hoạt động dân sự, đồng thời chơi trò “mèo vờn chuột” với quan chức của chính quyền- những người đang giám sát các ứng dụng này.

Ở Lybia, kẻ thù của tên độc tài Qadhafi dùng các trang hẹn hò trực tuyến Hồi giáo để che dấu các kế hoạch mít tinh và biểu tình quy mô lớn. Ở Syria, chế độ Assad thỉnh thoảng chặn Facebook, và Twitter kể từ năm 2007, nhưng đã mở lại đường truy cập khi biểu tình leo thang, có lẽ đây là hành động nhằm gài bẫy các nhà hoạt động. Khi các quan chức chính phủ lan truyền tin tức sai lệch trên Twitter, các nhà hoạt động sử dụng Google Map để tự giám sát và kiểm tra nguồn thông tin đáng tin cậy. Từ đó, chính quyền lại cố làm lẫn lộn các nỗ lực kiểm soát thông tin của phe chống đối. Mubarak đã vô hiệu hóa hạ tầng băng thông rộng của Ai Cập nhưng vẫn duy trì vệ tinh và các đường cáp viễn thông lục địa. Qadhafi cố đánh ngắt mạng lưới di động trong nước, nhưng do chúng quá phân tán, nên việc này không thực hiện được.

Thông tin về các sự kiện trong khu vực được đăng tải thường xuyên cho thấy dân cư dùng chính camera trên điện thoại di động của họ để ghi lại sự việc, đặc biệt là trong những sự kiện chính họ có tham dự. Ở quảng trường Tahrir, cả đám đông biểu tình và lính lái xe tăng đều nhận được những hình ảnh họ chụp lẫn nhau rồi nhanh chóng truyền khắp các mạng xã hội. Khi các xe quân sự bị bỏ không, quần chúng trèo lên khoang xe tăng và chụp ảnh để đăng lên Facebook của họ. Những người bị bắt lại chụp ảnh khi mình bị giam cầm. Nhiều người Ai Cập cho rằng quân đội đã không tổ chức chống trả người biểu tình một cách có hệ thống bởi binh lính đột nhiên nhận thức được mối liên kết xã hội gần gũi giữa họ với những người chiếm giữ quảng trường, và cũng bởi quân đội biết rằng nhất cử nhất động của họ đều lọt vào ống kính camera. Ở những quốc gia mà lực lượng quân đội hành động hung hăng, như ở Bahrain và Syria, kết quả tàn sát vẫn được ghi lại. Youtube đã từng đặc cách gạt bỏ chính sách không chiếu những hình ảnh đổ máu thông thường của mình để cho phép đăng tải nội dung gây chấn động người dùng, ví như một đoạn băng video quay bằng di động có nhiều công dân Syrian không được trang bị vũ khí- có cả trẻ em- bị quân đội Assad bắn.

Chẳng sớm thì muộn, phe đối lập với chế độ hiện tại sẽ tìm kiếm ủng hộ quốc tế, và quá trình đó cũng đã trở thành quá trình sử dụng truyền thông kỹ thuật số. Tình trạng rối loạn trong nước rốt cuộc đã thu hút sự chú ý của quốc tế. Dĩ nhiên, liệu cuộc nổi dậy toàn dân thu hút được bao nhiêu khán giả quốc tế lại phụ thuộc vào mối quan hệ chiến lược với phương Tây, và cả mối liên kết gần gũi của mạng lưới truyền thông xã hội. Đa số những người sử dụng công nghệ ở các nước không đủ trình độ để vượt qua tường lửa của chính phủ hay duy trì tình trạng nặc danh và bí mật khi liên lạc trực tuyến. Nhưng ở mỗi quốc gia đều có nhiều sinh viên sành công nghệ và các lãnh đạo xã hội dân chủ với những kỹ năng đó, và họ đã vận dụng chúng rất tốt trong những tháng đầu năm 2011. Học tập từ những nhà hoạt động dân chủ ở các nước khác, những người đưa tin này đã sử dụng điện thoại vệ tinh, đường truyền viễn thông trực tiếp đến các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) ở Israel và châu Âu, cũng như dùng các công cụ phần mềm để bảo vệ người sử dụng ẩn danh để cung cấp cho truyền thông quốc tế hình ảnh các sự kiện đang xảy ra- kể cả khi những tên độc tài vùng vẫy trong tuyệt vọng khi cố đóng cửa ISP quốc gia.

Nguồn: Philip N. Howard & Muzammil M. Hussain (2011). “The Upheavals in Egypt and Tunisia: The Role of Digital Media”, Journal of Democracy, Vol. 22, No. 3, pp. 35-48.Biên dịch: Nguyễn Thị Nghĩa | Hiệu đính: Nguyễn Thị Nhung


[1] Doug McAdam, Political Process and the Development of Black Insurgency, 1930–1970 (Chicago: University of Chicago Press, 1982).

[2] Philip N. Howard, The Digital Origins of Dictatorship and Democracy: InformationTechnology and Political Islam (New York: Oxford University Press, 2010).

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/04/24/vai-tro-truyen-thong-ky-thuat-so/#sthash.8ATTa40z.dpuf

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Các nguồn sức mạnh mềm của Mỹ


Nguồn: Nye, Joseph S. “Sources of American Soft Power”, Chương 2 trong J.S. Nye, Soft Power: The Means to Success in World Politics (New York: Public Affairs, 2004), pp. 33-72.

Biên dịch & Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nước Mỹ có nhiều nguồn lực có tiềm năng mang lại sức mạnh mềm, đặc biệt khi chúng ta xem xét những cách thức ưu thế về kinh tế dẫn tới sự thịnh vượng cũng như danh tiếng và sức cuốn hút. Mỹ không chỉ là nền kinh tế lớn nhất thế giới mà phân nửa 500 công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới cũng đến từ Mỹ, nhiều gấp năm lần quốc gia xếp thứ hai là Nhật.[1] Sáu mươi hai trong số 100 thương hiệu toàn cầu là của các công ty Mỹ, và nước này cũng có 8 trong số 10 trường kinh doanh hàng đầu thế giới.[2]

Các chỉ số về mặt xã hội cũng cho thấy điều tương tự. Ví dụ như:

  • Mỹ thu hút số người nhập cư nước ngoài gấp gần sáu lần Đức, quốc gia đứng thứ hai.[3]
  • Mỹ là quốc gia hàng đầu vượt trội về xuất khẩu phim và các chương trình truyền hình, mặc dù trên thực tế “Bollywood” của Ấn Độ hàng năm sản xuất nhiều phim hơn.[4]
  • Trong số 1,6 triệu sinh viên trên thế giới du học nước ngoài có tới 28% nhập học ở các trường đại học Mỹ, so với 14 % theo học ở Anh.[5]
  • Hơn 86.000 học giả nước ngoài làm việc ở các cơ sở giáo dục Mỹ vào năm 2002.[6]
  • Các thống kê khác cho thấy Mỹ:
  • Xuất bản nhiều sách hơn bất cứ quốc gia nào khác.
  • Có doanh số bán các sản phẩm âm nhạc cao hơn gấp hai lần so với nước đứng kế tiếp là Nhật Bản.
  • Có số máy chủ internet nhiều gấp 13 lần so với Nhật Bản
  • Xếp số một về số giải Nobel vật lý, hóa học và kinh tế.
  • Xếp thứ hai ngay sau Pháp về số giải Nobel văn học.
  • Công bố số bài báo tạp chí và nghiên cứu khoa học nhiều gấp gần 4 lần so với nước đứng thứ hai là Nhật Bản.[7]

Đương nhiên Mỹ không xếp hàng đầu trong tất cả các lĩnh vực có thể tạo nên sự hấp dẫn đối với người dân. Theo chỉ số chất lượng sống năm 2003 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) (được tính dựa trên không những thu nhập mà còn giáo dục, y tế và tuổi thọ), Na Uy, Iceland, Thụy Điển, Australia, Hà Lan và Bỉ xếp trên Mỹ với tư cách là những quốc gia có cuộc sống tốt nhất.[8] Nhật xếp trên Mỹ về số bằng sáng chế cấp cho người dân sống ở Nhật và tỉ lệ GNP dành cho nghiên cứu và phát triển. Anh và Đức cũng xếp hạng cao hơn Mỹ về tiếp nhận người tị nạn. Pháp và Tây Ban Nha cũng thu hút nhiều khách du lịch hơn Mỹ (dù Mỹ xếp cao hơn về doanh thu từ du lịch). Còn nếu xét về các “chỉ số kém hấp dẫn” thì Mỹ lại đứng ở những hàng cuối trong danh sách các nước giàu cung cấp viện trợ phát triển, nhưng lại xếp hàng cao nhất về tỉ lệ dân số bị bỏ tù.[9]

Đối với quyền lực,  chuyện một vài chỉ số kém hấp dẫn cao cũng không quan trọng bằng thực tế là, như chúng ta đã thấy ở chương trước, các tài nguyên quyền lực tiềm tàng không phải luôn có thể chuyển hóa được thành quyền lực thực tế xét trên phương diện đạt được mục tiêu mong muốn. Để đạt được mục tiêu mong muốn, các chỉ số khách quan về sức mạnh mềm tiềm năng phải hấp dẫn trong mắt công chúng và sự hấp dẫn đó phải ảnh hưởng tới các kết quả của chính sách. Trong chương này chúng ta sẽ xem xét một số ví dụ về cách thức sự hấp dẫn như vậy đã tác động tới các kết quả chính sách quan trọng như thế nào. Nhưng trước tiên chúng ta hãy xem xét một số nguyên nhân dẫn tới sự thay đổi trong sự hấp dẫn của nước Mỹ và việc điều này đã tác động tới các kết quả chính sách như thế nào.

SỰ THĂNG TRẦM CỦA CHỦ NGHĨA BÀI MỸ

Bất chấp những nguồn lực ấn tượng, sự hấp dẫn của nước Mỹ đả giảm sút khá mạnh vào năm 2003. Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Iraq, các thăm dò dư luận cho thấy Mỹ mất trung bình 30 điểm ủng hộ ở các nước Châu Âu. Mức độ ủng hộ thậm chí còn thấp hơn ở các nước Hồi giáo. Sau chiến tranh, phần lớn người dân có ấn tượng không tốt về Mỹ ở gần hai phần ba trong số 19 quốc gia được điều tra. Phần lớn những người có quan điểm tiêu cực về Mỹ nói rằng thực tế này bắt nguồn từ các chính sách của chính quyền Bush hơn là do nước Mỹ nói chung.[10]

Sự chống đối các chính sách của Mỹ không giống với sự chống đối nước Mỹ nói chung. Các phản ứng đối với các chính sách thường dễ thay đổi hơn so với các phản ứng ngấm ngầm đối với văn hóa và các giá trị. Hình ảnh hay sự hấp dẫn của một quốc gia bao gồm thái độ của người nước ngoài trên nhiều cấp độ và dưới nhiều dạng thức, trong đó các phản ứng đối với chính sách của Mỹ chỉ là một trong số các yếu tố đó.

Hình 2.1 dựa trên kết quả của các cuộc thăm dò dư luận năm 2002 ở 43 quốc gia cho thấy mức độ nước Mỹ được ngưỡng mộ về các tiến bộ khoa học và công nghệ cũng như về âm nhạc, điện ảnh và truyền hình. Cùng lúc đó, phần lớn người được khảo sát ở 34 trong số 43 quốc gia nói rằng họ không thích sự gia tăng ảnh hưởng của Mỹ ở đất nước họ.[11]

Chiến tranh Iraq không phải là lần đầu tiên một chính sách an ninh gây tranh cãi làm giảm sự hấp dẫn của hình ảnh nước Mỹ ở các quốc gia khác. Có bốn thời kỳ trước đây sức hấp dẫn của Mỹ đã bị giảm sút ở Châu Âu: sau vụ khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956; trong suốt phong trào “chống bom nguyên tử” những năm cuối thập kỷ 1950 và đầu những năm 1960 (dù chủ yếu ở Anh và Pháp chứ không phải ở Đức và Italia); trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam những năm cuối thập kỷ 1960 và đầu những năm 1970; và trong thời kỳ triển khai các vũ khí hạt nhân tầm trung ở Đức những năm đầu thập kỷ 1980.

Hình 2.1. Các khía cạnh hấp dẫn của Mỹ

(Vui lòng download file để xem hình)

Nguồn: Pew Global Attitudes Project, What the World Thinks in 2002

 (Mức trung bình ở 43 quốc gia được khảo sát)

Chiến tranh Việt Nam bị phản đối rộng rãi ở Anh, Pháp, Đức và Italia. Mặc dù có sự giảm sút về mực độ hấp dẫn nói chung của Mỹ từ năm 1965 đến 1972 (với mức khoảng 23 điểm ở Anh, 32 điểm ở Đức, 19 điểm ở Italia và 7 điểm ở Pháp), phần lớn người dân ở tất cả các quốc gia trừ Pháp đều tiếp tục thể hiện quan điểm tích cực về Mỹ trong suốt các chiến dịch lớn của cuộc chiến cho tới vòng đàm phán hòa bình Paris năm 1972.[12] Tuy nhiên sự giảm sút về mức độ ủng hộ đã có những tác động đối với khả năng của chính phủ Mỹ trong việc đạt được các kết quả chính sách mong muốn. Sự giảm sút tính hấp dẫn đã cản trở nỗ lực của Tổng thống Lyndon Johnson trong việc giành được sự ủng hộ từ các quốc gia khác đối với cuộc chiến ở Việt Nam và sự giảm sút sức mạnh mềm cũng đã gây ảnh hưởng tới các chính sách khác. Ví dụ, ở Pháp Việt Nam “góp phần làm tăng sự ủng hộ giúp duy trì lập trường ngày càng chống NATO và chống Mỹ của De Gaulle.”[13]

Hình 2.2 Tỷ lệ người Tây Âu có ý kiến ủng hộ Mỹ, giai đoạn 1982 đến 2003

(Vui lòng download file để xem hình)

Vào đầu thập kỷ 1980, chính sách vũ khí hạt nhân của chính quyền Reagan nhiệm kỳ đầu đã làm dấy lên nhiều mối quan ngại. Trong một cuộc thăm dò dư luận của tạp chí Newsweek năm 1983, khoảng 40% số người được hỏi tại Pháp, Anh, Đức và Nhật phản đối chính sách của Mỹ. Cùng lúc đó, đa số người dân ở những nước này lại có cảm tình với người dân Mỹ.[14] Tổng thống Reagan đáng ra đã có thể nhận được sự đồng ý của Châu Âu trong việc triển khai các lực lượng hạt nhân tầm trung nhưng Châu Âu cuối cùng đã chống đối ra mặt các chính sách của Reagan nhằm cô lập Liên Xô về mặt kinh tế. Hình 2.2 cho thấy mức độ hấp dẫn của Mỹ đã biến đổi như thế nào qua từng năm. Những chính sách không phù hợp là yếu tố biến đổi nhiều nhất trong bức tranh chung, và yếu tố ổn định hơn dường như là thiện chí dành cho văn hóa và các giá trị Mỹ.

Tuy nhiên chủ nghĩa bài Mỹ vẫn tồn tại theo nghĩa chối bỏ mạnh mẽ xã hội, các giá trị và văn hóa Mỹ. Đó là một xu hướng không mạnh nhưng tồn tại dai dẳng trong bức tranh chung, và điều này bắt nguồn từ những ngày đầu tiên của nước Mỹ khi người Châu Âu đã biến Mỹ thành một biểu tượng trong các cuộc chiến tranh văn hóa nội bộ của mình. Ngay từ thế kỷ 18, một số người Châu Âu đã lập luận một cách kỳ cục rằng độ ẩm quá cao ở Tân Thế giới đã khiến cho cuộc sống ở đó tồi tệ và khó khăn.[15] Mặc dù một số người Châu Âu ở thế kỷ 18 coi Mỹ là biểu tượng của tự do nhưng nhiều người khác như nhà văn Charles Dickens lại chỉ coi Mỹ là nơi tập trung “một lũ ồn ào bát nháo, những kẻ giả dối, xuẩn ngốc và đầy mánh khóe.”[16] Vào đầu thế kỷ 20, ngay cả những nhà văn nhạy cảm như Virginia Woolf cũng coi Mỹ là nơi pha trộn của những gì đáng khinh và nhàm chán. Đối với nhiều người cánh tả Châu Âu, Mỹ là biểu tượng bóc lột giai cấp lao động của chủ nghĩa tư bản, trong khi cánh hữu thì coi Mỹ là nơi xấu xa do sự không thuần khiết về chủng tộc.[17]

Một số người theo quan điểm bảo thủ không thích tính bình đẳng của văn hóa đại chúng Mỹ. Năm 1931, một vị toàn quyền ở Ấn Độ đã phàn nàn với các nghị sĩ phe bảo thủ rằng Hollywood góp phần phá nát “hình ảnh của người da trắng ở phương Đông,” và Bỉ đã cấm người dân Châu Phi ở xứ thuộc địa Congo của mình không được xem phim Mỹ.[18] Tờ tạp chí The Economist có trụ sở đặt ở Luân Đôn thậm chí còn chỉ ra rằng ngày nay chủ nghĩa bài Mỹ là một phần của vấn đề giai cấp: “Những người Anh nghèo và ít học yêu thích nước Mỹ hơn so với những người Anh giàu có… Chủ nghĩa bài Mỹ của giới thượng lưu cũng giống như thói trưởng giả học làm sang.”[19] Thói trưởng giả của giới trí thức cũng có thể được thêm vào danh sách này. Giới tinh hoa của Châu Âu luôn chê bai nước Mỹ vì thiếu chiều sâu và sự tinh tế, tuy nhiên các thăm dò dư luận cho thấy nền văn hóa đại chúng của Mỹ lại được đông đảo người dân trên khắp thế giới đón nhận.

Chủ nghĩa bài Mỹ cũng bắt nguồn từ nguyên nhân mang tính cấu trúc. Mỹ là một siêu cường và sự chênh lệch về sức mạnh của Mỹ với các nước khác tạo ra một tình cảm pha trộn giữa sự ngưỡng mộ, ghen tị và giận dữ. Thực tế khi Mỹ nổi lên thành một siêu cường toàn cầu vào đầu thế kỷ 20, nhà văn Anh W. T. Stead đã viết một cuốn sách có tựa đề “Sự Mỹ hóa của thế giới” xuất bản năm 1902. Tương tự, vào giữa những năm 1970, đa số người dân ở Tây Âu cho rằng họ muốn thấy sự phân bổ quyền lực cân bằng giữa Mỹ và Liên Xô hơn là sự áp đảo hoàn toàn của Mỹ.[20] Nhưng những người coi sự trỗi dậy của chủ nghĩa bài Mỹ thời gian gần đây là điều không thể tránh khỏi đơn giản vì Mỹ quá mạnh đã sai lầm khi cho rằng Mỹ không thể làm được gì để khắc phục tình trạng này.

Các chính sách có thể làm mềm hoặc mài sắc các góc cạnh của cấu trúc quyền lực và chúng cũng có thể tác động tới tỉ lệ yêu và ghét trong mối quan hệ phức tạp yêu-ghét. Mỹ giờ đây thậm chí còn mạnh hơn so với lúc kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi mà Mỹ chiếm tới hơn một phần ba sản lượng kinh tế thế giới và là nước duy nhất sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng theo đuổi các chính sách được các nước đồng minh hoan nghênh. Tương tự, việc vai trò lãnh đạo của Mỹ được nhiều nước chào đón ngay cả sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc cho thấy không còn nước nào có thể cân bằng lại quyền lực của Mỹ. Ví dụ, một nhà trí thức người Nam Tư tên là Milovan Djilas đã lập luận vào năm 1992 rằng nếu quyền lực của Mỹ suy yếu “thì sẽ mở lối cho những điều tồi tệ bắt đầu.” Năm 1990, Naohiro Amaya, một quan chức cấp cao của Nhật thời kỳ Nhật đang nổi lên đã nói rằng “Dù chúng ta có thích hay không thì sẽ không tồn tại một thế giới tự do và một hệ thống thương mại tự do nếu như Mỹ không giúp bảo tồn chúng cho chúng ta. Vị trí tốt nhất mà Nhật có thể hướng tới là vai trò ‘phó tổng thống’ cho Mỹ.”[21] Sức mạnh quá lớn của Mỹ có thể tạo ra tình cảm yêu ghét lẫn lộn nhưng trong những thập kỷ vừa qua sức mạnh của Mỹ hầu như không đổi, vì vậy khó có thể giải thích tại sao chủ nghĩa bài Mỹ lại tăng hay giảm vào lúc này hay lúc khác.

Bên cạnh quyền lực vượt trội, Mỹ từ lâu còn đồng nghĩa với sự hiện đại, điều mà nhiều người thường coi là mối đe dọa đối với nền văn hóa của họ. Vào thế kỷ 19, những người Châu Âu cánh tả chống đối xã hội công nghiệp và những người phái hữu muốn định hình lại xã hội đó đã nhìn nước Mỹ với ánh mắt sợ hãi hoặc khinh miệt. Một hiện tượng tương tự ngày nay vẫn diễn ra trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa đang gia tăng. Ở một số khu vực không những chỉ tồn tại sự giận dữ đối với các ảnh hưởng văn hóa nhập khẩu từ Mỹ mà còn đối với ngay chính cả nền văn hóa Mỹ. Các cuộc thăm dò dư luận năm 2002 cho thấy đa số người dân ở 34 trong tổng số 43 quốc gia đồng ý với nhận định cho rằng “Các tư tưởng và tập quán của Mỹ được phổ biến ở nước họ là điều không tốt.”[22]

Một điều hầu như rõ ràng là những người bất bình trước sức mạnh của Mỹ và tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối với văn hóa đã lẫn lộn giữa hai vấn đề và đã vận dụng chủ nghĩa dân tộc để chống đối lại cả hai. Jose Bové, một nông dân nuôi cừu người Pháp, đã trở nên nổi tiếng sau khi phá hủy một nhà hàng McDonald’s ở một vùng nước Pháp nơi anh ta sinh sống.[23] Không ai ép ai dùng bữa tại McDonald’s nhưng khả năng thu hút sự chú ý của làng báo chí toàn cầu mà hành động của Bové có được cho thấy những dao động văn hóa đối với những gì thuộc về nước Mỹ. Như tổng thống Iran đã phàn nàn vào năm 1999 rằng “Trật tự thế giới mới và toàn cầu hóa mà một số cường quốc đang buộc chúng ta phải chấp nhận giống như một thứ chủ nghĩa thực dân mới, trong đó nền văn hóa của toàn thế giới đã không được đếm xỉa đến.”[24] Một nhà văn viết cho tờ Der Spiegel của Đức đã bình luận rằng đã đến lúc phải chống trả “trước khi toàn bộ thế giới được dán mác ‘Made in USA.’”[25]

Nhưng thật quá thiển cận nếu đồng nhất hóa toàn cầu hóa với quá trình Mỹ hóa. Những nền văn hóa khác đều đóng góp mạnh mẽ cho các mối liên kết toàn cầu. Tiếng Anh, thứ ngôn ngữ phổ thông trong thương mại hiện đại, đã được truyền bá bởi nước Anh chứ không phải Mỹ.[26] Như chúng ta sẽ thấy trong chương sau, những mối quan hệ có tầm quan trọng toàn cầu giữa các nước nói tiếng Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha không liên quan gì tới người Mỹ. Bệnh AIDS bắt nguồn từ Châu Phi và bệnh SARS bắt nguồn từ Châu Á. Bóng đá phổ biến trên phạm vi thế giới hơn nhiều so với môn bóng bầu dục Mỹ. Câu lạc bộ thể thao nổi tiếng nhất thế giới không phải đến từ Mỹ mà là câu lạc bộ Manchester United, ông vua của làng bóng đá Anh, với 200 câu lạc bộ người hâm mộ ở 24 quốc gia trên thế giới. Vị thế ngôi sao toàn cầu của danh thủ David Beckham lớn đến nỗi anh ta vẫn được tận hưởng danh tiếng đó sau khi được bán cho câu lạc bộ Real Madrid. Các ban nhạc The Beatles và Rolling Stones đều là những ban nhạc ngoài nước Mỹ. Ba trong số các hãng đĩa “Mỹ” hàng đầu thuộc sở hữu của các công ty Anh, Đức và Nhật. Nhật Bản là quốc gia đứng đầu về sản xuất phim hoạt hình và các trò chơi điện tử phổ biến nhất thế giới.[27] Sự ra đời của các chương trình truyền hình thực tế những năm gần đây lan từ Châu Âu sang Mỹ chứ không phải theo chiều ngược lại. Ngay cả McDonald’s cũng đang rút ra bài học từ nước Pháp để áp dụng vào việc thiết kế lại một số nhà hàng của mình tại Mỹ.[28] Dòng chảy toàn cầu hóa không hoàn toàn bắt nguồn từ Mỹ mặc dù những tác động của dòng chảy này phản ánh một cách khá tự nhiên những gì đang diễn ra trong nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đồng nhất toàn cầu hóa với quá trình Mỹ hóa là đang đơn giản hóa quá mức một thực tế phức tạp.

Tuy nhiên, một vài đặc điểm của Mỹ khiến nước này trở thành trung tâm của toàn cầu hóa. Mỹ vẫn luôn là miền đất hứa của những người nhập cư và nền văn hóa cũng như xã hội đa sắc tộc của nước này đã phản chiếu hình ảnh nhiều vùng đất khác nhau của thế giới. Mỹ từ lâu đã vay mượn một cách tự do các truyền thống khác nhau và dòng chảy di cư tiếp tục khiến cho Mỹ cởi mở với phần còn lại của thế giới. Điều này biến Mỹ trở thành một phòng thí nghiệm văn hóa nơi mà các truyền thống văn hóa khác nhau được pha trộn và xuất khẩu. Ngoài ra, do quy mô của nền kinh tế, Mỹ là thị trường lớn nhất để kiểm tra độ ăn khách của các bộ phim, bài hát hoặc trò chơi điện tử. Các ý tưởng và sản phẩm đều chảy vào Mỹ một cách tự do và cũng chảy ra khỏi nước Mỹ dễ dàng không kém, nhưng thường dưới dạng đã được thương mại hóa. Bánh pizza ở Châu Á dường như mang hương vị của Mỹ.[29]

Tuy nhiên tác động của toàn cầu hóa phụ thuộc không chỉ vào người gửi mà còn cả người nhận. Một nửa thế kỷ trước, Hannah Arendt đã viết rằng “trên thực tế, quá trình Mỹ hóa mà người Châu Âu lo sợ là sự xuất hiện của một thế giới hiện đại với tất cả những sự phức tạp và hệ quả của nó.” Bà đã phán đoán rằng quá trình hiện đại hóa mang tính chất dường như của Mỹ đó sẽ được tăng tốc chứ không phải bị kìm hãm bởi chính sự nhất thể hóa của Châu Âu.[30] Ở Nigeria, nơi các chương trình truyền hình Mỹ chiến phân nửa thời lượng phát sóng truyền hình vào năm 1997, “sự hiện diện quá nhiều dưới dạng trực tiếp và gián tiếp ở hầu hết mọi lĩnh vực chủ chốt của đời sống người dân Nigeria giúp đảm bảo quá trình Mỹ hóa vẫn được tiếp tục, không chỉ trong lĩnh vực truyền hình mà còn trong cách khía cạnh khác của nền văn hóa Nigeria.”[31] Câu chuyện ở Nhật lại hoàn toàn khác. “Vẻ bề ngoài thì người Nhật có vẻ là những người tiếp thu văn hóa nhiệt tình và không phân biệt. Thế nhưng những yếu tố ngoại lai của văn hóa nhập khẩu, đặc biệt là văn hóa Mỹ, đều được sàng lọc bởi bàn tay cẩn thận của các nhà môi giới văn hóa…. Văn hóa Mỹ được “gỡ” ra và “tháo lắp lại” để phù hợp với bối cảnh văn hóa trong đời sống thường nhật của người dân. Văn hóa đại chúng Mỹ không phải là độc quyền của người Mỹ: đó là phương tiện trung gian mà qua đó người dân khắp thế giới thường xuyên sử dụng để cấu trúc lại bản sắc cá nhân và tập thể của mình.”[32] Nhiều cơ chế thúc đẩy toàn cầu hóa đều là các đặc tính của nền kinh tế và văn hóa Mỹ. Phần lớn cuộc cách mạng thông tin bắt nguồn từ nền kinh tế Mỹ, và một lượng lớn nội dung của các mạng lưới thông tin toàn cầu được tạo ra tại Mỹ. Các tiêu chuẩn Mỹ cũng ít khi tìm được tiêu chuẩn thay thế, như trong hệ điều hành Windows của Microsoft hay trong các quy định áp dụng cho mạng internet (mặc dù internet được phát minh tại Châu Âu). Mặt khác, một số các tiêu chuẩn và thông lệ của Mỹ – từ hệ thống đo lường bằng pounds và foot (chứ không phải là hệ mét) cho tới các hình phạt tử hình – đều gây nên sự bối rối và thậm chí là sự ghét bỏ thẳng thừng. Toàn cầu hóa có tính chất rộng lớn hơn so với quá trình Mỹ hóa, nhưng đối với những người tham gia các phong trào chống toàn cầu hóa muốn chống lại hoặc định hình lại quá trình toàn cầu hóa thì chủ nghĩa bài Mỹ thường là một vũ khí hữu ích, chính vì vậy việc chủ nghĩa bài Mỹ đi kèm với toàn cầu hóa dường như, ở một mức độ nào đó, là một điều khó tránh khỏi.

Gây quan ngại đặc biệt chính là vai trò của chủ nghĩa bài Mỹ trong thế giới Hồi giáo. So sánh hình 2.3 với hình 2.1 chúng ta sẽ thấy các khía cạnh thể hiện sự hấp dẫn của Mỹ ở các nước Hồi giáo không giống các nơi khác. Một báo cáo do một ủy ban lưỡng đảng đưa ra vào tháng 10/2003 đã nhận định “sự thù địch đối với nước Mỹ đã đạt tới mức gây sốc. Điều cần làm không chỉ là sự điều chỉnh về mặt sách lược mà còn phải là những thay đổi chiến lược mạnh mẽ.”[33]

Hơn nữa, hình ảnh của nước Mỹ trong con mắt người Hồi giáo đã xấu đi nhanh hơn rất nhiều so với các nơi khác. Năm 2003, dưới 15% công chúng ở Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Pakistan, Jordan, và dưới 27% công chúng ở Libăng và Marốc có thiện cảm với nước Mỹ.[34]

Đây là một điều đặc biệt gây quan ngại vì một số phần tử Hồi giáo cực đoan sẵn sàng sử dụng khủng bố để buộc người dân Hồi giáo quay lại thứ tôn giáo tiền hiện đại mà theo quan điểm của họ là thuần khiết hơn. Ở một số khu vực, như các nước Ảrập chẳng hạn, chủ nghĩa bài Mỹ có thể là vỏ bọc cho sự bất lực chung của các nước này trong việc thích ứng với sự hiện đại, vốn có thể dễ dàng nhận ra qua sự phát triển kinh tế và quá trình dân chủ hóa chậm chạp ở đây như “Báo cáo Phát triển Con người các nước Ảrập năm 2003” mà Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc đã đưa ra gần đây.[35] Fouad Ajami, một học giả Mỹ gốc Libăng, đã đúng khi nói rằng nước Mỹ bị căm ghét bởi gánh nặng của nước Mỹ là “mang sự hiện đại tới cho những người mong muốn được hiện đại nhưng đồng thời lại phản đối chính điều đó, nước Mỹ là hiện thân cho những gì mà thế giới vừa thèm khát vừa sợ hãi.” Tuy nhiên Ajami đã sai khi kết luận rằng “Người Mỹ không cần phải lo lắng về việc giành được thiện cảm của người dân ở nước ngoài.”[36] Tình huống mà Ajami miêu tả đã thường xuyên diễn ra nhiều năm nay nên nó không thể lý giải tại sao danh tiếng của Mỹ lại xấu đi ở ngay cả những quốc gia Hồi giáo thành công về mặt kinh tế như Malaysia. Việc các nước Ảrập không thích nghi được với sự hiện đại cũng không thể lý giải được một cách đầy đủ cho việc nước Mỹ trở nên kém hấp dẫn hơn. Hơn nữa điều này cũng liên quan tới những chính sách gây bất bình của Mỹ đối với các cuộc xung đột ở Iraq và Israel.

Tác động của cuộc Chiến tranh Iraq không nên bị thổi phồng. “Các dự báo tiêu cực đã không thành hiện thực, người dân Ảrập không nổi dậy để phá hủy các lợi ích của Mỹ ở Trung Đông… bởi nhiều người trong số đó cũng đã biết tới bảng thành tích không mấy tốt đẹp của Saddam Hussein.”[37] Như đã đề cập ở phần trước, hình ảnh của một quốc gia bao gồm một số yếu tố, và những người tham gia các cuộc thăm dò dư luận cho thấy họ ghét các chính sách của Mỹ chứ không phải người dân Mỹ.[38] Tuy nhiên cũng đã diễn ra các phong trào tẩy chay hàng hóa Mỹ và tỉ lệ hàng hóa Mỹ trong tổng hàng hóa nhập khẩu của Trung Đông cũng đã giảm từ mức 18% vào cuối thập kỷ 1990 xuống còn 13% vào năm 2001 một phần bởi phản ứng trước “các chính sách đối ngoại được cho là thiếu tính hợp pháp của nước Mỹ.”[39] Những phần tử Hồi giáo cực đoan cũng đã từng chống đối chiến dịch của Mỹ chống lại chính quyền Taliban ở Afghanistan, nên Iraq chỉ làm gia tăng cơ hội cho sự căm ghét nước Mỹ nảy nở thêm. Nhưng sự căm ghét như vậy càng ngày càng có vai trò quan trọng trong một thế giới nơi các nhóm nhỏ có thể sử dụng internet để tìm kiếm, tuyển mộ và huy động những người có cùng suy nghĩ vốn trước đây gặp khó khăn trong việc liên lạc với nhau. Như nhà văn Robert Wright đã nhìn nhận, các băng hình video tuyển mộ chiến binh của Osama bin Laden rất hữu hiệu, “và chúng càng vươn tới được các đối tượng mong muốn một cách hiệu quả hơn nữa thông qua con đường internet.”[40]

Sự suy giảm hình ảnh hấp dẫn gần đây của Mỹ đã minh họa cho một điểm mà tôi đã nêu lên trong chương trước: Có các nguồn tài nguyên quyền lực hữu hình thôi chưa đủ. Đối với sức mạnh mềm, câu hỏi đặt ra là thông điệp nào được gửi đi và được ai tiếp nhận trong những hoàn cảnh nào, và thông điệp đó ảnh hưởng như thế nào tới khả năng đạt được những kết quả mà ta mong muốn. Các thông điệp và hình ảnh được truyền tải một phần thông qua các chính sách của chính phủ ở trong nước cũng như ngoài nước, đồng thời một phần khác thông qua văn hóa đại chúng và văn hóa chính thống. Nhưng những thông điệp giống nhau được những đối tượng tiếp nhận khác nhau “download” và diễn dịch và gây ra những tác động khác nhau trong những bối cảnh cũng không giống nhau. Sức mạnh mềm không chỉ là một hằng số không đổi mà là một biến số thay đổi theo thời gian và không gian.

VĂN HÓA VỚI VAI TRÒ MỘT NGUỒN SỨC MẠNH MỀM

Như chúng ta đã biết, các nhà phê bình về văn hóa thường phân biệt giữa văn hóa chính thống và văn hóa đại chúng. Nhiều nhà quan sát đồng ý cho rằng văn hóa chính thống đã mang lại đáng kể sức mạnh mềm cho nước Mỹ. Ví dụ như Ngoại trưởng Colin Powell đã từng nói “Tôi nghĩ tài sản quý giá nhất đối với đất nước chúng ta chính là tình hữu nghị của các nhà lãnh đạo thế giới tương lai, những người được giáo dục ngay tại nước Mỹ.”[41] Sinh viên quốc tế thường quay về nước với sự ngưỡng mộ trước các giá trị và thể chế của người Mỹ, đồng thời, như một báo cáo do một tổ chức giáo dục quốc tế biên soạn nhận định, “hàng triệu người học tập ở Mỹ trong nhiều năm qua đã tạo nên một nguồn tình cảm thiện chí đáng kể cho nước Mỹ.”[42] Nhiều người trong số các cựu sinh viên sau này đứng ở những vị trí có thể tác động tới các kết quả chính sách có ý nghĩa quan trọng đối với người Mỹ.

Nhà ngoại giao và nhà văn nổi tiếng George Kennan của Mỹ là một người theo chủ nghĩa hiện thực truyền thống trong cách nhìn về vấn đề cân bằng quyền lực nhưng ông đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của “các giao tiếp văn hóa như là một phương tiện để chống lại các ấn tượng tiêu cực về nước Mỹ, những ấn tượng vốn ảnh hưởng rất nhiều tới công luận thế giới.” Kennan nói rằng ông sẽ “sẵn lòng đánh đổi toàn bộ những biện pháp tuyên truyền chính trị còn lại để có được những kết quả mà chỉ cần mỗi phương tiện văn hóa kia cũng có thể đạt được.” Và Tổng thống Dwight Eisenhower cũng lập luận rằng cần phải tìm ra không chỉ một phương pháp mà là hàng ngàn phương pháp nhằm giúp con người từng bước hiểu biết về nhau nhiều hơn.” Thực tế, các cuộc tiếp xúc văn hóa chính thức thường mang lại thêm sức mạnh mềm cho nước Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Hàng chục các cơ quan phi chính phủ như các nhà hát, viện bảo tàng và các đoàn hợp xướng opera đã biểu diễn ở Liên Xô. Một nhạc sĩ Liên Xô từng nhận xét rằng người Liên Xô từ lâu đã được giáo dục để tin vào sự thối nát của phương Tây, nhưng năm này qua năm khác những dàn nhạc giao hưởng xuất sắc đến từ Boston, Philadelphia, New York, Cleveland và San Francisco đã sang Liên Xô biểu diễn. “Làm sao mà phương Tây thối nát lại có thể sản sinh ra những dàn nhạc tuyệt vời như vậy?”[43]

Các trao đổi về mặt học thuật và khoa học cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức mạnh mềm của Mỹ. Ngay cả khi những người Mỹ hoài nghi thời bấy giờ lo sợ rằng những nhà khoa học Liên Xô sang viếng thăm và các điệp viên KGB sẽ “ăn cắp mà chúng ta không hay biết”, họ đã không nhận ra rằng các vị khách viếng thăm này tiếp thu không chỉ các bí mật khoa học mà còn cả các lý tưởng chính trị. Nhiều nhà khoa học như vậy đã trở thành những nhà đối lập hàng đầu ủng hộ nhân quyền và tự do hóa trong lòng Liên Xô. Từ những năm 1950, quỹ Ford Foundation, Hội đồng Xã hội học thuật và Hội đồng Nghiên cứu Khoa học xã hội đã phối hợp với 110 trường đại học Mỹ tiến hành trao đổi sinh viên và cán bộ giảng dạy. Mặc dù Liên Xô đòi phải có một hiệp định cấp chính phủ nhằm giới hạn phạm vi các trao đổi như vậy nhưng đã có khoảng 50.000 người Liên Xô, gồm các nhà văn, nhà báo, quan chức, nhạc sĩ, vũ công, vận động viên thể thao và các học giả, sang thăm Mỹ từ năm 1958 đến 1988. Số lượng người Mỹ sang thăm Liên Xô thậm chí còn nhiều hơn con số trên.

Vào những năm 1950, chỉ có khoảng 40 đến 50 sinh viên bậc đại học và sau đại học từ mỗi nước tham gia các chuyến trao đổi, nhưng dần dần những con số nhỏ nhoi đó vẫn tạo ra những kết quả chính sách mạnh mẽ. Do các trao đổi văn hóa thường liên quan đến những cá nhân xuất sắc nhất, một hoặc hai mối liên hệ chủ chốt cũng đã có thể mang lại những tác động chính trị quan trọng. Ví dụ như Aleksandr Yakovlev bị ảnh hưởng mạnh bởi quá trình học tập của mình cùng với nhà khoa học chính trị David Truman tại Đại học Columbia năm 1958. Yakovlev cuối cùng đã trở thành người đứng đầu của một học viện quan trọng, một ủy viên Bộ chính trị và có những tác động quan trọng theo hướng tự do hóa đối với nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev. Một nghiên cứu sinh khác là Oleg Kalugin đã trở thành một quan chức cấp cao của KGB khi nhìn lại vào năm 1997 đã nói rằng “Các chương trình trao đổi là một con ngựa Trojan đối với Liên Xô. Qua thời gian chúng thường xuyên tác động tới càng ngày càng nhiều người.”[44] Sự hấp dẫn và sức mạnh mềm xuất phát từ các giao tiếp văn hóa giữa những cá nhân xuất sắc đã có những đóng góp quan trọng cho các mục tiêu chính sách của Mỹ.

Chứng minh các tác động chính trị cụ thể của các mối giao lưu văn hóa chính thức luôn dễ hơn việc chứng minh tầm quan trọng về chính trị của văn hóa đại chúng. Alexis de Toqueville vào thế kỷ 19 đã chỉ ra rằng trong một nền dân chủ không tồn tại các hạn chế về giai cấp hay khuôn mẫu dành cho các nghệ sĩ và các tác phẩm của họ. Thị hiếu đại chúng luôn áp đảo. Hơn nữa, các nhà sản xuất thương mại trong một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa luôn tìm kiếm các thị trường rộng lớn và dẫn tới các mẫu số chung bé nhất về văn hóa. Một số người tin rằng văn hóa đại chúng của Mỹ thu hút nhờ có công nghệ marketing và hứa hẹn tính giải trí cao.[45] Nhiều nhà trí thức và các nhà phê bình xem thường văn hóa đại chúng vì tính thương mại tầm thường. Họ coi văn hóa đại chúng là cách mang lại sự giải trí cho số đông chứ không phải là thông tin, chính vì vậy có ít hiệu quả về mặt chính trị. Họ coi văn hóa đại chúng là một thứ thuốc phiện gây mê không có tính chất chính trị dành cho số đông quần chúng.

Tuy nhiên sự coi thường này đã được đặt nhầm chỗ vì văn hóa đại chúng thường chứa đựng các hình ảnh và thông điệp ngầm về chủ nghĩa cá nhân, lựa chọn của người tiêu dùng và các giá trị khác vốn có thể mang lại các tác động chính trị quan trọng. Như nhà văn Ben Wattenberg đã lập luận, văn hóa Mỹ chứa đựng sự hào nhoáng, tình dục, bạo lực, những nội dung tầm thường và chủ nghĩa vật chất, nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện. Văn hóa đại chúng còn khắc họa các giá trị Mỹ như sự cởi mở, linh động, tôn trọng cá nhân, chống lại sự cứng nhắc, đa nguyên, tự nguyện, tôn trọng những cá nhân bình thường và sự tự do. “Cho dù được phản ánh một cách tích cực hay tiêu cực, chính nội dung này cuốn hút khán giả tới rạp. Nội dung đó còn mạnh hơn cả các biện pháp chính trị hay kinh tế. Chúng góp phần đẩy mạnh chính trị và kinh tế.”[46] Hay như nhà thơ Carl Sandburg đã nói vào năm 1961 rằng “Cái gì? Hollywood quan trọng hơn Havard ư? Câu trả lời là, dù không sạch sẽ như Havard nhưng Hollywood lại lan tỏa đến được số đông nhiều hơn.”[47]

Ngay cả các môn thể thao đại chúng cũng có thể giúp truyền tải các giá trị. “Một nước Mỹ được tạo ra mà không phải là một kẻ bá quyền về quân sự, cũng không phải là một người đứng đầu về kinh tế, chỉ là một nơi thật thoải mái, ít cứng nhắc và tự do, nơi bất cứ ai đổ mồ hôi ném bóng hay khống chế cây gậy chơi hockey đều có thể trở nên nổi tiếng và (vâng) giàu có nữa.”[48] Và số người này không nhỏ. Các trận đấu trong giải bóng rổ quốc gia được truyền hình tới 750 triệu hộ gia đình ở 212 quốc gia bằng 42 thứ tiếng. Các trận đấu của các giải bóng bầu dục chính được phát sóng bằng 11 thứ ngôn ngữ ở 224 quốc gia. Giải Super Bowl của Liên đoàn bóng đá quốc gia thu hút tới khoảng 800 triệu người xem vào năm 2003. Số lượng khán giả xem thể thao là đối thủ đáng gờm của 7,3 tỉ lượt người xem các bộ phim Mỹ trên toàn thế giới vào năm 2002.

Đường ranh phân biệt giữa thông tin và giải trí chưa bao giờ thực sự rõ ràng như các nhà trí thức tưởng tượng, và nó đang ngày càng bị mờ đi trong một thế giới truyền thông đại chúng. Một số ca từ của các bài hát có thể mang hiệu quả chính trị. Ví dụ, trong những năm 1990, đài phát thanh đối lập B-92 ở Belgrade đã phát đi phát lại bài hát của ban nhạc rap Mỹ Public Enemy có đoạn: “Quyền tự do ngôn luận của chúng ta, tự do hay là chết – chúng ta phải chiến đấu chống lại các thế lực cản ngăn.”[49] Các thông điệp chính trị cũng có thể được truyền tải thông qua ứng xử của các đội tuyển thể thao hoặc các ngôi sao, hay qua vô số những hình ảnh được chuyển tải qua sóng truyền hình và các bộ phim. Hình ảnh thường truyền tải các giá trị một cách mạnh mẽ hơn so với lời nói, và Hollywood chính là cỗ máy thúc đẩy và xuất khẩu các biểu tượng hình ảnh vĩ đại nhất của thế giới.[50] Ngay cả việc dùng đồ ăn nhanh cũng có thể chuyển tải một thông điệp ngầm về việc chối bỏ các phương thức truyền thống. Một gia đình người Ấn Độ miêu tả lần đi ăn của họ ở nhà hàng McDonald’s là một chuyến đi ra ngoài thưởng thức “một miếng hương vị Mỹ.”[51] Còn về mặt tiêu cực, sau khi chấm dứt cuộc chiến tranh Iraq, một số người Hồi giáo đã tẩy chay Coca Cola và quay lại dùng các thức uống như Mecca Cola hay Muslim Up như “một lựa chọn thay thế dành cho những ai tẩy chay các sản phẩm của những kẻ phục quốc Do Thái và các thương hiệu lớn của Mỹ.”[52]

Tác động của văn hóa đại chúng không phải hoàn toàn mới. Nhà sử học Hà Lan Rob Kroes đã chỉ ra rằng các poster quảng cáo cho các tuyến vận tải biển và các xã hội nhập cư vào thế kỷ 19 ở Châu Âu đã tạo nên hình ảnh về miền Tây nước Mỹ như là một biểu tượng tự do trước khi cuộc cách mạng tiêu dùng thế kỷ 20 bắt đầu. Những người Châu Âu trẻ tuổi “lớn lên và xây dựng những thế giới ý nghĩa của mình dựa trên các thành phần và biểu tượng từ Mỹ.” Các quảng cáo thương mại Mỹ năm 1944 đề cập đến và phát triển ý tưởng về bốn quyền tự do của Franklin Roosevelt, qua đó củng cố các bài học giáo dục công dân chính thức. “Từ thế hệ thanh niên này tới thế hệ thanh niên khác lớn lên trong các bối cảnh khác nhau của Châu Âu, ở phía Đông lẫn phía Tây bức mành sắt, đã thưởng thức qua trí tưởng tượng những niềm vui mang lại bởi các lựa chọn văn hóa khác…. Những thứ đơn giản như chiếc quần jean xanh, Coca Cola, hay một nhãn hiệu thuốc lá đều có được một giá trị bổ sung giúp những thế hệ trẻ này thể hiện bản sắc của riêng mình.”[53]

Sự cuốn hút của văn hóa đại chúng này đã giúp nước Mỹ đạt được các mục tiêu đối ngoại quan trọng. Một ví dụ là việc tái thiết dân chủ ở Châu Âu thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Kế hoạch Marshall và NATO là những công cụ cốt yếu về sức mạnh kinh tế và quân sự giúp đạt được các mục tiêu này. Nhưng văn hóa đại chúng cũng góp phần quan trọng không kém. Ví dụ, nhà sử học người Áo Reinhold Wagnleitner cho rằng “sự thích ứng nhanh với văn hóa đại chúng Mỹ của nhiều người Châu Âu thời kỳ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai rõ ràng đóng góp tích cực cho quá trình dân chủ hóa của các xã hội này. Nó giúp làm trẻ lại và hồi sinh các nền văn hóa hậu chiến của Châu Âu với những thông điệp căn bản về tự do, sự bình dị, sức sống, tính hiện đại và trẻ trung… Việc chấp nhận tuân theo chỉ dẫn của thị trường và thế giới kinh doanh cũng chứa đựng những yếu tố thể hiện sự giải phóng khỏi các ràng buộc của các lế thói, tập tục cổ truyền.”[54] Những đồng đô la được đầu tư thông qua Kế hoạch Marshall đóng vai trò quan trọng giúp Mỹ đạt được các mục tiêu về tái thiết Châu Âu, nhưng trong thành công này các lý tưởng được truyền tải bởi văn hóa đại chúng Mỹ cũng đóng vai trò quan trọng không kém.

Sự hấp dẫn của văn hóa đại chúng cũng góp phần vào một mục tiêu lớn khác của chính sách đối ngoại Mỹ – đó là chiến thắng cuộc Chiến tranh lạnh. Liên Xô sở hữu sức mạnh quân sự ấn tượng đe dọa Tây Âu, và trong giai đoạn đầu thời kỳ hậu chiến Liên Xô cũng sở hữu những nguồn tài nguyên sức mạnh mềm quan trọng nhờ vào sức hấp dẫn của hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa và lịch sử cuộc đấu tranh chống lại phát xít Đức. Tuy nhiên Liên Xô đã lãng phí phần lớn nguồn sức mạnh mềm này qua các chính sách đàn áp ở trong nước và ở Đông Âu,[55] cũng như thành tích kinh tế kém cỏi giai đoạn sau này (cho dù sức mạnh quân sự tăng lên). Các chương trình văn hóa và tuyên truyền do nhà nước điều khiển không thể cạnh tranh nổi với ảnh hưởng của văn hóa đại chúng mang tính thương mại của Mỹ về tính linh hoạt cũng như sự hấp dẫn. Rất lâu trước khi sụp đổ vào năm 1989, bức tường Berlin đã bị xuyên thủng bởi các chương trình truyền hình và điện ảnh. Búa và máy ủi sẽ không thể thành công nếu không có sự trợ giúp của các hình ảnh văn hóa đại chúng của phương Tây được truyền tải hàng năm trời giúp xuyên thủng bức tường trước khi nó sụp đổ.

Cho dù Liên Xô hạn chế và kiểm duyệt các bộ phim phương Tây, những bộ phim đã được sàng lọc vẫn có thể mang lại những tác động chính trị mạnh mẽ. Đôi khi các tác động chính trị này là trực tiếp, mặc dù ngoài mong đợi. Một nhà báo Liên Xô đã bình luận sau suất chiếu đã được kiểm duyệt của bộ phim “On the Beach” và “Dr. Strangelove” (cả hai bộ phim đều phê phán chính sách vũ khí hạt nhân của Mỹ) rằng “Những bộ phim này đã làm chúng tôi sốc… Chúng tôi bắt đầu hiểu rằng điều tương tự sẽ diễn ra đối với chúng tôi giống như đối với họ trong một cuộc chiến tranh hạt nhân.” Những tác động bất ngờ khác được truyền tải một cách gián tiếp. Khán giả Liên Xô xem các bộ phim mang chủ đề chính trị thường nhận ra rằng người phương Tây không phải xếp hàng dài để mua thực phẩm, không phải sống trong các khu căn hộ chung, và được sở hữu những chiếc xe hơi riêng. Tất cả những điều này đều vô hiệu hóa cách nhìn tiêu cực được tuyên truyền bởi báo chí Liên Xô.

Ngay cả nhạc rock and roll cũng đóng vai trò quan trọng bất chấp nỗ lực ngăn ngừa của Liên Xô. Như một phụ tá của Gorbachev sau này đã nói “Ban nhạc Beatles là cách phủ nhận “hệ thống” một cách thầm lặng cho dù vẫn tuân theo phần lớn các đòi hỏi của nó.” Georgi Shaknazarov, một quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản đã tổng kết các tác động chính trị một cách rất hay rằng “Gorbachev, tôi, tất cả chúng tôi đều là những người suy nghĩ nước đôi. Chúng tôi thường xuyên phải cân bằng sự thật và tuyên truyền trong tâm trí mình.” Tác động mài mòn đối với sự tự tin và ý thức hệ của người Liên Xô trở nên rõ ràng qua hành động của họ khi thế hệ đó cuối cùng đã lên nắm quyền vào giữa những năm 1980.[56]

Tương tự, các quan chức Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã tống giam một nhóm thanh niên vào những năm 1950 vì đã chơi một “băng nhạc Mỹ phản động” nhưng nỗ lực này hóa ra đã phản tác dụng. Milos Forman kể lại rằng vào những năm 1960 “khi bạn đang nghe nhạc của Bill Haley và Elvis Presley và cảm thấy thật yêu thích thì bỗng nhiên một gương mặt lạnh lùng trên truyền hình Tiệp Khắc nói với bạn rằng ‘Những con vượn này vừa trốn thoát khỏi rừng xanh – Liệu chúng đại diện cho lòng tự hào của nhân loại được không?’… Cuối cùng bạn đánh mất toàn bộ sự tôn trọng.” Vào năm 1980, sau khi John Lennon bị ám sát, một tượng đài của anh đã xuất hiện một cách tự phát ở Praha, và lễ kỉ niệm ngày mất người ca sĩ đã được đánh dấu bằng một lễ tuần hành thường niên vì hòa bình và dân chủ. Năm 1988, những người tổ chức đã thành lập Câu lạc bộ Hòa bình Lennon và các thành viên của câu lạc bộ này đã đòi rút quân đội Liên Xô khỏi lãnh thổ Tiệp Khắc.[57] Dần dần theo thời gian, Lennon đã vượt qua Lenin.

Một nhà sử học đã tóm tắt tình hình rằng “Cho dù sức mạnh quân sự và các hứa hẹn chính trị của Mỹ có quan trọng đến đâu trong việc thiết lập nền tảng cho thành công của Mỹ ở Châu Âu thời kỳ Chiến tranh lạnh thì chính sự hấp dẫn về văn hóa và kinh tế của nước này mới thực sự giúp giành được sự ủng hộ của đa số thanh niên dành cho mô hình dân chủ phương Tây. Bất cứ khi nào sự tiêu dùng thực sự xuất hiện thì nhiều khả năng chủ nghĩa xã hội sẽ mất giá trị ảnh hưởng.”[58] Mỹ đã thắng cuộc Chiến tranh lạnh bằng một thứ vũ khí kết hợp cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Sức mạnh cứng tạo nên sự thành công của chiến lược ngăn chặn quân sự, còn sức mạnh mềm giúp làm xói mòn hệ thống Xô Viết từ bên trong. Không phải mọi tài nguyên sức mạnh mềm đều thuộc về Mỹ – minh chứng chính là vai trò của BBC và ban nhạc Beatles. Nhưng sẽ thật là sai lầm nếu bỏ qua vai trò của sức hấp dẫn đến từ văn hóa đại chúng Mỹ đóng góp cho vế sức mạnh mềm trong phương trình kể trên.

Văn hóa đại chúng không chỉ đóng góp cho việc đạt được các mục tiêu chính sách Mỹ ở Tây Âu mà còn là một yếu tố quan trọng đối với một số các mục tiêu chính sách khác, bao gồm việc xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc apacthai ở Nam Phi, gia tăng số lượng các nền dân chủ ở Nam Mỹ và một phần Đông Á, việc lật đổ chế độ Milosevic ở Serbia, áp lực đối với quá trình tự do hóa ở Iran và việc củng cố một hệ thống kinh tế quốc tế mở, vv… Thực tế, khi Nam Phi tranh luận về việc có cho phép phát sóng truyền hình ở nước này không vào năm 1971, một cựu bộ trưởng Bộ Bưu chính và Điện tín thuộc phái bảo thủ đã phản đối vì cho rằng truyền hình là biểu tượng của sự đồi bại của phương Tây và nó “sẽ dẫn tới sự tha hóa nền văn minh Nam Phi và phá hủy chế độ apacthai.”[59] Cuối cùng những gì ông này tiên đoán đã thành sự thật.

Tương tự, vào năm 1994, giáo sĩ cấp cao nhất của Iran đã ban hành một lệnh cấm các đĩa thu sóng truyền hình vệ tinh vì chúng chỉ mang lại một nền văn hóa ngoại nhập rẻ tiền và sự lây lan những căn bệnh đạo đức của phương Tây.[60] Và điều này cũng đã chính xác. Một thập kỷ sau, các cuộc biểu tình của công chúng ở Teheran đã nổ ra sau khi các kênh truyền hình Mỹ của tư nhân trở nên phổ biến. Các đài truyền hình này được cấp phép phát sóng bằng tiếng Farsi cho cộng đồng kiều dân Iran ở Los Angeles, nhưng cuối cùng các kênh này lại đưa tin về tình hình chính trị Iran suốt ngày đêm, đồng thời đưa các tin tức bị cấm vào Iran.[61] Đó không chỉ là một nhóm phản động nhỏ bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của phương Tây. Như một vị giáo sư nọ đã nhận xét “Chưa đầy một thập kỷ sau cái chết của Giáo chủ Ayatollah Khomeini, những điều này đã minh chứng rằng những nhà cách mạng – những cựu thành viên tham gia chiến tranh và cách mạng thời còn trẻ – đã đòi hỏi được hưởng nhiều tự do và quyền về chính trị hơn.” [62]

Ở Trung Quốc, bất chấp sự kiểm duyệt gắt gao, các tin tức từ Mỹ vẫn thâm nhập qua biên giới đến với giới tinh hoa Trung Quốc thông qua mạng internet cũng như các phương tiện truyền thông khác và các giao lưu về giáo dục. Vào năm 1989, các sinh viên biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn đã dựng một bức tượng mô phỏng tượng Nữ thần Tự do. Một người bất đồng chính kiến đã nói với một phóng viên nước ngoài rằng khi bị buộc nghe các nhà lãnh đạo Đảng ở địa phương chỉ trích nước Mỹ cô luôn luôn ngâm nga những giai điệu của Bob Dylan trong đầu như cách tiến hành một cuộc cách mạng thầm lặng của riêng cô. Một nhà báo khác thì ghi nhận rằng “nhiều người tin dòng chảy của các bộ phim Hollywood gần đây vào các rạp chiếu phim Trung Quốc cùng với các phiên bản đĩa DVD bất hợp pháp của chúng đã góp phần thúc đẩy những người dân Trung Quốc bình thường mong muốn thay đổi tăng tốc nhanh hơn nữa.”[63]

Như chúng ta đã thấy trong Chương 1, văn hóa đại chúng do không chịu sự quản lý trực tiếp của chính phủ nên không luôn luôn tạo ra các kết quả chính trị chính xác như các chính phủ mong muốn. Ví dụ như trong Chiến tranh Việt Nam, chính phủ Mỹ đã có nhiều mục tiêu chính sách khác nhau, bao gồm chiến thắng về mặt quân sự đối với chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và chiến thắng về mặt chính trị đối với chủ nghĩa cộng sản ở Trung Âu. Văn hóa đại chúng không góp phần mang lại những kết mong muốn đối với mục tiêu thứ nhất, nhưng đã giúp đạt được mục tiêu thứ hai. Ví dụ, Reinhold Wagnleitner đã miêu tả các cuộc biểu tình của sinh viên ở Áo chống Chiến tranh Việt Nam như sau: “Chúng tôi với quần jeans màu xanh và áo thun tham gia các cuộc biểu tình ngồi và các bài phát biểu dài của các diễn giả. Thế nhưng rất ít người trong số chúng tôi có thể hiểu được ý nghĩa của việc có thể tham gia biểu tình chống lại một cuộc chiến tranh trong lúc nó đang diễn ra mà không bị tòa án binh xét xử. Một số người cũng nhận ra rằng chúng tôi đã học được cách biểu tình và chống đối dân chủ một cách hòa bình từ phong trào đòi quyền công dân ở Mỹ và phong trào chống trang bị vũ khí hạt nhân. Rốt cuộc chúng tôi không ca vang bài ‘Quốc tế ca’ mà chúng tôi chỉ hát bài ‘We Shall Overcome.’”[64] Các phong trào biểu tình là một phần của văn hóa đại chúng có thể thu hút một số người nước ngoài nhờ sự cởi mở của nước Mỹ trong khi các chính sách chính thức cố gắng đẩy lùi chúng.

Văn hóa đại chúng cũng có thể có những tác động trái ngược nhau đối với các nhóm khác nhau trong cùng một quốc gia. Nó không mang lại một nguồn sức mạnh mềm thống nhất. Những đoạn video thu hút giới trẻ Iran lại làm các giáo sĩ nước này nổi giận. Vì vậy việc bài trừ văn hóa đại chúng Mỹ sẽ khiến Mỹ khó khăn hơn trong việc đạt được các kết quả chính sách mong muốn từ nhóm lãnh đạo trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn sự hấp dẫn của văn hóa đại chúng lại khuyến khích giới trẻ khao khát thay đổi. Đôi khi các tác động có thể làm suy yếu các mục tiêu dài hạn của Mỹ. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, theo một nhà báo Thổ Nhĩ Kỳ thì “sự phổ biến của văn hóa đại chúng Mỹ chủ yếu ở tầng lớp thượng trung lưu và một phần ở tầng lớp hạ lưu đã tạo ra sự chống đối đối với các tư tưởng mà văn hóa đại chúng Mỹ truyền tải. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan những năm gần đây vốn đe dọa nghiêm trọng các chính quyền thế tục là nguyên nhân gây nên sự chia rẽ giữa tầng lớp thượng lưu bị Mỹ hóa, tầng lớp hạ trung lưu và người nghèo.”[65] Nhưng ngay trong thời kỳ căng thẳng sau sự kiện 11/9, bất chấp lệnh hạn chế thị thực, một cuộc khảo sát do Hội đồng Anh tiến hành đối với 5.000 sinh viên ở 9 quốc gia Hồi giáo cho thấy Mỹ vẫn là lựa chọn số một đối với thanh niên ở Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ảrập Xêut nhằm theo đuổi việc du học nước ngoài.[66] Sự không nhất quán là một phản ứng phổ biến đối với nước Mỹ, và nơi nào tồn tại sự không nhất quán thì ở đó vẫn còn chỗ cho các chính sách nhằm cải thiện tỉ lệ giữa các phản ứng tích cực so với các phản ứng tiêu cực.

Cuối cùng, các công cụ của văn hóa đại chúng không cố định. Khó có thể biết chắc ảnh hưởng của văn hóa Mỹ sẽ tăng hay giảm trong tương lai. Một phần kết quả sẽ phụ thuộc vào việc các chính sách xa lạ của Mỹ có gây hiệu ứng tức nước vỡ bờ dẫn tới việc các phản ứng chung đối với văn hóa Mỹ trở nên tiêu cực hơn hay không. Hơn nữa điều này còn phụ thuộc vào các thay đổi thị trường độc lập mà hầu như không liên quan gì tới chính trị. Ví dụ, các bộ phim Mỹ tiếp tục chiếm tới 80% doanh thu thị trường ngành công nghiệp điện ảnh toàn cầu, nhưng các chương trình truyền hình Mỹ gần đây đã bị giảm thị phần. Truyền hình có thể vươn tới nhiều thị trường đơn lẻ hơn và các nội dung bản địa tỏ ra quan trọng hơn trong việc tiếp cận khản giả địa phương hơn là các chương trình liên quan tới văn hóa Mỹ được cung cấp bởi các sản phẩm văn hóa điển hình của nước này.[67] Viện Nghiên cứu Truyền thông Nielson đã phát hiện ra rằng 71% trong số 10 chương trình được yêu thích nhất ở 60 quốc gia mà họ khảo sát được sản xuất ở các nước đó, cho thấy mức tăng ổn định so với các năm trước. Các nguyên nhân của hiện tượng này dường như liên quan tới các thay đổi trên thị trường cũng như tính hiệu quả của quy mô trong việc đáp ứng thị hiếu của khán hơn là các phản ứng mang tính chất chính trị.[68]

Hơn nữa, qua thời gian, việc tiếp thu văn hóa đại chúng Mỹ của khán giả nước ngoài dần dần khiến cho nó trở nên kém mới mẻ, và vì vậy kém hấp dẫn hơn đối với họ. Điều tương tự cũng xảy ra đối với sự tiếp nhận của người Châu Âu đối với các show diễn về miền Tây hoang dã của nước Mỹ thời thế kỷ 19, và kênh MTV của Mỹ cũng đã bị lép vế so với các kênh địa phương học theo phong cách tương tự. Một chuyên gia dự đoán rằng “quá trình toàn cầu hóa của văn hóa đại chúng Mỹ, như chúng ta đã được biết và đang tranh luận hiện nay, có thể sẽ chỉ là một hiện tượng nhất thời, một vấn đề mang tính quốc tế chỉ chừng nào nó còn có thể tạo ra các phản ứng ở các quốc gia sở tại giúp kiểm tra các khía cạnh văn hóa nào có thể thích nghi được một cách thành công với các điều kiện và mong muốn của người dân sở tại.”[69] Liệu việc mất đi tính hấp dẫn mới mẻ ngoại nhập có phải là một vấn đề nghiêm trọng đối với các tài nguyên sức mạnh mềm hay không là một điều khó có thể dự báo được.

Tuy nhiên đối với tin tức truyền hình thì rõ ràng đã có sự thay đổi mang tính chất chính trị. Trong thời gian diễn ra Chiến tranh vùng Vịnh, CNN và BBC đã áp đảo tin tức chiến trường và chính các đài này định hướng các vấn đề. Ví dụ như việc Iraq đưa quân vào Kuwait tháng 8/1991 được miêu tả là hành động xâm lược hơn là việc thu hồi lại tỉnh Kuwait bị mất như cách nhìn của người Iraq. (Ấn Độ cũng dùng lập luận tương tự khi xâm chiếm tỉnh Goa nhưng hầu như không có phản ứng quốc tế nào đáng kể.) Cho tới cuộc Chiến tranh Iraq, kênh Al Jazeera và các kênh truyền hình khác là những đối thủ cạnh tranh tích cực với CNN và BBC trong việc dẫn dắt vấn đề. Ví dụ, cùng một hình ảnh các lực lượng quân sự di chuyển có thể được CNN miêu tả là “các lực lượng linh minh tiến quân” hoặc được Al Jazeera gọi là “các lực lượng xâm lược tiến quân.” Hiệu ứng cuối cùng là sự suy giảm sức mạnh mềm của Mỹ ở khu vực này vào năm 2003 so với năm 1991.

Hiện nay Pháp đã quyết định thành lập kênh truyền hình tin tức đa ngôn ngữ cho riêng mình. Pháp kết luận rằng “Al Jazeera là bằng chứng cho thấy thế độc quyền có thể bị phá vỡ và thực sự tồn tại nhu cầu được tiếp nhận các tin tức không phải qua nguồn Anh – Mỹ.”[70] Một số nhà phân tích tin rằng “sự áp đảo của Mỹ trong dòng chảy truyền thông toàn cầu hiện nay yếu hơn so với trong quá khứ. Mặt khác, mối quan ngại mới hiện nay không phải là những lời phàn nàn từ lâu về ảnh hưởng quá mức của văn hóa Mỹ khắp thế giới mà là tốc độ nhanh đáng kinh ngạc mà Mỹ đang bán tháo các ngành công nghiệp văn hóa đại chúng của mình cho các ông chủ nước ngoài.”[71]

Cũng cần lưu ý rằng trong khi các công ty Mỹ vẫn chiếm ưu thế về các thương hiệu toàn cầu thì các thay đổi của thị trường đã tạo ra tình trạng phân mảnh ngày càng tăng của các thương hiệu. Một thập kỷ trước đây người ta cho rằng khi các rào cản thương mại được tháo bỏ, các thương hiệu quy mô toàn cầu sẽ xóa sổ các thương hiệu địa phương. Trên thực tế công nghệ đã hỗ trợ các quốc gia vốn quan ngại về tính tự chủ của mình đạt được tính hiệu quả của quy mô trong việc sản xuất các sản phẩm chuyên biệt hóa, điều này dẫn tới việc chuẩn mực hóa các thương hiệu gặp nhiều khó khăn. Coca Cola hiện sở hữu hơn 200 nhãn hiệu (thường không thể hiện sự liên hệ rõ ràng với công ty mẹ), McDonald’s phải điều chỉnh thực đơn của mình theo từng khu vực, và MTV phải xây dựng các chương trình khác nhau cho các nước khác nhau.[72] Ngay cả trước khi xảy ra các cuộc tẩy chay về mặt chính trị sau sự kiện chiến tranh Iraq, các xu hướng của thị trường đã khiến cho các thương hiệu Mỹ bị sụt giảm vị thế. Các tài nguyên văn hóa đại chúng giúp mang lại sức mạnh mềm cho Mỹ có thể quan trọng nhưng không cố định mà luôn vận động, biến đổi.


[1] Phillip Coggan, “Uncle Sam Stands Above the Rest”, Financial Times, FT Report – FT 500, trang 3.

[2] “The 100 Top Brands” Business Week, ngày 4/8/2003, trang 72-78, có tại địa chỉ: http://www.brandchannel.com/images/home/bgb_2003.pdf; “Fiancial Times Releases 5th Annual Internartional MBA Survey,” Business Wire (tạp chí mạng), 20/1/2003

[3] Số liệu tổng hợp từ cơ sở dữ liệu “Chỉ số Phát triển Thế giới” của Ngân hàng Thế giới.

[4] Neal M. Rosendorf, “Social and Cultural Globalization: Concepts, History, and America’s Role”, trong Joseph Nye và John Donahue (biên tập), Governance in a Globalizing World (Washington, D.C.: Brookings Institution Press, 2000), trang 109-34

[5] Alan Riding, “The New EU,” New York Times, 12/1/2003, phần Education Life, trang 30.

[6] Hey-Kyung Koh (biên tập), Open Doors 2002: Report of International Education Exchange (New York: Institute of International Education, 2002), trang 22.

[7] Thống kê từ Econonomist Books (biên tập) Pocket World in Figures 2003 Edition (London: Profile Books, Ltd., 2003), trang 90-92, trừ các thống kê về số ấn bản khoa học được biên tập từ các dữ liệu trong cơ sở dữ liệu “Chỉ số Phát triển Thế giới” của Ngân hàng Thế giới.

[8] “Norway Tops Quality of Life Index,” New York Times, 9/7/2003, trang A6.

[9] Economist Books (biên tập) Pocket World in Figures 2003 Edition (London: Profile Books, Ltd., 2003), trang 95.

[10] Pew Global Attitudes Project, Views of a Changing World June 2003 (Washington, D.C.: Pew Research Center for the People and the Press, 2003), trang 19, 132-34.

[11] Sđd, trang 19-23.

[12] Xem Leo Crespi, “Trend Measuremnent of US Standing in Foreign Public Opinion,” bản thảo của Cục Thông tin Hoa Kỳ, 1/6/1978 (có thể tiếp cận theo yêu cầu từ Trung tâm Dữ liệu Quốc gia: www.nara.gov), biểu đồ 2-5; và Steven K. Smith và Douglas Wertman, US-West European Relations During the Reagan Years (London: Macmillan, 1992), trang 92-93.

[13] Thomas Alan Schwartz, Lyndon Johnson and Europe (Cambridge: Havard University Press, 2003), trang 85.

[14] Jerry Adler (chủ biên), “What the World Thinks of America,” Newsweek, 11/7/1983, trang 44, bình luận cuộc thăm dò do Gallup tiến hành cho Newsweek.

[15] James Ceaser, “A Genealogy of Anti-Americanism,” The Public Interest, số Mùa Hè 2003

[16] Simon Schama, “The Unloved American,” The New Yorker, 10/3/2003, trang 34.

[17] Reinhold Wagnleiter và Elaine Tyler May (biên tập), “Here, There and Everywhere”: The Foreign Politics of American Popular Culture (Hannover: University Press of New England, 2000), trang 6.

[18] John Trumpbour, “Hollywood and the Decline of European Empire,” trong Elisabeth Kraut và Caronline Auer (biên tập), Simulacrum America (Rochester, NY: Camden House, 2000), trang 206-8.

[19] “Over Here”, The Economist, 15/3/2003, trang 54.

[20] Leo P. Crespi, “Trends in the Image of US Strength in Foreign Public Opinion,” Cục Thông tin Hoa Kỳ, Phòng Nghiên cứu, 28/1/1977, trang 13.

[21] John Burns, “Amid Serbia’s Battle Cries, Old Voice of Dissent,” New York Times, 27/3/1992, trang 4; Joseph Nye, “Manage Japan, Don’t Compete with It,” Wall Street Journal, 17/1/1991, trang A10.

[22] Pew Global Attitude Project, What the World Thinks in 2002 (Washington, DC.: Pew Research Center for the People and the Press, 2002), trang T54.

[23] Roger Cohen, “Fearful over the Future, Europe Seizes on Food,” New York Times, 29/8/1999, phần 4, trang I.

[24] “Iranian, in Paris Speech, Aims a Barb at US,” New York Times, 29/10/1999, trang A8.

[25] Được trích trong Walter LaFeber, Michael Jordan and the New Global Capitalism (New York: Norton, 1999), trang 20.

[26] Barbara Wallraff, “What Global Language?” The Atlantic Monthly, 11/2000.

[27] Michael Elliot, “A Target Too Good to Resist,” Newsweek, 31/1/2000, trang 27-28.

[28] Neil Buckley, “Eyes on the Fries,” Financial Times, 29/8/2003, trang 9.

[29] Xem Neal M. Rosendorf, “The Life and Times of Samuel Bronston, Builder of Hollywood in Madrid: A Study in the International Scope and Influence of American Popular Culture,” Luận văn tiến sĩ, Đại học Havard, 2000, “Appendix: The Power of American Pop Culture – Evolution of an Elitist Critique,” trang 402-15 và các nơi khác.

[30] Arendt được trích trong Michael Ermath, “German Unification as Self Inflicted Americanization,” trong Wagnleitner và May, “Here, There and Everywhere,” trang 267

[31] Nosa Ownes-Ibie, “Programmed for Domination,” trong Wagnleitner và May, “Here, There and Everywhere,” trang 141.

[32] Masako Notoji, Cultural Transformation of John Philip Sousa and Disneyland in Japan, trong Wagnleitner và May, “Here, There and Everywhere,” trang 225.

[33] Steven Weisman, “US Must Counteract Image in Muslim World, Panel Says,” New York Times, 1/10/2003, trang 1.

[34] Pew Global Attitude Project, What the World Thinks in 2002, trang T54-T58.

[35] UNDP, “Arab Human Development Report 2003”, có tại địa chỉ: http://www.undp.org/rbas/ahdr/english 2003.html

[36] Fouad Ajami, “The Falseness of Anti-Americanism,” Foreign Policy, 9-10/2003, trang 58,61.

[37] Mamoun Fandy, “The Iraq the Arab World Saw All Along,” New York Times, 10/4/2003, trang A27.

[38] Xem Andrew Kohut, Wall Street Journal, Thư gửi Ban biên tập, 10/7/2003.

[39] Institute for Research: Middle Eastern Policy, “Dividends of Fear: America’s $94 Billion Arab Market Loss,” 30/6/2003, có tại địa chỉ: http://www.irmep.org/Policy_Briefs/6_30_2003_DOF.html

[40] Được trích trong Thomas Friedman, “Is Google God?” New York Times, 29/6/2003, The Week in Review, trang 13.

[41] Collin Powell, “Statement on International Education Week 2001,” có tại địa chỉ: http://www.state.gov/secretary/rm/2001/4462.htm.

[42] Association of International Educators, “In America’s Interest: Welcoming International Students,” có tại địa chỉ: http://www.nafsa.org/content/PublicPolicy/stf/inamericasinterest.htm, trang 5

[43] Kennan, Eisenhower và người nhạc sĩ được trích trong Yale Richmond, Cultural Exchange and the Cold War (University Park: Pennsylvania State University Press, 2003) trang 123, 124. 127.

[44] Sđd, trang 22-32.

[45] Edward Rothstein, “Damning (Yet Desiring) Mickey and the Big Mac,” New York Times, 2/3/2002, trang A17.

[46] Ben Wattenberg, The First Universal Nation (New York: Free Press, 1991), trang 213.

[47] Carl Sandburg, được trích trong Reinhold Wagnleitner, Coca-Colonization and the Cold War (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1994), trang 222.

[48] Charles P. Pierce, “The Goodwill Games,” Boston Globe, 21/9/2003.

[49] Matthew Collin, Guerrilla Radio (New York: Nation Books, 2001), trang 41.

[50] John Fraim, Battle of Symbols: Emerging Global Dynamics (Enfield, UK: Daimon, 2003), chương 8.

[51] Saritha Rai, “Tastes of India in US Wrappers,” New York Times, 29/4/2003, trang W1.

[52] John Tagliabue, “US Brands Abroad Are Feeling Global Tension,” New York Times, 15/3/2003, trang B3.

[53] Rob Kroes, “American Empire and Cultural Imperialism: A View from the Receiving End,” Diplomatic History 29 (số Mùa Hè 1999), trang 468-74.

[54] Reinhold Wagnleitner, “The Empire of Fun, or ‘Talkin’ Soviet Union Blues: The Sound of Freedom and US Cultural Hegemony in Europe,” Diplomatic History 29 (số Mùa Hè 1999), trang 515.

[55] Về bằng chứng chứng minh Liên Xô suy giảm sức mạnh mềm ở Tiệp Khắc sau vụ đàn áp Mùa xuân Praha, xem Đài Âu Châu Tự do, Phòng Nghiên cứu Thính giả và Công luận, Czech and Slovak Self-Image and the Czech and Slovak Image of Americans, Germans, Russians and Chinese (Munich: Đài Âu Châu Tự do, 1970), trang 67.

[56] Richmond, Cultural Exchange and the Cold War, trang 128-131, 162, 205.

[57] Đoạn này dựa trên Mathew Kohut, “The Role of American Soft Power in the Democratization of Czechoslovakia,” tài liệu chưa xuất bản, 4/2003, Trường Quản trị Kennedy.

[58] Wagnleiter, “Empire of Fun,” trang 506.

[59] “TV Finally Approved by South Africa,” New York Times, 28/4/1971.

[60] Peter Waldman, “Iran Fights New Foe: Western Television,” Wall Street Journal, 8/8/1994, trang 10.

[61] “Prodding the Clerics,” The Economist, 12/7/2003, trang 24.

[62] Azar Nafisi, “The Books of Revolutions,” Wall Street Journal, 18/6/2003.

[63] Jehangir Pocha, “The Rising Soft Power of India and China,” New Perspectives Quarterly 20 (số Mùa Đông 2003), trang 6; Rick Lyman, “China is Warming to Hollywood Glow,” New York Times, 18/9/2003, trang B1.

[64] Wagnleitner, Coca-Colonozation, trang xi.

[65] Gulriz Buken, “Backlash: An Argument against the Spread of American Popular Culture in Turkey,” in Wagnleitner và May, “Here, There and Everywhere,” trang 248b.

[66] Meena Janardham, “Mideast: US May Be Unpopular, but Students Still Head for It,” Interpress Service, có tại địa chỉ: http://www.ipsnews.net, truy cập ngày 20/1/2003.

[67] Neal Gabler, “The World Still Watches America,” New York Times, 9/1/2003, trang A27.

[68] Suzanne Kapner, “US TV Shows Losing Potency Around World,” New York Times, 2/1/2003, trang 1; “Anti-Americanism and Television,” The Economist, 5/4/2003, trang 59.

[69] Jogn G. Blair, “First Steps Toward Globalization,” trong Wagnleitner và May, “Here, There and Everywhere,” trang 27.

[70] Jo Johnson, “Paris Deputies in Tune with Plans for State to Fund 24-Hour ‘French CNN,’” Financial Times, 15/5/2003, trang 10.

[71] J. Mitchell Jaffee và Gabriel Weimann, “The New Lord of the Global Village?,” trong Wagnleitner và May, “Here, There and Everywhere,” trang 291.

[72] Richard Tomkins, “Happy Birthday, Globalization,” Financial Times, 6/5/2003, trang 8.

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2013/05/12/cac-nguon-suc-manh-mem-cua-my/#sthash.y0Ri5O3W.dpuf

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Lý Quang Diệu viết về chính trị Trung Quốc


470037-china-politics-congress

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “China: A Strong Centre”, in L.K. Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 14-27.

Biên dịch: Trần Xuân Thủy | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Để hiểu được Trung Quốc và tương lai của quốc gia này trong 20 năm tới, bạn phải hiểu về con người và xã hội của họ. Trong 5.000 năm, người Trung Quốc tin tưởng rằng đất nước chỉ an toàn khi chính quyền trung ương mạnh. Một chính quyền trung ương yếu có nghĩa là lộn xộn và hỗn loạn. Một chính quyền trung ương mạnh sẽ đưa đến một đất nước Trung Hoa hòa bình và thịnh vượng. Mọi người Trung Quốc đều hiểu điều đó. Đó là nguyên tắc cốt yếu của họ, được rút ra từ những bài học lịch sử sâu sắc nhất. Sẽ không có sự chệch hướng khỏi nguyên tắc này trong tương lai gần. Đây là một tư tưởng có trước thời cộng sản. Nó đã tồn tại qua hàng trăm năm, hàng ngàn năm.Một vài người phương Tây muốn nhìn thấy Trung Quốc trở thành một nền dân chủ theo truyền thống phương Tây. Điều đó sẽ không xảy ra. Người Mỹ tin rằng bạn không thể trở thành một quốc gia thành công nếu không có các cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu, dù là bầu Tổng thống hay là bầu Quốc hội, và bạn phải thay đổi lãnh đạo vài năm một lần. Đó là cái nhìn định kiến của họ về thế giới. Người Trung Hoa chưa bao giờ có truyền thống đó. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với 1,3 tỷ người, với một nền văn hóa khác biệt và một lịch sử khác biệt. Nó sẽ làm theo cách của nó.

Vào mùa thu năm 2011, bạo động xảy ra tại làng chài Ô Khảm, tỉnh Quảng Đông. Nông dân mất đất vào tay các công ty bất động sản, những người đã thông đồng với quan chức địa phương. Lợi nhuận từ việc bán những mảnh đất này rơi vào tay bọn họ và các quan chức. Cuộc bạo động bắt đầu bằng một cuộc biểu tình có quy mô tương đối nhỏ của vài trăm người nông dân đau khổ trong tháng Chín. Đến tháng Mười hai, nó đã leo thang thành một cuộc bạo động toàn diện khi một người biểu tình bị chết trong khi bị cảnh sát giam giữ. Trong vòng vài ngày, 20.000 dân làng đã được huy động tham gia biểu tình. Họ trục xuất các quan chức ra khỏi làng bằng vũ lực, dựng các chướng ngại vật trên đường và tự vũ trang cho mình bằng các vũ khí thô sơ. Họ yêu cầu được trả lại đất đai. Mặc dù có sự kiểm duyệt về tất cả các tin tức liên quan đến Ô Khảm trên hệ thống truyền thông của Trung Quốc, rất nhiều người Trung Quốc có thể đọc được những gì đang diễn ra trên Internet, từ các nguồn tin nước ngoài. Cuối cùng, Phó Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông đã gặp những người biểu tình và giải quyết vấn đề. Chính quyền công nhận rằng dân làng đã có những khiếu nại chính đáng, một số đất đai đã được trả lại cho họ và những dân làng bị bắt trong các cuộc biểu tình trước đó đã được thả ra. Sau đó, bầu cử tự do đã được tổ chức bằng hình thức bỏ phiếu kín. Một thủ lĩnh của phong trào biểu tình giành được thắng lợi lịch sử và trở thành lãnh đạo mới của làng. Ô Khảm trở thành một tin vui cho những người hi vọng sẽ nhìn thấy cải cách dân chủ ở Trung Quốc.

Các tin tức cho chúng ta biết các cuộc biểu tình tương tự đang xảy ra hàng ngày ở các vùng khác của Trung Quốc. Vài người nghĩ rằng những sự kiện này là bằng chứng cho thấy một nhà nước Trung Quốc đang yếu đi. Nhưng sự thật là không một sự cố nào được phép phát triển trở thành phong trào quốc gia. Sự kiện Ô Khảm cho thấy điều này. Đảng Cộng sản đã cử ngay cấp Phó Bí thư Quảng Đông đến hòa giải và vãn hồi trật tự.

Có hai bài học rút ra từ Ô Khảm. Bài học đầu tiên là Đảng Cộng sản vẫn nắm quyền kiểm soát. Trật tự được vãn hồi với sự giúp đỡ của Đảng. Bài học thứ hai là cái cách mà Đảng Cộng sản có thể sử dụng cả các biện pháp cứng mà mềm để duy trì hòa bình. Trước khi bất kì một vụ rắc rối nào leo thang, bộ máy an ninh nhà nước đầy quyền lực có thể sử dụng các biện pháp mạnh để bóp chết các cuộc biểu tình từ trong trứng nước. Nhưng nó cũng có thể đứng về phía những người dân làng chống lại các quan chức tham nhũng ở địa phương. Nếu nghĩ về Đảng Cộng sản đơn thuần như một bộ máy tham nhũng nặng nề thì quá đơn giản hóa vấn đề. Trong thực tế, trong suốt cuộc nổi dậy, dân làng Ô Khảm đã rất cẩn thận tuyên bố trên các biểu ngữ của họ rằng họ ủng hộ Đảng Cộng sản, nhưng phản đối các quan chức tham nhũng tại địa phương.

Đây là một chiến lược phổ biến được những người phản kháng Trung Quốc sử dụng hàng ngàn năm qua. Họ hiểu rằng đối chọi lại chính quyền trung ương có nghĩa là chắc chắn bị tiêu diệt. Vì thế, họ chống lại những hành động sai trái của các quan chức địa phương trong khi vẫn tuyên bố trung thành với chính quyền trung ương. Không ai thách thức chính quyền trung ương trừ khi họ được chuẩn bị để đi đến cùng và giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước, một điều rất khó xảy ra.

Thay đổi về chính trị

Sự trỗi dậy của Trung Quốc trở thành một cường quốc trên trường quốc tế là một trong những sự kiện kịch tính nhất trong thời đại chúng ta. Sự tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc cũng là một điều đặc biệt. Tăng trưởng đã diễn ra với một nhịp độ không thể tưởng tượng được ở thời điểm cách đây 40 năm và trên một quy mô chưa từng có trong lịch sử loài người. Có vẻ nó sẽ còn tiếp tục diễn ra trong vài thập kỷ tới, với việc Trung Quốc sẽ có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lớn nhất thế giới vào năm 2020. Sự biến đổi của người dân Trung Quốc cũng không kém phần ấn tượng, từ đám quần chúng buồn tẻ và đơn điệu trở thành những cư dân với lợi ích và khát vọng đa dạng.

Về mặt quân sự, Trung Quốc sẽ có những bước tiến dài và phát triển các công nghệ và năng lực vốn giúp nước này đạt được sức mạnh của nó. Vào thời điểm hiện tại, người Mỹ có thể tiến vào sát lãnh hải cách bờ biển Trung Quốc 12 hải lý để quan sát. Trung Quốc cuối cùng cũng sẽ có thể đẩy người Mỹ ra khỏi giới hạn 12 hải lý này. Rồi Trung Quốc sẽ hướng tới mục tiêu đẩy người Mỹ ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và ngăn cản các hoạt động do thám của người Mỹ trong phạm vi 200 hải lý của vùng bờ biển phía đông nước này.

Tôi thấy phương trình quyền lực toàn cầu đang thay đổi. Trong 20 đến 30 năm nữa, Trung Quốc sẽ muốn ngồi bình đẳng ở chiếu trên. Rốt cuộc, Trung Quốc không phải là một cường quốc mới – nó là một cường quốc cũ đang sống lại. Và tôi tin tưởng rằng mục đích của Trung Quốc là trở thành cường quốc vĩ đại nhất trên thế giới.

Khi sự thay đổi diễn ra trên khắp đất nước, nền chính trị của Trung Quốc cũng không thể đứng ngoài cuộc. Đối với bất kỳ hệ thống nào, việc ổn định mãi mãi là điều không thể. Một trong những điều nổi bật tôi đã nhìn thấy trong cuộc đời mình là cách hệ thống Lê-nin-nít của Liên Xô đã để Mikhail Gorbachev được thăng tiến trong khi ông ta quyết định rằng hệ thống đó đã hư hỏng và cần phải cải tổ. Tôi không thể nói rằng điều này sẽ không được lặp lại ở Trung Quốc. Dù lựa chọn lãnh đạo của bạn có sáng suốt đến thế nào đi chăng nữa thì bạn cũng sẽ gặp phải một thế hệ nào đó nói rằng: “Nhìn này, hệ thống này đã trở nên vô dụng. Hãy giải phóng nó đi”. Không ai có thể nói điều đó sẽ không xảy ra.

Nhưng ngay cả khi điều đó xảy ra, nó cũng sẽ không dẫn đến kết quả phổ thông đầu phiếu. Sẽ có sự thay thế một đội ngũ lãnh đạo này bằng một đội ngũ lãnh đạo khác, bởi vì xét cả về mặt văn hóa và lịch sử, niềm tin ở Trung Quốc là một chính quyền trung ương mạnh sẽ đưa đến hòa bình và thịnh vượng. Phổ thông đầu phiếu sẽ không thể được nhìn thấy ở Trung Quốc và cũng sẽ không tạo ra một nước Trung Quốc thịnh vượng. Và họ cũng sẽ không thử nghiệm điều đó.

Bất kể có bao nhiêu vụ Ô Khảm đi chăng nữa, trong trung hạn, tôi không nhìn thấy một vụ nổi dậy nào thành công. Đúng, người Trung Quốc có một truyền thống về những cuộc nổi dậy do những người nông dân đứng đầu, hoặc được gọi là “khởi nghĩa”. Nhưng điều này thường xảy ra khi cuộc sống trở nên không thể chịu đựng được. Hiện giờ, cuộc sống của những người bình thường đang trở nên tốt hơn. Tại sao họ lại muốn một cuộc cách mạng? Họ biết rằng một cuộc cách mạng có thể sẽ lấy đi của họ tất cả những tiến bộ mà họ đạt được kể từ khi Đặng Tiểu Bình mở cửa đất nước. Đối với những người Trung Quốc trẻ tuổi, triển vọng kinh tế chưa bao giờ tốt hơn thế, mức sống được cải thiện hàng ngày và Trung Quốc đang trở lên hùng mạnh hơn trong vai trò một quốc gia. Tôi không thấy họ muốn xáo trộn điều đó. Những công nhân đến từ vùng nông thôn bị bỏ rơi không nhiều và cũng không được tổ chức. Họ muốn gia nhập tầng lớp trung lưu tại các thành phố nhằm cải thiện số phận của họ. Tầng lớp trung lưu, đến lượt mình, háo hức muốn leo lên đỉnh. Sau khi tầng lớp này xoay xở để có vị trí và tự củng cố, họ muốn có sự minh bạch hơn và tiếng nói lớn hơn về việc đất nước được quản lý như thế nào, nhưng vẫn còn phải chờ thêm một thời gian. Tóm lại, dù hệ thống hiện tại cần được cải tiến, nó không phải sắp tan rã.

Những người bên ngoài không nên đánh giá thấp ý chí của chính quyền trung ương trong việc giữ vững quyền lực và sự kiểm soát. Chính quyền được thông tin đầy đủ và hiện đại, theo dõi tình huống sát sao và sẵn sàng tiến hành các hành động phủ đầu. Sự ra đời của công nghệ hiện đại – Internet, iPhone và mạng xã hội – chắc chắn đã làm cho chính quyền phải làm việc vất vả hơn bởi vì nó cho phép mọi người nói chuyện với nhiều người cùng lúc và các nhóm nhỏ tập hợp thành các nhóm lớn hơn. Nhưng không có sự nghỉ ngơi nào trên mặt trận này cả. Chính quyền Trung Quốc triển khai một đội quân gồm các chuyên gia để giám sát và kiểm duyệt những gì diễn ra trên không gian mạng. Số lượng nguồn lực con người mà Trung Quốc sẵn sàng đổ ra để kiểm soát dòng chảy thông tin thật đáng ngạc nhiên. Và mặc dù một số công dân mạng đã sáng tạo trong việc vượt qua bức “vạn lý tưởng lửa” của Trung Quốc, nhưng các biện pháp kiểm duyệt thường có hiệu quả và các nhà cầm quyền có được sự kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động trên mạng. Bộ máy kiểm duyệt sẽ loại bỏ khả năng vận động và tổ chức quần chúng. Lực lượng an ninh sẽ hạ gục bất cứ cái gì có thể luồn lách qua các kẽ hở.

Với tất cả những thứ đó trong đầu, chúng ta có thể kỳ vọng vào loại hình cải cách chính trị nào ở Trung Quốc trong 10 đến 20 năm tới?

Họ sẽ chuyển một cách thận trọng sang một mô hình chính phủ có sự tham gia của người dân nhiều hơn. Đã có các cuộc bầu cử trực tiếp ở một số làng và cho các cơ quan lập pháp ở cấp thấp. Việc Trung Quốc dần dần cho phép cách làm này được thực hiện ở cấp cao hơn không phải là điều không thể tưởng tượng. Nhưng cách tiếp cận của họ mang tính thử nghiệm và tiệm tiến từ từ. Họ sẽ tránh các cuộc tranh cử hoàn toàn tự do với những kết quả không thể dự đoán trước. Chừng nào họ còn đứng ở vị trí kiểm soát tất cả, họ còn có thể tiến hành thử nghiệm. Rốt cuộc, không có áp lực hoặc động cơ thúc đẩy mạnh mẽ để họ thực hiện các thay đổi mạnh mẽ.

Nền dân chủ độc đảng là một khái niệm mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã và đang muốn khám phá. Đại hội Đảng lần thứ 17 đã cởi mở hơn Đại hội lần thứ 16. Đã có nhiều sự lựa chọn hơn cho các ứng viên vào các vị trí lãnh đạo cấp cao của Đảng. Trong quá khứ, lãnh đạo tối cao như Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình sẽ chỉ định người kế nhiệm, nhưng Hồ Cẩm Đào không thể có sự lựa chọn của mình.

Dân chủ độc đảng có thể mở rộng tới các phần khác của hệ thống. Một cách để thực hiện điều này có thể là việc cho phép các cuộc tranh cử có kiểm soát, có thể ở cấp tỉnh hoặc thành phố, giữa các ứng cử viên được Đảng chấp thuận. Họ có thể bắt đầu bằng việc có từ ba đến bốn người có thể tin cậy cạnh tranh giành một vị trí quan trọng và lưu ý họ rằng điều quan trọng là họ phải nhận được sự ủng hộ của người dân mới có thể được lựa chọn.

Tất nhiên, một số thứ nếu có thay đổi thì cũng diễn ra rất chậm. Tôi không nghĩ họ sẽ từ bỏ việc kiểm soát toàn diện và kỹ lưỡng đối với hầu hết các mặt của quản lý chính quyền. Tham nhũng, cũng như việc thiếu vắng nền pháp quyền và các thể chế quản trị, nhiều khả năng sẽ tiếp tục là đặc trưng của hệ thống Trung Quốc – đó cũng là những điểm yếu dễ nhận thấy.

Tham nhũng mang tính chất cố hữu từ những ngày đầu. Nhưng sau khi Trung Quốc tiến hành cải cách thị trường, tham nhũng đã tăng theo cấp số nhân bởi vì lương của các bộ trưởng và các quan chức không là gì so với phần còn lại của xã hội vốn trở lên giàu có một cách nhanh chóng. Ngày nay, không có gì được tiến hành ở Trung Quốc mà không có “guan xi”, tức là quan hệ. Bạn phát triển quan hệ bằng cách tặng các món quà, được phân loại tùy theo tầm quan trọng của người mà bạn muốn xây dựng quan hệ. Ở khắp nơi, mọi người muốn phát triển quan hệ với một ai đó cao hơn, và những quan chức cao hơn đó muốn có quan hệ với những người cao hơn nữa. Và nếu như bạn, với vai trò là người giám sát tôi, tạo cho tôi áp lực thái quá, thì tôi có thể phát triển quan hệ với người giám sát của bạn. Đó là một cách để tôi giải quyết xung đột. Đảng Cộng sản đã gọi cuộc đấu tranh với tham những là “một vấn đề sống còn” của Đảng.

Đảng có thể kiểm soát được tham nhũng không? Nó có thể cố gắng giữ trong sạch ở cấp cao. Tuy vậy, ngày 11 tháng 11 năm 2012, tờ Thời báo New York đã công bố gia đình Ôn Gia Bảo  có trong tay 2,7 tỷ đô la. Tôi không thấy họ có thể kiểm soát tham nhũng ở cấp độ địa phương. Tham nhũng không làm sụp đổ hệ thống, nhưng nó ngăn cản hệ thống hoạt động một cách có hiệu quả. Khi bạn có những quan hệ có thể quyết định việc đề bạt hoặc chỉ định các chức vụ quan trọng và ảnh hưởng đến cách mà các chính sách hoạt động, bạn sẽ không đạt được mức tăng trưởng tối ưu.

Cũng bám rễ sâu vào trong văn hóa Trung Quốc là cách làm việc ít chú ý đến các quy định của pháp luật hoặc các thể chế quản trị. Ở Singapore, chúng ta đã phải chấp nhận rằng chúng ta phải giống như phương Tây trong vấn đề này – có các cơ quan lập pháp quyết định về từ ngữ trong các văn bản luật và rồi có các tòa án và quan tòa độc lập để giải thích các luật đó. Quốc hội có thể thông qua bất kỳ luật gì, nhưng khi nó đã được thông qua, nếu như có một cuộc tranh chấp xảy ra, bạn không quay trở lại Quốc hội và nói: “Các ông viết như vậy có nghĩa là gì?”  Bạn đi đến gặp một quan tòa, người sẽ nói: “Tôi giải thích điều này theo nghĩa như thế này, căn cứ theo các quy định chặt chẽ của việc giải thích văn bản dựa trên các tiền lệ đã có từ lâu”.

Người Trung Quốc không chấp nhận điều này, cũng như họ không chấp nhận rằng khi bạn ký một thỏa thuận, đó là sự kết thúc. Đối với họ, khi bạn ký một thỏa thuận, đó là sự bắt đầu của một tình bằng hữu lâu dài, và thi thoảng, khi đã là những người bạn, bạn phải tính xem liệu có phải một trong hai người kiếm được quá nhiều tiền và cần phải nhả thêm ra cho người kia hay không.

Sự nhập nhằng này cũng được phản ánh trong cách họ nhìn các thể chế. Ở Trung Quốc, con người quan trọng hơn địa vị. Bạn có thể là Chủ tịch nước, nhưng nếu bạn không có ảnh hưởng với quân đội, bạn sẽ là một Chủ tịch nước loại khác – trong khi ở Singapore, Anh, Châu Âu hay Mỹ, nếu bạn là Tổng thống hay Thủ tướng, những người đứng đầu quân đội sẽ tự động nhận lệnh từ bạn bởi vì thể chế quan trọng hơn con người. Liệu Trung Quốc có thể học theo Singapore – đừng nói là Mỹ – trong việc thiết lập nền pháp quyền và các thể chế quản trị không? Không dễ chút nào cả! Điều này đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận về tư duy của cả chính phủ và người dân. Và nếu những khái niệm này không tồn tại trong văn hóa và lịch sử của họ, người ta sẽ phải hỏi: Chúng xuất hiện từ đâu?

Thay vào đó, tôi thấy họ đang tạo ra hệ thống riêng của mình và thử nghiệm tất cả các mô hình có thể có mà không cần nền pháp quyền cũng như các thể chế quản trị. Nhưng chính vì những hạn chế này, Trung Quốc sẽ không bao giờ vận hành ở mức mà tôi gọi là khả năng tối đa – một nhà nước lý tưởng nơi bạn phát triển chắc chắn, luôn luôn tiến về phía trước.

Trung Quốc sẽ cải tiến các thể chế và hệ thống của nó, nhưng theo cách riêng của Trung Quốc. Bất kể cải cách của họ là như thế nào, có một thứ sẽ không đổi: họ sẽ duy trì một chính quyền trung ương mạnh.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Nhìn vào nền Đệ Nhất Cộng Hòa ở VN

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/forums/topic/nhin-vao-nen-de-nhat-cong-hoa-o-vn/#sthash.YFwNbFg1.dpuf

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

HUMAN RIGHTS WATCH Nợ Công An Việt Nam Một Lời Xin Lỗi

Bài viết của John Lee (Amari TX) VHN.NET -Đăng trên tạp chí Nhân Quyền Việt Nam Tháng 10-2014

 Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) ngày 16-9-2014 công bố bản Phúc trình: “Công bất an: Những vụ tử vong khi bị tạm giam, giữ và vấn nạn Công an bạo hành ở Việt Nam”. Với một tổ chức mà nhiều nước trên thế giới đã kịch liệt phê phán về những cáo buộc với mục đích không trong sáng, chuyên bới móc chuyện nhân quyền của các nước, tô vẽ, bóp méo những sự thật, nhào nặn chế tác ra các “khuyến nghị”, “nghị quyết” này nọ thì cái gọi là bản “Phúc trình” chỉ trích lực lượng Công an Việt Nam vi phạm nhân quyền này cũng chỉ là trò vu vạ cũ rích, mua vui cũng chỉ một vài trống canh. Tuy nhiên, điều đáng nói là HRW lấy tư cách gì mà ngang nhiên khuyến nghị chính phủ các nước lớn và các tổ chức tài chính quốc tế gây sức ép với Chính phủ Việt Nam? Bản Phúc trình chỉ trích lực lượng Công an Việt Nam vi phạm nhân quyền của HRW dài 23 trang, cho rằng có 41 trường hợp bị tử vong, thương tích do Công an bạo hành và chết không rõ nguyên nhân khi bị tạm giữ, tạm giam từ năm 2010 đến năm 2014 tại 44 tỉnh/thành phố của Việt Nam. HRW đã trích dẫn những nội dung trên mạng xã hội Facebook “bình thường như chết ở Công an phường” hay “ra khỏi đồn Công an mà vẫn còn sống, đúng là chuyện thần kỳ”…
HRW nhấn mạnh “các nạn nhân” đều là những người đang bị điều tra về các tội ít nghiêm trọng, những vụ bất hòa trong gia đình hay vi phạm luật giao thông… Trong một số vụ việc, HRW đã nói rằng: “Công an bắt người chỉ dựa trên những nghi vấn mơ hồ, không có bằng chứng kèm theo, sau đó đánh đập để ép buộc họ thú tội. Công an thường xuyên bỏ qua trình tự pháp lý cần thiết để bảo vệ người dân khỏi bị ngược đãi hay bắt giữ tùy tiện…”. “Voi đú, chó cũng đú, chuột chù cũng nhảy”, các hãng truyền thông của Mỹ và phương Tây như VOA, BBC, các đối tượng phản động trong và ngoài nước ngay lập tức sử dụng bản Phúc trình của HRW để đưa tin, bình luận xuyên tạc, chỉ trích lực lượng Công an và tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Người chân chính ai cũng có thể thấy rằng, bản Phúc trình của HRW với ý đồ đả phá trực diện vào lực lượng Công an nhân dân Việt Nam là một chiến thuật mới hòng làm xấu đi hình ảnh của một lực lượng vốn là “khiên chắn” bảo vệ chế độ và nhân dân, kích động, chia rẽ gây mất lòng tin giữa nhân dân với lực lượng Công an. định kiến về vấn đề nhân quyền, khoét sâu vào những vụ việc mà pháp luật Việt Nam chưa chấp thuận hoặc chưa thông qua để rồi đưa ra những kết luận hồ đồ rằng: “Khước từ những kêu gọi này khiến người ta thắc mắc về sự chân thành trong các lời cam kết tôn trọng nhân quyền của Hà Nội”! Cũng giống như các “phúc trình”, “khuyến nghị” trước đây, “Phúc trình” chỉ trích lực Đối với Việt Nam, suốt một thời gian dài HRW luôn có những lượng Công an Việt Nam của HRW không đưa ra được những thông tin xác thực.
Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc HRW khu vực châu Á, nói: “Những cáo buộc về những người bị giam bị công an bạo hành là phổ biến. Phúc trình theo dõi các trường hợp tại 44 tỉnh trong số 58 tỉnh của Việt Nam…”. Xin hỏi ông Phil Robertson, ông và các cộng sự của ông có đến Việt Nam không, có tận “mắt thấy, tai nghe” không mà dám nói “theo dõi” trên toàn lãnh thổ Việt Nam? Hay các ông vẫn thói “nhắm mắt nói bừa”? Sự thật thì chính ngay trong cái gọi là bản phúc trình của các ông đã thừa nhận, các ông chỉ lượm lặt thông tin một cách rất thiếu tính khoa học, đó là: Trích dẫn, lượm lặt những nội dung trên mạng xã hội Facebook, các báo chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, các phần tử cực đoan ở hải ngoại để “xây dựng” nên bản phúc trình với những bình luận kỳ quái. Thế giới ngày hôm nay thật là nhỏ bé khi công nghệ thông tin phát triển như vũ bão. Khi mà lượng thông tin được truyền tải với một khối lượng khổng lồ thì người tiếp nhận thông tin phải biết chọn lọc để không bị “ngộ độc”. Lợi dụng tiện ích của công nghệ thông tin, HRW cũng giống như một số tổ chức, cá nhân tìm cách sáng tác, chế biến, lượm lặt, giật tít, câu view, thậm chí dựng chuyện theo hướng sai sự thật, gây lạ, sốc trên mạng xã hội. Ông Phil Robertson và các cộng sự của ông ta cũng không trực tiếp gặp gỡ, phỏng vấn những người mà họ cho là nạn nhân, người thân của nạn nhân và nhà chức trách của Việt Nam để kiểm chứng thông tin mà lại dám ngang nhiên “ăn không nói có” rằng những người tạm giam, giữ, bị bạo hành là những người đang bị điều tra về các tội ít nghiêm trọng, những vụ bất hòa trong gia đình hay vi phạm luật giao thông…

Tại sao HRW lại hướng dư luận vào cái gọi là phúc trình về “Những vụ tử vong khi bị tạm giam, giữ và vấn nạn Công an bạo hành”, những người họ cho là nạn nhân chỉ vi phạm pháp luật một mức độ “vặt vãnh”? Bởi vì, “khuếch đại” hiện hượng tiêu cực của một số cá nhân cán bộ, chiến sĩ công an, chế tác, cắt ghép thông tin rồi hô hoán, quy chụp bôi đen hình ảnh người Công an nhân dân, suy diễn rộng ra toàn lực lượng này là một âm mưu có tính toán thâm độc. Cái kiểu tung tin của HRW chỉ để nhằm mục đích ngầm nói với dư luận rằng, với những tội ít nghiêm trọng mà còn như vậy thì những tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng công an sẽ hành xử “ghê gớm” cỡ nào.

Lực lượng công an nhân dân Việt Nam được luật pháp giao cho những nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Ông Phil Robertson có những phát biểu kiểu dựa vào cái gọi là “thông tin trên mạng xã hội” để quy kết lực lượng Công an Việt Nam thì quả thật đó chỉ có thể là việc làm của một kẻ vô trí. Còn HRW quả là quỷ quyệt khi chuyển hướng công kích sang một lực lượng “khiên chắn” quan trọng mà Đảng và nhân dân luôn đặt niềm tin yêu. nước không ít lần nói về những vụ việc oan sai, những sai phạm của một số cá nhân trong lực lượng công an trong điều tra, xét xử. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, những vụ án oan sai đã được minh oan, sai phạm của những người nắm quyền thực thi pháp luật đã bị xử lý công bằng, nghiêm minh. Như mọi người đã biết, thời gian qua, báo chí chính thống trong Những “con sâu làm rầu nồi canh” chỉ là một số ít. Không thể vì một vài cá nhân đơn lẻ mà quy chụp tiếng xấu cho cả một lực lượng đang ngày đêm không quản gian khổ, hy sinh bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Ông Robertson chắc không biết rằng trước khi cái tổ chức của ông ta công bố cái gọi là bản “phúc trình” 5 ngày thì sáng 11-9-2014, tại Hà Nội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức phiên họp về “Việc chấp hành pháp luật trong thu thập, đánh giá chứng cứ, chống bức cung, nhục hình của cơ quan điều tra chuyên trách trong hoạt động điều tra vụ án hình sự”. Tham gia phiên họp có đại diện lãnh đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Tại phiên họp, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, với phương châm nhất quán kiên quyết phòng, chống bức cung, nhục hình và những vi phạm pháp luật khác trong hoạt động điều tra tội phạm, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an đã chỉ đạo toàn lực lượng Công an quán triệt thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ về phòng, chống tội phạm. Bộ Công an đã ban hành nhiều chỉ thị về việc tăng cường chấp hành pháp luật, chấn chỉnh sai phạm trong hoạt động điều tra; khắc phục tình trạng làm oan người vô tội trong các vụ án hình sự và xử lý trách nhiệm đối với cán bộ công an có liên quan; khắc phục sơ hở, thiếu sót, chấn chỉnh sai phạm trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm của lực lượng Công an; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn, chấn chỉnh, xử lý vi phạm và các hiện tượng tiêu cực, cũng như chấn chỉnh các sai phạm trong chấp hành pháp luật về thu thập, đánh giá chứng cứ, chống bức cung, nhục hình trong hoạt động điều tra tội phạm. Trong những năm vừa qua, Bộ Công an liên tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải thường xuyên rèn luyện bản lĩnh, ý chí, hành động theo 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân. Phiên họp liên ngành, liên bộ đó có thể cho HRW thấy rằng, cả hệ thống chính trị của Việt Nam, không có cơ quan nào bao che, “chống lưng” cho những hành vi vi phạm pháp luật trong lực lượng công an nhân dân, cả bộ máy nhà nước cương quyết loại bỏ đến cùng những biểu hiện lệch lạc, những hành vi sai trái ra khỏi lực lượng này, quyết tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, có kỷ cương và tuân thủ nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ.

Những kiểu quy kết của ông Robertson như: “Điều chúng tôi phát hiện là một cuộc khủng hoảng nhân quyền trong những công tác hàng ngày của Công an Việt Nam. Chúng tôi tin là điều chúng tôi thấy ngày hôm nay chỉ là phần nổi của một tảng băng lớn hơn nhiều” hay “Công an là một công cụ chính trị để bảo vệ quyền lực Cộng sản chống lại các thế lực thù địch hơn là một tổ chức chuyên nghiệp”… là một sự xúc phạm nghiêm trọng đến lực lượng Công an Việt Nam. Nhân dân Việt Nam và lực lượng Công an Việt Nam không chấp nhận kiểu nói năng như vậy. Ông Robertson nợ nhân dân Việt Nam, nợ Công an Việt Nam một lời xin lỗi.

Những thông tin xác thực và những góp ý tích cực sẽ là một trong những yếu tố khẳng định uy tín của một cá nhân, tổ chức. Dư luận trong nước cũng như dư luận quốc tế cũng có nhiều kênh thông tin để đánh giá sự thật những gì đã và đang diễn ra hàng ngày ở Việt Nam. Không phải ai, tổ chức nào, chính phủ nào cũng dễ bị mê hoặc hút vào trò chọc ngoáy, xỏ xiên các nước khác như cái cách mà HRW và một số tổ chức, cá nhân có thâm ý xấu đã và đang làm. Cái được gọi là “khuyến nghị”, “phúc trình” của HRW kêu gọi Chính phủ Mỹ, EU và các tổ chức quốc tế sử dụng “con bài” viện trợ để gây sức ép đòi Chính phủ Việt Nam phải cải cách theo hướng “tư pháp độc lập”, hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” để giám sát hoạt động điều tra của lực lượng Công an, tự do báo chí, tự do tôn giáo… xét cho cùng, trong đại đa số các trường hợp cũng chỉ là mớ giấy lộn!■

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

RFA muốn thổi “gió dân chủ” từ Hồng Kong về Việt Nam !

Vẫn giọng điệu hằn học vốn là bản chất của cơ quan ngôn luận kiểu mõ làng, RFA việt ngữ chưa bao giờ có thiện chí với chính phủ Việt Nam, khi đọc bài của cái họ tự xưng là: “Nhóm phóng viên tường trình từ VN”?! với giật tit “Giới trẻ Việt Nam với tin biểu tình ở Hồng Kong” thì người đọc hiểu ngay là RFA muốn gì. Bằng cách gọi là trích dẫn nội dung “Phỏng vấn” của một số bạn trẻ tên A,B,C…vv… ở một số nơi ở trong nước, nói lên suy nghĩ của mình về những gì đang diễn ra ở Hồng kong để lồng ghép, suy diễn ý đồ của mình với mục đích kích động, xuyên tạc những gì mà chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực duy trì sự ổn định để dốc tâm vào công cuộc xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Với giọng lưỡi thể hiện bản chất thâm căn cố đế luôn coi thể chế chính trị ở Việt Nam là cái gai trong mắt họ, RFA việt ngữ luôn dùng những ngôn từ hằn học trong bài viết như “Trong lúc các sinh viên Hồng Kông đồng loạt biểu tình yêu cầu người đứng đầu Hồng Kông Lưu Chấn Anh từ chức và yêu cầu nhà cầm quyền Trung Quốc hãy để người Hồng Kông tự quyết định vận mệnh của họ, tự bầu giới thiệu, ứng cử và bầu chọn lãnh đạo của họ, có thể nói là một cuộc biểu tình hết sức gay cấn và làm thế giới thay đổi cách nhìn về Á Châu… Thì tại Việt Nam, ở thành phố Hà Nội, thủ đô của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, giới trẻ yêu nước đã bắt đầu thể hiện thái độ ủng hộ sinh viên Hồng Kông bằng nhiều hoạt động khác nhau, dường như cuộc biểu tình của giới trẻ Hồng Kông đã truyền lửa rất mạnh cho giới trẻ Hà Nội nói riêng và giới trẻ Việt Nam nói chung” ?! Xin hỏi các vị RFA rằng: có cái kiểu xuyên tạc đến mức nhố nhăng như các vị thế nào là “Hà Nội, thủ đô của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam”?!  cách nói hằn học này đủ để mọi người hiểu rõ bản chất truyền thông “Trung thực” của RFA việt ngữ. Xin nói cho các vị được rõ thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, của toàn thể hơn 90 triệu con tim Việt cả trong và ngoài nước, Hà Nội không là của riêng của bất kể thể chế chính trị nào. Xuyên tạc lịch sử, gây hồ nghi cho lớp trẻ, lợi dụng nhiệt huyết yêu nước, kích động tư tưởng mà các vị ra rả là “cấp tiến”  mục đích là tạo nên một làn sóng chống lại chính quyền, vi phạm pháp luật …gây đảo lộn trật tự xã hội ở trong nước. Với những ý đồ  tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược hòng nắm lấy lực lượng “chiến lược” này, các tổ chức chống cộng ở hải ngoại và một số tổ chức cá nhân “nhà dân chủ” được sự cổ vũ “nhiệt tình” của các tổ chức nước ngoài cha đẻ của các “phúc trình”, “báo cáo”…vv.. luôn nuôi giấc mộng “Chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không khói thuốc súng”  đang tấn công mạnh mẽ trên các lĩnh vực tư tưởng-văn hoá, coi đây là mũi đột phá nhằm xoá bỏ chế độ hiện tại ở Việt Nam mà điểm mấu chốt là nhắm vào giới trẻ là học sinh, sinh viên, chính là làm chuyển hoá tư tưởng dẫn tới quá trình “tự diễn biến” theo cách họ nói là “biểu tình ôn hòa” !? RFA đã lộ rõ ý đồ của họ khi thể hiện quan điểm áp đặt một các phi lý khi họ luôn nói thể chế chính trị ở Việt Nam là độc tài? ô hay các vị cố tình đánh lận con đen giữa “độc tài” và “độc Đảng”? chính cái kiểu nói trời ơi đó đã hướng dư luận đến cái đích mà RFA mong muốn là: “mọi hoạt động của các công dân trong các quốc gia độc tài luôn nằm ở dạng chỉ định và bị áp đặt. Chính sự chỉ định và áp đặt nhằm phục vụ lợi ích cho phe nhóm độc tài đã làm cho tầm quan sát cũng như mọi tri kiến của mọi cộng dân bị giới hạn trong lăng kính của kẻ độc tài. Và một khi con người hiểu được nhu cầu cần tiến bộ, cần văn minh của mình, nhất định người ta sẽ loại bỏ độc tài ra khỏi suy nghĩ và đời sống của họ” ?!…..
Thời gian qua, các thế lực thâm thù với Việt Nam tìm mọi cách thực hiện âm mưu hòng “phá vỡ thế đồng nhất một khối của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “làm cho phân tán chế độ cộng sản Việt Nam thành nhiều trào lưu đối kháng nhau” như tuyên bố đầy tham vọng và ảo tưởng của một số kẻ chống cộng cực đoan là người Việt sống lưu vong và một số cơ quan truyền thông như RFA việt ngữ. Thế giới ngày nay, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều quốc gia đang xung đột từ trong nội tại, dẫn đến đau thương, chết chóc, hoang tàn, đất nước tan rã, một thời điểm mà lợi ích của các quốc gia đều có sự ràng buộc lẫn nhau. Không dễ gì một quốc gia có thể bị ảnh hưởng, bị chia cắt bởi một biến cố nào đó. Nhưng bằng cách này hay cách khác, nhiều quốc gia đã, đang và có thể sẽ tiếp tục tan vỡ. Những bài học đó khiến chúng ta không thể chủ quan. Họ luôn quảng cáo cho mô hình “xã hội dân chủ”, họ nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, kiểu như “dám nghĩ, dám làm” … trong giới trẻ nhằm tạo ra sự đối lập với hệ tư tưởng của thế hệ cha ông đang theo đuổi từ đó tạo ra sự xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, giữa các thế hệ. Đặc biệt, trên mạng in-tơ-net, họ đưa nhiều thông tin sai lệch, bịa đặt, lấp lửng, gật gân để nhiều người trẻ truy cập và mời chào tham luận làm ra vẻ “Vô tư, khách quan” và luôn thòng theo một câu “chúng tôi tôn trọng ý kiến cá nhân, đây là quan điểm của bạn” và ” Bài viết này không phản ánh quan điểm của báo” ?!  khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội được báo chí trong nước đăng tải hướng luồng dư luận vào những vụ việc này để kích động lớp trẻ bất mãn với cái họ gọi là “Thảm trạng của đất nước”?! qua đó đã có những tác động rất xấu đến nhận thức, tình cảm, văn hóa, lối sống của một bộ phận giới trẻ là cư dân mạng…
Thế hệ trẻ Việt Nam được nuôi dưỡng trong bầu nhiệt huyết yêu nước nồng nàn hun đúc bằng ngọn lửa 4000 năm dựng nước và giữ nước của cha ông. Lịch sử của chúng ta đã chứng minh một điều là: vũ khí chưa bao giờ mang tính quyết định sự thắng bại của cuộc chiến. Chúng ta  tự tin vào sự đoàn kết của dân tộc dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Chúng ta tự tin vào sức mạnh của đất nước trong một bối cảnh đang có rất nhiều cơ hội và thách thức.Thanh niên là lực lượng xã hội có vị trí, vai trò to lớn, là rường cột, là người chủ tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ, động viên, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của thanh thiếu niên, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cách mạng. Coi trọng công tác giáo dục cho thanh thiếu niên, đây là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn, rất quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, khả năng sẵn sàng thực hiện thắng lợi công cuộc bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ tương lai của đất nước. Làm được điều đó thì mọi “Nỗ lực” của các vị không thiện cảm với Việt Nam như RFA việt ngữ sẽ là vô vọng mà thôi.

John Lee (Amarri TX)

Hoa Kỳ oct-11- 2014
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Xuyên tạc, bôi nhọ chủ Tịch Hồ Chí Minh là những kẻ không có con tim và khối óc !

Mấy ngày gần đây cộng đồng mạng rộ lên những bài viết, clip, comment trên các kênh như Facebook, Blog, youtube… về việc trang mạng phố Bolsa TV đăng tải clips một nhân vật thuộc loại “Bựa” nhất trong cộng đồng chống cộng cực đoan người Việt tại Hoa Kỳ đó là ông Ngô Kỷ. Nội dung bài phỏng vấn nói về Chủ Tịch Hồ Chí Minh với những ngôn từ xấc xược đã làm phẫn nộ những người Việt Nam chân chính cho dù ngay lúc này một bộ phận những người Việt Nam sống tại Hoa Kỳ họ vẫn tự coi mình là “Người Việt Quốc Gia” cũng không thể chấp nhận được những gì Ngô Kỷ đã nói. Phản ứng ngay sau đó của Phố Bonsa TV là có lời xin lỗi bạn đọc và gỡ bỏ Video clip đó. Đây cũng là một bài học cho cái gọi là “Truyền thông đa chiều” ở xứ Mỹ, họ đã vô tình “Quảng bá” cho những loại người như Ngô Kỷ.
Vậy thì tại sao những kẻ như Ngô Kỷ lại có những ngôn từ xuyên tạc, chửi rủa, hằn học, thâm thù, ấu trĩ về Hồ Chí Minh sặc mùi cực đoan đến như vậy? ở đây có phải là một sự ngộ nhận ? Xin thưa không phải như vậy, theo dõi các bài viết của rất nhiều vị nói xấu, bôi nhọ về Hồ Chủ Tịch trên các trang điện tử thì chúng ta nhận thấy ngay không khó khăn gì đó là các vị đó là ai?, đang làm gì? và nguyên nhân tại sao lại hành động như vậy. Họ thường dùng đủ lời lẽ, lập luận để vu cáo, xuyên tạc thậm chí dùng những ngôn từ côn đồ, chợ búa “đá cá lăn dưa”. Có hai hạng người trên cùng một “Chiến tuyến” này. Một là những kẻ vô công rồi nghề, nhân cách còn gọi Chí Phèo là “ông tổ” như Ngô Kỷ là một điển hình, những vị này biến mình thành “Lính đánh thuê” cho một số tổ chức chống cộng ở Hải ngoại, theo kịch bản đã dựng sẵn cứ “Đến hẹn lại lên” khi trong quốc nội có những ngày lễ lớn trọng đại hoặc như Đảng, nhà nước Việt Nam phát động phong trào “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thì những con rối này bắt đầu “Hành nghề” theo đơn đặt hàng một cách “Khí thế” nhất, làm sao cho không uổng đồng tiền bát gạo của kẻ thuê mình, có như vậy lần sau mới được sự tín nhiệm….Loại thứ hai tôi muốn nói đó là một số vị có trình độ học thức nhất định nhưng họ vẫn cố tình xuyên tạc, bôi nhọ một cách rất tinh vi. Những người này làm ra vẻ là những người “trong cuộc”, là những chứng kiến, là lấy kính lúp “Soi” từng góc cạnh, so đọ từng sự kiện được cho là bí ẩn thuộc tài liệu “Thâm cung bí sử” kiểu tiểu thuyết hậu cung lịch sử trung hoa, gật gân, huyền bí hòng dẫn người đọc lạc vào một mê hồn trận từ đó “bái phục” những vị này….vậy thì tại sao họ làm như vậy? mục đích gì? xin thưa chẳng qua cũng vì tư lợi mà thôi. tỷ như “sự kiện” năm 2009 một nhóm người làm một cái gọi là bộ phim tài liệu ““Sự thật về Hồ Chí Minh“ nội dung  những luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim này đã bị rất nhiều những nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở trong nước và trên thế giới lên án. Với nội dung đơm đặt, các tình tiết bị bóp méo hòng gợi ý tò mò mục đích bán cho thật nhiều băng dĩa kiếm tiền, thế nhưng hỡi ơi! họ đã thất bại thảm hại ngay trên sân chơi của họ sau đó mớ băng dĩa này gởi cho không  bà con trong cộng đồng mà chẳng ai muốn nhận bèn tống hết vào thùng rác. Cũng làm một bộ phim tư liệu về Hồ Chí Minh nhưng những người Mỹ họ đã nói lên điều gì với bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” của Hãng phim History Channel (Mỹ)? Họ đã ca ngợi lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả của Hồ Chí Minh dành cho dân tộc Việt Nam, chứ không như những luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh“, mặc dù có những đánh giá chưa đúng hết tầm vóc của Hồ chí Minh nhưng chúng ta dễ chấp nhận vì họ nhìn về một “Định hướng” khác. Những kẻ như Ngô Kỷ và một số vị ở hải ngoại theo tôi nghĩ họ không phải là sự ngộ nhận mà là ý đồ cố tình xuyên tạc. Như mọi người đều biết nếu họ thiếu thông tin mà dẫn đến ngộ nhận thì khác, mà ở đây họ đã thể hiện cái dã tâm đen tối bằng những giọng điệu cực đoan, chửi rủa, xấc xược hòng thể hiện ta đây dám đánh thẳng vào “Tượng đài” và nhảy múa vô tư trên “hệ tư tưởng” của cộng sản ta mới là anh hùng ?! mà một khi đã như vậy thì “Xin” gì cộng đồng cũng phải chiều mà thôi, nếu không họ sẽ chụp cho chiếc “Nón cối” thân cộng thì khốn khổ trong công việc làm ăn.
Tôi đã đọc một số bài viết, xem các clips loại này khá nhiều ở hải ngoại cũng như một số vị “Phản tỉnh” ở trong nước. nhưng theo tôi nghĩ. Sự phê bình hoặc chỉ trích nào cũng cần cái chất văn hóa, cái đó rất cần thiết vì nó tôn trọng độc giả và mới thể hiện tầm trí tuệ, thì sản phẩm đưa ra công chúng mới có tác dụng, và qua đó cũng có thể hy vọng làm cho đối tượng được phê bình, phê phán tâm phục khẩu phục. Nhưng ngược lại nếu phê phán một cách dung tục, bỉ ổi  chửi cho sướng cái miệng như Ngô Kỷ thì không thể “tiêu hóa” nổi kể cả những người khác về quan điểm chính trị. Vấn đề xuyên tạc nói xấc xược về Hồ Chí Minh, tôi xin nói cho ông Ngô Kỷ biết rằng không phải vì lấy cái cớ “Nhà tui thâm thù cộng sản” như ông đã khoác lác mà xấc xược đến vị lãnh tụ của cả một dân tộc là không thể chấp nhận được. Hình ảnh của Hồ Chủ Tịch không ai có quyền xuyên tạc và xúc phạm bởi đó là hình ảnh một danh nhân văn hóa đã được Tổ chức Văn hóa và giáo dục Liên hợp quốc thừa nhận “Hồ Chí Minh như mọi người chúng ta mà thôi, nhưng cũng khác chúng ta bởi vì Hồ Chí Minh làm được tất cả những điều bình dị mà cao cả ấy một cách tự nhiên, hầu như dễ dàng như hít thở khí trời, như sinh ra là để làm những điều như vậy. Hồ Chí Minh là con người bằng xương bằng thịt ở ngay trước mắt chúng ta, ở trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam yêu nước, chứ không phải là điều tưởng tượng, không phải thánh thần quanh quất đâu đây.”

Hoa Kỳ 4-10-2014
AMARI TX (John lee) –  VHN.NET

Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Nhật Bản, những bước chân đầu tiên

Nhật bản không phải là cường quốc xã hội , đất hẹp , người đông , của khó những trải nghiệm của một du học sinh thập niên  60- 70 thế kỷ trước đánh dấu thời kỳ nước Nhật trên con đường phát triển để trở thành một quốc gia hiện đại, hùng cường. Du học Nhật là để trải nghiệm và học tập sự  kiên nhẫn, chịu đựng và hòa hợp. Tinh thần thích nghi và hòa hợp của người  Nhật là điểm son tuyệt vời trong tính cách người Nhật , nó giúp con người mạnh mẽ và tự tin trước những thử thách.

Nhật Bản, những bước chân đầu tiên

Hình ảnh nội tuyến 1
Tranh vẽ một ohuro – phòng tắm công cộng ở Nhật thời xưa 

Trước ngày khăn gói  lên đường du học xứ hoa anh đào, tôi đã chuẩn bị cho mình một cuộc sống tự lập nơi xứ người. Nói là tự lập chứ vẫn còn “cơm cha , áo mẹ, công thầy ” vẫn là  “nhất ẩm, nhất trác giai do tiền ( money ) định”.

Anh trai tôi, người du học trước tôi 4 năm đã cảnh báo : “đi du học ở Nhật Bản là đi đày, sau đó là đi cày, ở Nhật không được sung sướng như ở nhà đâu em gái ạ ” Anh tôi cũng biết ở nhà cha mẹ tôi, đặc biệt cha tôi rất thương chiều con gái. Ông thương con gái  như ông thường nói : ” thân gái mười hai  bến nước, trong nhờ đục chịu con gái lấy chồng biết có được sung sướng như những ngày ở với cha  mẹ không ?” Tôi được đi du học nhờ tư tưởng phóng khoáng, không ” trọng nam khinh nữ ” của cha tôi.
Cha tôi theo nghiệp buôn bán, lăn lộn trong thương trường  nhưng ông  thường quan niệm: chỉ có học vấn mới giúp con người lập nghiệp, tiến thân một cách đàng hoàng và rạng rỡ nhất. Được tiếp tục sự học  ở một nước tiên tiến còn giữ truyền thống tốt đẹp của phương Đông như Nhật Bản là sự lựa chọn ưu việt, sự quan tâm ưu ái , sự hy sinh vô bờ bến ông đã  dành cho anh em tôi, cánh chịm đầu đàn của bẩy, tám đứa em còn nhỏ dại, ngày tôi ra đi em trai út tôi mới lên sáu.
Anh trai tôi cùng với  ông bà  người bảo đảm ra đón tôi từ phi trường  Haneda về nhà ga Gotano  vùng  ngoại ô của Tokyo, nơi tôi sẽ sống những ngày đầu tiên với gia đình họ. Ông chủ nhà  là người Nhật, bà vợ là người Việt Nam cùng sống với cậu con trai bảy  tuổi. Buổi tối đầu tiên đặt valise bước vào nhà, sau khi đã tháo hết giày để ngoài genkan theo    phong tục Nhật, tôi khám phá căn nhà Nhật sao mà nhỏ bé, chật hẹp, đơn sơ đến không ngờ.Khi mọi lễ nghi trà nước,thăm hỏi tặng quà đã xong, anh tôi ra về và hẹn sáng mai trở lại.Tôi hỏi nhỏ bà chủ nhà : Thưa bác phòng cháu ở đâu ạ ? Bà chỉ cái phòng khoảng độ 9 mét vuông, để cái TV 16 inche, cái bàn thấp nhỏ, cái tủ và cái máy may. Bà nói : – Cháu ở đây, buồi tối dẹp cái bàn, cháu trải cái futon (nệm ) và ngủ ở đó.
Tôi giật mình, phòng này cách phòng ông bà chỉ bằng một cánh cửa lùa bằng gỗ, dán giấy, và
nó bé đến nổi hai cái va li của tôi đề ở góc phòng, căn phòng trông giống như một kho chứa đồ đạc. Bà chì phòng ngủ hai ông bà  lót chiếu, cũng là phòng ăn, phòng khách  luôn, nói kiểu bây giờ   là 3 trong 1. Bên cạnh phòng ông bà có một  phòng be bé cũng không có cửa đóng then cài, đây  là phòng cậu con trai ờ.
  
Hình ảnh nội tuyến 2
Ohuro ở các nhà quý tộc xưa, 
 
Tôi hỏi : Thưa bác, bác  chỉ cho cháu phòng tắm để cháu thay quần áo ạ. Bà trả lời : – Nhà bác không có phòng tắm , cả nhà đi tắm công cộng.Tôi nghe mà tưởng như ” sét đánh ngang tai.” Thất vọng, hoang mang không biết tắm công cộng ở Nhật là như thế nào.Tôi hỏi tiếp : – Thưa bác, cháu muốn thay quần áo ở đâu ạ? Bà chỉ cái phòng kế bên genkan chỗ ra vào. Tôi bước vào và ngạc nhiên đây là nhà vệ sinh kiểu cổ, không có bàn cầu giật nước.Ở Việt Nam tên gọi tượng hình là  cái “hố xí bệt”. Có nghĩa là các chất thải được tích trử ở một   cái thùng chôn sâu dưới nền nhà, và cứ hai  tuần một lần, người ở sở vệ sinh sẽ mang xe đến  lấy từ tất cả nhà ở khu phố. Rửa mặt thì ở ngay trong bếp, cái bếp nhỏ xíu chỉ vừa chỗ cho một người đứng nấu.
Nước Nhật vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước, một gia đình có thu nhập trung bình, người đàn ông đi làm ở hãng (salary man) được cấp nhà, chỗ ăn ở  như thế  này, nhiều người nói là khá lắm rồi. Đất hẹp, người đông, đến nay nước Nhật chưa bao giờ là một cường quốc về an sinh xã hội,vấn đề  nhà ở chẵng hạn. Đến nước Nhật , học ở người Nhật  bài học đầu tiên  là tính thích nghi và hòa hợp chữ “Hòa”. Là tên gọi tắt ,” nickname “của nước  Nhật,” Hòa thực” là thức ăn Nhật, ” Hòa phục”  là quần áo Nhật. Ngôn ngữ Nhật có kính ngữ vá khiêm ngữ. Thí dụ như chữ Ô, hay Gô là tiếp đầu ngữ chỉ sự trang trọng .” Han ” có nghĩa là cơm, âm Hán đọc là phạn, thêm tiếp đầu ngữ Gô là ” Gohan”. Thức ăn chính ở Nhật và  các nước có nền văn minh lúa nước là cơm ,  tôn trọng thức ăn nuôi sống con người nên cơm được gọi là ” Gohan ” ” Ngự phạn .”
Tiếng Nhật đầu tiên tôi học khi đặt chân đến thành phố Tokyo trong một căn nhà Nhật đơn sơ nhỏ bé là ” Ohuro ”  Furo có nghĩa  là nhà tắm, đọc “ohuro”  có nghĩa trang trọng vì cái việctắm táp cũng là chuyện quan trọng. Nhưng từ đây về sau  tôi biết rằng không có cái nhà tắm riêng tư  dành cho người ở trọ như tôi , mà mỗi ngày tôi phải trả 15 yen cho cái khoản gọi là đi ” Ô HU RÔ “
  Hình ảnh nội tuyến 1
  Ohuro trong thùng bằng gỗ Hinoki  ( một loại gỗ thông ) 
Theo sự hướng dẫn của bà chủ nhà, tôi mang cái thau nhỏ đựng  xà phòng, bàn chải , gương lược, khăn tắm đi bộ khoảng 100 mét đến một nhà tắm công cộng dành cho cả nam và nữ. Sau khi cất đôi dép vào cái ngăn nhỏ, tôi cùng bà chủ nhà mở cánh cửa kính vào phòng tắm mờ mịt hơi nước.
Hình ảnh đập vào mắt tôi làm tôi ” hoảng ” nhất là mọi người già trẻ, lớn bé, các bà các cô đều trần truồng, “tô hô” toàn bộ.
Còn người thu tiền ngồi trên cái ghế cao quan sát  và thu tiền khách  của cả hai phòng nam nữ lại là một gã đàn ông đứng tuổi mồm miệng lanh chanh chào hỏi. Xóm nhỏ, nhà nhỏ hình như ai cũng biết nhau. Trong chớp mắt không hiểu sao tôi nói với bà chủ nhà : ” thôi bác ạ cháu không tắm đâu, cháu đi về đây “. Tôi mở cửa ,ôm cái thau  nhựa  lấy đôi dép và chạy nhanh khỏi cái nhà tắm khỏa thân toàn phần, thật tình mới thấy đầu tiên  trong đời. Cái sự ” nhập gia không tùy tục ” đầu tiên của tôi chính là cái kiểu tắm ” tô hô ” này.
Ôi nước Nhật ! Tôi chỉ biết qua hình ảnh  hoa anh đào, núi Phú Sĩ, những thiếu nữ khuôn mặt hình trái xoan  khép nép trong cánh áo kimono, những  chàng samurai trừ gian diệt bạo bằng những đường kiếm tuyệt chiêu chỉ cần nghe trong gió, những  bộ phim tình cảm như ” Người phu xe ” tài tử chính Toshiro Mifune đã lấy của tôi bao nhiêu nước mắt. Còn nữa, Keichiro Akagi, James Dean của màn bạc Nhật trong những phim hành động mà ngày tôi ra đi, bạn tôi, một con nhỏ rất ” thần tượng ” tài tử này căn dặn nhớ gửi hình ảnh, tin tức về Akagi cho nó đọc ” đã đời”. Ơ hơ,  chắc nó tưởng Tokyo nhỏ như Saigon , như nhà nó gần mấy cái rạp hát Lê Lợi, Vĩnh Lợi chuột chạy dưới chân muốn đi xem phim muốn có hình tài tử điện ảnh  quá dễ dàng như ăn kẹo. Nó đâu ngờ tôi, người bạn thân yêu của nó đang đứng trước câu hỏi vĩ đại, vĩ mô của
văn hào Shakespear nhằm giải quyết  một vấn đề vi mô, nhỏ như con thỏ ở cái xứ nổi tiếng ăn ở vệ sinh, sạch sẽ tươm tất này.
 ” Ohuro or not Ohuro that is a question “.
Đúng là question, là vấn nạn thật rồi, Suốt đêm hầu như tôi không ngủ được, phần thì lạ nhà, lạ chỗ, người bứt rứt  do không được “khỏe vì nước” thêm cả nỗi lo lắng về nhiều điều lạ lẫm, khó khăn  thử thách trong chuyện học hành lẫn đời sống hằng ngày ở đây.

Ông bà ta thường nói: ” cái khó bó cái khôn”, Sự khó khăn, thiếu thốn thường làm con người khó sáng tạo.Tôi thì nghĩ khác. chính cái khó  mới ” ló “cái khôn, chịu khó  động não sẽ có ý tưởng và tìm ra giải pháp. Sau khi cùng với cả nhà ăn bữa cơm sáng đầu tiên, mỗi người một con cá chiên nhỏ, một bát canh tương miso siri  ” toàn quốc ” , ( có thể hiểu chỉ có nước hay cả nước Nhật đều ăn loại  canh này ) vài ba miếng củ cải muối, thằng bé con bà chủ nhà có  thêm quả trứng gà sống đánh tan trộn vào bát cơm nóng, thêm chút xì dầu, nó ăn ngon lành.

Người Nhật ăn sáng rất nhanh, vội vội vàng vàng để kịp ra ga tàu điện đi làm, trẻ con đi học trường gần nhà, chúng đi bộ cũng rất nhanh. Tác phong của công dân một nước công nghiệp phát triển là nhanh chóng, gọn nhẹ và tiết kiệm, nhất là tiết kiệm thời gian vì thời gian không thể tính bằng tiền, có khi nó quý hơn cả tiền.Trở lại “cái khó mới ló cái khôn”  của tôi, thật ra chả phải phát minh gì lớn lao, sau khi mọi người ra khỏi nhà, tôi hỏi bác chủ nhà: Nhà mình có cái ống  cao su nào dài dài không bác? Tôi giải thích tôi sẽ nối cái ống cao su khoảng 3 mét vào cái  vòi nước chảy xuống bồn rửa bát ra chỗ genkan ( khoảng trống để giày dép trước khi bước vào nền thảm, hay chiếu trong nhà ) diện tích khoảng độ 1 mét vuông   để làm cuộc tẩy trần, đầy đủ quần áo như trẻ con tắm mưa. Tôi đang rất cần nước, con cá nó sống nhờ nước, tôi đang là con cá mắc cạn đây. Bà chủ gật đầu tỏ vẻ chấp thuận và lôi trong góc bếp cái vòi cao su dài ngoằng. Bà nói : Bác cũng làm như vậy để rửa cái genkan và tưới mấy bụi cây tùng trồng trước cửa nhà. ( Ha ha, đúng là chỉ có phụ nữ Việt Nam mới ” ló ” cái khôn tuyệt vời như vậy ).
Sau khi  đã  “khỏe vì nước ” xong, quần áo tươm tất. tôi ngồi chờ anh tôi đưa đi xem phố xá Tokyo, anh tôi phải đi cửa sau vào nhà, vì genkan lau chưa kịp khô. Được bà chủ nhà  “báo cáo thành tích” : đêm qua tôi chạy trốn kiểu tắm khỏa thân ở phòng tắm công cộng, và sáng nay tôi đã phát minh kiểu tắm mưa  ở genkan, thì ông im lặng chẵng nói chẵng rằng (thế mới sợ! ) Chỉ khi trên đường ra nhà ga ông mới nhỏ nhẹ thuyết phục tôi nên đi tắm công cộng: ” Có gì đâu mà mắc cỡ, ai cũng như ai mà, tắm ohuro tốt cho sức khỏe, anh bây giờ ghiền đi ohuro …”  Tôi gật đầu đưa 3 ngón tay hẹn anh ” sự bất quá tam “, cho tôi “tắm mưa” hai lần nữa. Anh lắc đầu, kiểu dứt khoát  rất “quyền huynh thế phụ “.
Suốt một ngày cùng với anh đi shopping, lê la khắp những khu mua sắm cao cấp, khu bán đồ   điện tử, leo lên các cầu thang ở nhà ga, hai chân tôi mõi nhừ, đau “tê tái”. Thêm một trải nghiệm về cái sự đi bộ như chạy của người Nhật, nhà ga, tàu điện, siêu thị bách hóa  (depatoo ) đông người khủng khiếp, chả biết người ở đâu ra mà lắm thế. Ngay buổi tối hôm đó, trở về nhà  tôi quyết định đi ohuro một mình. Đúng là không có gì mà  “ầm ỹ”,  cứ vô tư bắt chước người bản xứ , dân Nhật và dân  Israel nghe nói là sạch sẽ nhất thế giới, Israel thì tôi không biết chứ người Nhật họ xem việc tắm rửa   là  hoạt động thường ngày rất quan trọng đối với họ. Họ có thể đứng ăn, húp xì xụp một bát mì nóng ở nhà ga chỉ trong 5 phút, nhưng họ dành cho việc đi tắm cả nửa giờ đồng hồ có khi hơn.
  Hình ảnh nội tuyến 1
  Ohuro công cộng hiện nay

Người Nhật không e ngại việc trần truồng trước người khác.Trong gia đình vợ chồng con cái tắm chung là chuyện bình thường. Họ bắt đầu bằng việc làm sạch người thật tỉ mỉ bằng xà phòng. Khi đã cảm thấy sạch sẽ rồi, họ bước vào hồ hay thùng  nước nóng khoảng 45 độ ngâm một lúc lâu, bước ra thì thân thể đỏ như con  tôm luộc. Người Nhật quen với việc ngâm nước thật nóng, xây hoặc chứa nước nóng  trong các bể  bằng gạch hay thùng  bằng gỗ Hinoki rất chắc và bền. Nhật Bản là đất nước của núi lửa và suối nước nóng nhiều vô số kể, thuận lợi cho việc du lịch nghỉ dưỡng, ngoài chuyện đi chơi  ăn uống, tắm cũng là một trong nhiều thứ ” khoái ” làm cho người Nhật thích thú và hưởng thụ hết mình.

  Hình ảnh nội tuyến 1
  Ohuro ở khách sạn

Ở  cái nhà tắm công công trong một khu phố nhỏ ngoại ô Tokyo, ai đến đây hình như cũng đều biết nhau. Họ trần truồng, cúi rạp người chào nhau lễ độ, và thân thiện. Họ còn nhờ người quen kỳ lưng hộ, nhất là các bà đi tắm với con dâu hay con gái hoặc bạn hàng xóm. Tính cộng đồng trong gia đình, láng giềng ở Nhật rất đặc sắc, có lẽ bắt đầu từ cái chuyện đi tắm công cộng này. Nó có từ rất xưa, ở thôn quê còn có những nhà tắm công cộng các ông các bà tắm chung, các nhà nghỉ ở vùng có suối nước nóng, hồ tắm bể ngâm có thể sử dụng chung cho tất cả mọi người không phân biệt nam nữ. Về mặt y học, việc tắm và ngâm nước nóng rất tốt cho sức khỏe. Nước nóng làm máu huyết  lưu thông gân, xương, khớp được thư giản một cách nhẹ nhàng, dễ chịu.
Tắm nước nóng  giúp cho giấc ngủ ngon và sâu. Người Nhật có tuổi thọ cao có lẽ nhờ biết vệ sinh thân thể một cách bài bản, các cụ già càng thích tắm nước nóng, càng có cơ hội kéo dài tuổi thọ vì trước tiên họ sẽ có một giấc ngủ tốt, thức dậy tinh thần sảng khoái. Đi tắm công cộng có cơ hội gặp gỡ, giao lưu với cộng đồng, dù cộng đồng chỉ là vài ba người bạn già. Tuổi già cần bạn, còn sống, còn được kỳ lưng cho nhau là hạnh phúc. Hạnh phúc đơn giản mà quý giá ở tuổi xế chiều.
  Hình ảnh nội tuyến 1
Ohuro ở suối nước nóng ( onsen )

Những bước chân đầu tiên của tôi ở Nhật Bản cũng đơn giản  bình thường như thế đó. Phải  nhiều năm tôi mới nhận ra đây  là những bước đi căn bản của cuộc đời tôi, vươn ra và hội nhập với một thế giới bao la, xa lạ, đầy những khám phá thú vị  khi ấy  tôi chưa tròn 19 tuổi. Những khó khăn vất vả nơi xứ người. Ở một đất nước thường xuyên bị thiên tai, bị tàn phá  nặng nề sau chiến tranh, nhìn người Nhật lao động và và học tập đã giúp tôi trưởng thành, mạnh mẽ. Những dấu ấn đặc sắc trong đời sống người Nhật, văn hóa, phong  tục, tập quán nước Nhật  tôi đã được học hỏi, giờ đã trở thành những trải nghiệm, những  kỷ niệm khó quên.
Nhớ về  quãng đường dài của hàng triệu triêu bước chân tôi đã  đi trên trái đất này,  tôi  đã  gom nhặt và lưu giữ kỷ niệm về những bước chân trên  nước Nhật những ngày xa xưa ấy, như  đang  đặt những viên kẹo gói bằng những mảnh giấy nhiều mầu sắc, nhiều hoa văn rất đẹp  vào cái lọ thủy tinh trong  suốt . Để rồi ..thỉnh thoảng lấy ra ngắm, thỉnh thoảng  nhón một
 cái ngậm trong lưỡi. Hương vị  tan dần, tan  dần, lan tỏa một nổi niềm hạnh  phúc rất …bâng  khuâng, ngọt ngào.
   

Phùng Kim Yến
Chiba – Shi 
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam

https://i1.wp.com/imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler/Upload/UploadPhotoAlbum/2014/1/2/2BaoAnh212014114049414_wh890_590.JPG
Nhân dân Việt Nam chào đón năm mới 2014
 

Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình.

 
Hơn ai hết, Việt Nam từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, sự vi phạm lớn nhất quyền con người hiểu rõ rằng quyền con người là thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác. Việt Nam cho rằng, cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng,quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì chương về quyền con người được đặt vào vị trí hết sức quan trọng. Trước đây, Hiến pháp Việt Nam chỉ nêu ở phần sau, bây giờ đặt hẳn một chương về quyền con người, mà đó là xu hướng của thế giới. Việc Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền liên hợp quốc là một đòn giáng mạnh vào một số cá nhân , tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam. Từ bấy lâu nay họ luôn “Hòa tấu” bài ca nhân quyền, họ xem đó là gót chân “Asin” của Việt Nam, để ngăn cản bất cứ chuyện gì mà Việt Nam hòa nhập với thế giới. Với cái gọi là ”Bảo bối” nhân quyền này một số cá nhân, hội đoàn người Việt có tư tưởng cực đoan ở hải ngoại mà đặc biệt tại Hoa Kỳ có lúc đã tác oai, tác quái, hết “Thư ngỏ” đến “Thỉnh Nguyện thư” gởi đi các nơi đặc biệt là các nhân vật hiện là dân biểu trong thượng hạ viện Mỹ hòng dùng chiêu bài này bôi nhọ hình ảnh nhân quyền ở Việt Nam. Trong các vấn đề về quyền con người. Phải khẳng định rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến bảo đảm an sinh xã hội. Đó là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra mặc dù thời gian qua kinh tế xã hội hết sức khó khăn, thế nhưng đầu tư cho an sinh xã hội vẫn được đảm bảo rất cao. Nhưng các nhà “Dân chủ” hoặc những thành phần chống cộng cực đoan cùng với một số cơ quan truyền thông việt ngữ ở hải ngoại vẫn cố tình không chấp nhận một sự thật hiển nhiên đã xảy ra là: Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất. Kết quả đó đã phản ảnh đúng những gì mà Việt Nam phấn đấu, hoàn thiện trong suốt một thời gian dài. Thực tế hàng năm Việt Nam rất tích cực đối thoại nhân quyền, mở rộng cửa sẵn sàng đối thoại. Qua đối thoại trực tiếp các nước, các tổ chức họ mới nhận thức được rằng, giữa thông tin sai lệch của một số đối tượng thì hoàn toàn khác xa với thực tế đang hàng ngày, hàng giờ đang diễn ra ở Việt Nam. Những mong muốn, quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người đã xóa tan sự nghi ngờ, phản bác lại những luận điệu vu khống, thóa mạ về nhân quyền Việt Nam của những người không thiện chí. Là thành viên của tổ chức nhân quyền Liên Hợp Quốc Việt Nam sẽ thể hiện trách nhiệm của mình một cách đầy đủ nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa , lúc sinh thời luôn có một ước vọng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Ý nguyện đó đã phản ánh khát vọng của toàn dân tộc Việt Nam. Thực hiện những giá trị thiết yếu về quyền con người, là mục đích, tôn chỉ hoạt động xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, sắc tộc, tôn giáo đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi thử  thách, gian khổ, hy sinh to lớn để giành và giữ các quyền cơ bản đó. Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân Việt Nam nêu tám yêu sách gửi Hội nghị Véc-xây (năm 1922), yêu cầu chính quyền Pháp trả lại những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho người dân Việt Nam, trong đó có cải cách nền pháp lý Đông Dương, thay đổi chế độ sắc lệnh bằng luật pháp, mà người dân Việt Nam phải được hưởng đầy đủ các quyền tự do báo chí, tư tưởng, tự do lập hội, tự do cư trú ở nước ngoài, tự do học tập… Đến bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã có bước phát triển mang tính cách mạng. Mở đầu với việc khẳng định những quyền cơ  bản mà tạo hóa ban cho mỗi con người và khép lại bằng lời tuyên bố trịnh trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”, bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam, trong đó thừa nhận các quyền cơ bản của con người, đồng thời, lần đầu tiên, quyền cá nhân được mở rộng thành quyền dân tộc, và quyền con người. Sự bình đẳng của mỗi cá nhân được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với quyền dân tộc, đó là quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết.
 
Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều 1 của cả 2 Công ước quốc tế cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về  các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị.
Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Quyền con người có cội rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của một dân tộc luôn nêu cao tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, đồng thời phản ánh nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam mà dân tộc này từng là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược và bị tước đoạt những quyền và tự do cơ bản nhất. Là thành viên của tổ chức nhân quyền LHQ, Việt Nam sẽ có tiếng nói rất quan trọng trong việc xác định để làm cho thế giới rõ hơn vấn đề quyền con người ở mỗi quốc gia và đặc biệt là để hiểu rõ hơn về quyền con người ở Việt Nam.Trước đây Việt Nam không ở trong Hội đồng, cho nên các nước thành viên chỉ nghe theo “Kênh” một chiều thù địch như “Phúc trình”,, “Báo cáo thường niên”..vv, họ nói hoặc thậm chí họ ra các nghị quyết mà Việt Nam không được tham gia, không có cơ hội chứng minh, phản biện những quy kết kiểu “Chụp mũ” thì nay Việt Nam ở trong Hội đồng rồi thì chúng ta có quyền phát biểu, chứng minh bằng hành động, chứng minh bằng điều kiện thực tế để họ nhận thức và thấy rõ quyền con người ở Việt Nam. Có thể nói, vấn đề quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề cao, nhận thức tích cực và áp dụng phù hợp với Việt Nam. Nhờ đó, từ một dân tộc bị tước  đoạt cả những quyền tự do cơ bản nhất, người dân Việt Nam đã được thụ hưởng ngày một đầy đủ và toàn diện hơn các quyền của mình. Mặc dù hiện nay, trên thế giới còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề quyền con người và thậm chí một số thế lực thù địch đã lợi dụng điều này để vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, song những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đạt được trong những năm qua là bằng chứng không thể phủ nhận cho những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực này./.
 
 Hoa Kỳ 8-2014
 John Lee TBT VHN.NET
Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Đừng Lợi Dụng Danh Nghĩa “Xã Hội Dân Sự” Để Làm Điều Xằng Bậy

 Bài Viết Của John Lee – VHN.NET Đăng tải trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam 8-2014

 Hình ảnhHình ảnh

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam cũng không ngoại lệ, việc hội nhập mạnh mẽ như hiện nay đã làm thay đổi rất nhiều kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, khi mà đời sống vật chất, tinh thần của mỗi người dân trong nước được nâng cao thì quyền con người ngày càng được luật pháp quốc gia tôn trọng, bảo vệ. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vượt bậc trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, được thế giới ghi nhận và cổ vũ. Đặc biệt là Sau khi Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, nhiều đại diện quốc gia đã bày tỏ vui mừng và chúc mừng Việt Nam. Ông Masood Khan, Trưởng phái đoàn Pakistan tại LHQ nói: “Đây là một thành công kỳ diệu. Tôi xin được chúc mừng Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng như phái đoàn Việt Nam tại LHQ”. Ông Santos Sergio, Trưởng phái đoàn thường trực Brazil tại LHQ cho rằng: “Việc Việt Nam nhận được số phiếu cao nhất trong các nước ứng cử cho thấy sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế với đất nước các bạn”. Trưởng phái đoàn Saudi Arabia tại LHQ, Abdallah Al-Muallimi cho biết: “Tôi cho rằng Việt Nam hoàn toàn xứng đáng trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền LHQ. Chúng tôi đánh giá cao những thành tựu của nhân dân Việt Nam và hy vọng sự tham gia của Việt Nam sẽ góp phần tăng cường và thúc đẩy những giá trị cũng như hoạt động của Hội đồng nhân quyền LHQ… Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì vị thế của mình tại Hội đồng nhân quyền LHQ”.
Ấy vậy mà một số cá nhân, tổ chức của cái gọi là “nhà dân chủ”  không “hài lòng” những gì mà dân tộc này đã nỗ lực phấn đấu đạt được, họ đã ra sức lợi dụng quyền tự do, dân chủ để che dấu hoạt động chống phá nhà nước, thóa mạ những thành quả cách mạng mà cả một dân tộc đã giành được khi phải hứng chịu những cuộc chiến tranh tàn khốc và những năm tháng cấm vận nghặt nghèo. Hành động của các nhà “Dân chủ” và các “Hội, đoàn…”  được sự tiếp sức, hà hơi của những cá nhân người Việt chống cộng cực đoan  ở hải ngoại mà đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Những Hành động đó không chỉ làm xấu đi hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam luôn yêu hòa bình, một đất nước luôn mở rộng vòng tay chào đón bạn bè trên khắp thế giới, một xã hội an toàn cho mọi người trong một thế giới đầy biến động. Hành động đó còn xâm phạm trực tiếp đến những quyền lợi hợp pháp khác  và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, gây bất ổn cho  an ninh quốc gia. Họ đã dùng những “Lý lẽ” viện dẫn những điều trong hiến pháp sửa đổi năm 2013 về các quyền của con người, lôi kéo những người không tỉnh táo, phụ họa, cổ súy cho những luận điệu như: đòi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi tam quyền phân lập, xây dựng “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, đòi “chuyển đổi thể chế chính trị …vv.

Trong những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến một số thành công của mô hình “thúc đẩy xã hội dân sự” lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông bằng các cuộc “Cách mạng màu”. “Cách mạng hoa” bắt nguồn từ các “xã hội dân sự”. Lợi dụng quyền tự do lập hội để lập ra nhiều hội, nhóm không đúng quy định pháp luật, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng, thậm chí trá hình, hoạt động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Để “Hợp thức hóa” âm mưu thâm độc thì những hội, nhóm này khoác lên trên mình những vỏ bọc nghe chừng vô hại như: các câu lạc bộ xã hội, hội nghề nghiệp, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, hội ủng hộ….vv. Đọc qua điều lệ ta không thấy họ lộ ra mục đích chống lại sự lãnh đạo của Đảng, chính phủ nhưng thực tế qua các vụ án với những lời khai trước tòa thì lộ ra những điều thực tế đó là: Thực hiện các hoạt động gây hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội bằng cách như: lôi kéo, móc nối người phát triển lực lượng trong nước và ngoài nước, xuyên tạc, vu khống,  tán phát, đăng tải các tài liệu, tin, bài viết kích động gây ngờ vực, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, bôi đen tất cả những thành quả mà nhân dân  cùng Đảng và chính phủ đã nỗ lực đạt được trong công cuộc đổi mới, xuyên tạc cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Một số tổ chức trong nước dựng lên những Website mời gọi những kẻ gọi là “Nhà dân chủ hải ngoại” viết bài theo kiểu “Bịt mắt nói càn” bất chấp lẽ phải bằng việc xuyên tạc, bóp méo, bôi đen tình hình nhân quyền Việt Nam, kêu gào các tổ chức, cá nhân ở một số nước có những thành kiến với Việt Nam làm ra những “Thỉnh nguyện, nghj quyết, phúc trình….” thông qua đó gây áp lực với quốc tế hòng vu cáo Việt Nam như: “Chính quyền Việt Nam đã làm cho tình trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay suy thoái rất trầm trọng ,… Tòa án Việt Nam càng ngày xử càng nhiều những bloggers,… người dân phản đối chính quyền chiếm đất đai, nhà cửa của họ chính quyền đàn áp quyền tự do bày tỏ ý kiến và tự do hội họp của rất nhiều người thuộc mọi giới”… Chúng ta nhận thấy rằng thời gian này, một số cá nhân và nhóm người đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải tôn trọng và bảo đảm quyền công dân, quyền con người . Trong những quyền đó, người ta đặc biệt nhấn mạnh đến nhóm quyền dân sự chính trị. Họ ngụy tạo bằng những từ ngữ trong các “Tuyên cáo” như: Đấu tranh “Ôn hòa, bất bạo động…” hòng che dấu những ý đồ đen tối mà những cá nhân tổ chức này cố tình phớt lờ một điều quan trọng trong việc “đòi” của họ đó là: Bản chất gốc của các tổ chức xã hội dân sự ra đời không phải để đấu tranh chính trị mà là để thẩm định chất lượng quản trị đất nước của chính phủ.Tổ chức xã hội dân sự bày tỏ chính kiến của mình với mục đích cùng chính phủ quản lý tốt hơn các chính sách đã đề ra chứ không phải là “lật đổ” chính phủ hiện hành, đấu tranh chống đối nhà nước. Xin thưa với các nhà “Dân chủ” rằng: tất cả những điều các vị cao giọng về những hoạt động “ôn hòa bất bạo động”, thì thực tế nhãn tiền đã xảy ra ở các nước bắc phi, trung đông, đông âu, thực tế đời sống chính trị trên thế giới cho thấy lợi dụng xã hội dân sự làm quân bài chiến lược để thu hút đám đông và làm vỏ bọc cho mình thực hiện mưu đồ bạo loạn để trục lợi.

Vậy thì ở Việt Nam có các tổ chức dân sự không? Xin nói ngay rằng không những có mà rất đa dạng, người dân trong nước không lạ lẫm gì với các hội, đoàn mà họ đã và đang tham gia, toàn quốc đã có khoảng 460 hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp có phạm vi hoạt động trong toàn quốc, liên tỉnh, thành phố; 20 tổ chức công đoàn ngành, trên 36.000 tổ chức hội, hiệp hội, câu lạc bộ ở các địa phương hoạt động, ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Với số lượng các tổ chức dân sự nhiều và đa dạng đáp ứng hoàn toàn nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, mọi người dân hoàn toàn tự nguyện và thỏa mãn nhu cầu của mình, như vậy không thể nói xã hội dân sự ở Việt Nam là “Con số không tròn trĩnh” như các nhà “Dân chủ” lu loa được, và một điều tuyệt nhiên các tổ chức xã hội này không “đòi” lật đổ chế độ hiện hành như các vị.
Trong thời đại thông tin kỹ thuật bùng nổ và đa dạng như ngày nay, cho dù có không ít người, tổ chức đã lợi dụng nó để dẫn dắt một bộ phận người dân chưa có điều kiện tiếp nhận thông tin, họ đã tạo ra dư luận, để xuyên tạc, bôi nhọ, cản trở Việt Nam trên con đường hội nhập quốc tế để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc. Song không phải lúc nào và ở đâu họ cũng có thể làm được điều mình mong muốn. Mọi người dân luôn sáng suốt nhận diện những cá nhân, tổ chức với mưu đồ bất chính của họ cho dù được bọc bằng những ngôn từ mĩ miều như thế nào chăng nữa thì hành động của họ sẽ bị chính người dân Việt Nam yêu hòa bình và công lý nhận diện và lên án
Nói về quyền con người thì như vũ trụ bao la! đâu là giới hạn cuối cùng ? đến nay chúng ta chưa hình dung hết được, một khi loài người càng tiến về phía trước thì dường như cái đích càng lùi xa…. nguyên do là tư tưởng con người không có giới hạn, nhu cầu đòi hỏi về vật chất không có điểm dừng…. bởi vậy cho nên mọi sự phấn đấu của mỗi một con người, sự tận tâm, tận lực của Đảng, nhà nước Việt Nam sẽ làm rất nhiều việc để cho cuộc sống của mỗi một người dân bảo đảm những quyền được hưởng về cả tinh thần lẫn vật chất như tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình.

Viết tại Texas Hoa Kỳ 20-7-2014

AMARI TX

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Hãy cảnh giác với ý đồ “Đánh bùn sang ao” của các vị “Dân chủ” !


Tại Mỹ ngày 18/5/2014,con phố nhỏ mang tên International Place vốn chẳng mấy người qua lại tại thủ đô Washington DC tràn ngập trong sắc đỏ của quốc kỳ Việt Nam cùng một rừng biểu ngữ phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Đoàn biểu tình vừa tuần hành quanh sứ quán Trung Quốc vừa hát vang quốc ca Việt Nam, biểu thị sự đoàn kết muôn người như một trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.

Trước việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981  trái phép sâu trong thềm lục địa của Việt Nam, nhân dân cả nước và kiều bào  ở nước ngoài đã phẫn nộ trước sự ngang ngược thô bạo của Trung Quốc. Sự phẫn nộ đó được thể hiện bằng nhiều hình thức sôi động thể hiện lòng yêu nước chân chính một cách ôn hòa . Đã có rất nhiều cuộc mít tinh, hội thảo, tuần hành của đồng bào ta ở trong nước và kiều bào ở khắp nơi trên thế giới kiên quyết phản đối hành động sai trái của Trung Quốc được bạn bè ở các nước sở tại ủng hộ và tham gia. Hình ảnh đó đã được phản ảnh đậm nét trên các tờ báo uy tín trên toàn thế giới. Với chủ trương ủng hộ đối sách của Chính phủ Việt Nam trong việc yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hàng triệu con tim mang dòng máu Việt ngày đêm hướng về  Hoàng Sa với nỗi lo âu và phẫn nộ trước những hành động ngang ngược, hung hãn của các lực lượng hộ tống dàn khoan 981 của Trung Quốc. Những hành động thiết thực của nhân dân trong nước và bà con kiều bào ở nước ngoài đã tô thêm trang sử hào hùng của dân tộc suốt chiều dài hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Trong lúc này, hơn bao giờ hết, mong muốn mọi người: Vì Đất nước, hãy đoàn kết, thể hiện lòng yêu nước đúng cách, phù hợp với pháp luật Việt Nam. Chúng ta đã được thế giới biết đến là những Người Việt Nam luôn đoàn kết và yêu chuộng hòa bình. Và chúng ta hãy thể hiện điều đó, hãy tỉnh táo để biểu thị lòng yêu nước, không gây ảnh hưởng đến hình ảnh của con người và Dân tộc Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã kêu gọi người dân hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt, không để kẻ xấu kích động, giữ gìn an ninh trật tự, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
Trong lúc toàn dân tộc Việt Nam kết thành một khối đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ thì có những kẻ đã lợi dụng sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam, họ đã làm một việc hết sức sai trái là hùa theo đám phản động lưu vong và các thế lực thù địch với đất nước ở nước ngoài hò hét, rêu rao, kích động rằng : “Trước hành động vi phạm chủ quyền trắng trợn của Trung Quốc, Việt Nam đã nhu nhược trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc, không có nhiều biện pháp bạo lực xua đuổi Trung Quốc ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ “đấu tranh miệng” theo kiểu nửa vời” ! Đồng thời họ lớn tiếng cho rằng, “chúng ta cần phải sử dụng biện pháp quân sự, cần “sống mái”, quyết chiến với Trung Quốc một phen” ! Trên các trang mạng họ viết bài xuyên tạc tình hình trong nước, vu khống Đảng, Chính phủ là “Nô bộc của Trung Quốc” từ đó, họ kêu gọi Việt Nam phải thực hiện chế độ đa đảng với những kết luận hồ đồ là: “Rõ ràng là nhóm lãnh đạo đã không ngang tầm với trách nhiệm bảo vệ đất nước chống bành trướng và xâm lược, còn ngáng trở cuộc đấu tranh của nhân dân, không đi cùng với nhân dân, luôn tỏ ra lập trường hai mặt….”  và “Các lực lượng dân chủ nhân quyền trong xã hội dân sự hãy mở tiếp mặt trận đối ngoại năng động và sáng tạo ra ngoài biên giới nước ta. Anh chị em vận động dân chủ và nhân quyền vừa qua đã tỏ ra là một mũi nhọn xung kích của nền ngoại giao nhân dân đúng nghĩa, bổ sung và thay thế cho nền ngoại giao nhà nước ù lỳ, nhu nhược, vừa chống vừa run trước thế lực bành trướng” ! v.v, ý đồ của các cá nhân và cái gọi là “Nhóm, hội..” này là:  nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo  của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Núp dưới danh xưng “Yêu nước” chuyển từ biểu tình phản đối Trung Quốc sang thành biểu tình chống Nhà nước, lật đổ chế độ hòng vừa được tiếng là “yêu nước”, nhưng lại tạo ra được sự mất ổn định chính trị trong xã hội, tạo ra những “Ngòi nổ” cho cuộc chính biến trong toàn quốc, tiến hành “cách mạng màu”.
Xin nói cho các nhà “Dân chủ” biết rằng: Việt Nam là một nước nhỏ, trong bối cảnh thế giới liên tục có biến động, các nước lớn vì quyền lợi của họ sẵn sàng chà đạp lên những lời nói hoa mỹ, những cam kết hùng hồn. Một nước nhỏ muốn tồn tại trong thế nhiễu nhương đó  không phải dễ. Điều cần thiết là phải có chính nghĩa và toàn dân tộc phải kết nối thành một khối vững chắc quanh Đảng và chính phủ.  Lòng ái quốc là tình cảm vô cùng thiêng liêng, nó cần được khơi dậy đúng lúc. Lòng yêu nước không phải là một thứ để cho bất cứ những kẻ có dã tâm lợi dụng phục vụ cho mưu đồ đen tối.
Từ xưa tới nay, mỗi khi đất nước có nguy biến thì các bậc quân vương của dân tộc Việt đều có những bản hịch hiệu triệu muôn dân. Trong thời điểm này thì những lời kêu gọi “bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt” từ những nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước đáng để mỗi người Việt Nam phải suy ngẫm về trách nhiệm trước Tổ quốc khi lựa chọn cách thể hiện lòng yêu nước. Trên tinh thần đó, chúng ta cần phải tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo kế sách giữ nước mà Đảng ta đã nêu trong Nghị quyết Trung ương tám (khóa IX và khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là “giữ cho trong ấm, ngoài êm”.
AMARI TXNhững ngày Biển đông sôi sục 7-2014
Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Phủ nhận hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân: HÀNH ĐỘNG CỦA NHỮNG KẺ HOANG TƯỞNG VÀ ÁC ĐỘC

 

Bài viết của John Lee VHN.net Đăng trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam 7-2014
Hình ảnhHình ảnh: Bà Mẹ Việt Nam anh hùng : "Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Các anh không về..... Mình mẹ lặng im "

Chiến tranh! Khi nhắc đến hai từ đó người ta thường nhớ đến một quá khứ hào hùng và bi tráng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cũng chính vì thế, nhiều người trên thế giới mỗi khi nói đến Việt Nam lại nghĩ ngay đến chiến tranh. Rất nhiều sách báo đã nói về một Việt Nam anh hùng với lòng cảm phục. Mấy nghìn năm lịch sử dựng nước cũng là từng ấy thời gian dân tộc Việt Nam phải chống giặc giữ nước. Một lịch sử quá đậm nét sử thi từ thời Hùng Vương đến một “Điện Biên chấn động địa cầu” và cuối cùng là một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Vậy thì làm sao không nhắc đến chiến tranh khi chính ở trong đó, dân tộc Việt Nam đã có nhiều bài học đau thương, mất mát vô bờ bến vùng lên từ đống tro tàn đổ nát, trưởng thành và vững vàng cho đến ngày nay! Phải thế chăng mà người Việt Nam sẽ còn nhắc mãi và không bao giờ quên niềm tự hào về những gì mà cả một dân tộc “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Ấy vậy mà thời gian gần đây, một số người ở trong nước lại tung ra các bài viết, những phát biểu đòi “xét lại lịch sử”. Những người này, vốn trước đây “từ nhân dân mà ra”, từng theo Đảng, theo bộ đội đánh đuổi thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ xâm lược nay lại tỏ ra “sám hối”, tiếc nuối vì đã “lỡ” một thời theo Đảng. Họ lớn tiếng đòi “xét lại vai trò lãnh đạo” của Đảng, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam “đặt lợi ích Đảng lên trên lợi ích dân tộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào con đường binh đao máu lửa hơn 30 năm”. Họ phát biểu ào ào vô trách nhiệm rằng: “Đảng chỉ lấy dân làm vật thí nghiệm, vật hi sinh cho chủ nghĩa xã hội hư vô, đưa dân tộc Việt Nam vào con đường máu lửa”…
Chúng ta là người Việt Nam chân chính. Chúng ta phải nói một cách dứt khoát rằng, đây lại là một luận điệu xuyên tạc lịch sử với ý đồ bôi nhọ, chà đạp trắng trợn lên thành quả cách mạng mà toàn dân tộc phải đánh đổi bằng sinh mạng hàng triệu người con ưu tú, hàng triệu sinh mạng của người dân lành để đổi lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Luận điệu này chúng ta phải hết sức cảnh giác bởi nó dễ gây nên sự hiểu lầm, vì đối tượng phát tán tài liệu đã từng là người trải qua chiến tranh, và đã một thời đứng trong hàng ngũ của Đảng. Điều nguy hiểm là một số ít người thiếu hiểu biết lịch sử đất nước và lớp người trẻ sinh ra sau chiến tranh sẽ nhận thức sai lầm dẫn tới phủ nhận thành quả cách mạng, mất lòng tin vào chế độ, vào con đường đi tới của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Một người bất mãn – một nhà “dân chủ” tự phong đã viết trên RFA Việt ngữ: “Phan Châu Trinh mất sớm, con đường cứu nước đúng đắn Phan Châu Trinh vừa khởi xướng, đành bỏ dở! Sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam thôi đành phó thác cho những người Cộng sản! Và dân tộc Việt Nam phải trải qua con đường đấu tranh bạo lực dằng dặc máu lửa”. Thưa với nhà “dân chủ”, ông ngủ gật trong giờ học lịch sử hay sao? Lịch sử của dân tộc Việt Nam diễn tiến rất đúng quy luật và truyền thống như thế này: Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và cả khi thiết lập được quyền cai trị trên đất nước Việt Nam thì dân tộc này đã kháng cự lại. Đã có biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước. Nhưng tất cả các cuộc kháng cự đó đều bị đè bẹp và bị dìm trong biển máu. Ông cho rằng vì cụ Phan Châu Trinh mất sớm, nếu không dân tộc này sẽ đi theo con đường của Ấn Độ đòi lại độc lập từ người Anh? Điều này cho thấy ông đã cố tình bẻ cong sự thật lịch sử và cố tình suy diễn theo cái lối “nói cho sướng miệng”. Sự thật thì sau nhiều cuộc khởi nghĩa và các phong trào chống Pháp không đem lại kết quả, đứng trước vận mệnh của đất nước, Đảng Cộng sản đã gánh vác sứ mệnh giải phóng dân tộc. Phong trào chống xâm lược do những người Cộng sản phát động có cùng mục đích như các phong trào khởi nghĩa trước đó là giành, giữ độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam có “hiếu chiến” như ông và các nhà “dân chủ” cùng hội cùng thuyền với ông quy kết không? Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề này. Những ai hiểu biết về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Đáng lẽ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để xây dựng chế độ mới. Nhưng thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược Việt Nam. Trong tình thế tương quan lực lượng bất lợi cho một chính phủ còn non trẻ, rất cần một khoảng thời gian để xây dựng lực lượng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp. Chúng ta đã nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và nền thống nhất có điều kiện, cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc để đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi, khẳng định việc Nam Bộ có trở về với nước Việt Nam hay không là tùy thuộc vào kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân. Nhưng thực dân Pháp quyết dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ nước ta. Chúng tăng quân trái phép ở miền Bắc, gây ra nhiều vụ xung đột đẫm máu và cuối cùng gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta, đòi quân, dân ta hạ vũ khí. Vậy thì xin hỏi các nhà “dân chủ”, ở vào tình thế như vậy, theo các vị thì Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xử lý ra sao? Nếu theo cách nói của các vị thì nên chọn con đường “không đổ máu” ư? Xin thưa, không đổ máu mà vẫn giữ được độc lập như các vị nói thì chỉ là con đường chấp nhận làm kiếp nô lệ mà thôi! Dân tộc này không bao giờ chọn con đường đó! Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Chúng ta nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Nhà sử học Pháp Philip Deville đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”. Sau này Tổng thống Pháp F.Mitterand, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam, tháng 2-1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”. Đến đây hẳn các “nhà dân chủ” đã hiểu là các vị đang chụp mũ cho Đảng Cộng sản. Còn giả sử như không hiểu thì có lẽ chăng đầu óc các vị đã bị thiểu năng.
Các vị còn hồ đồ rằng: “Trong khi đội quân xâm lược Pháp lực đã kiệt, thế đã tàn thì lực lượng kháng chiến giành độc lập đã lớn mạnh, đang bừng bừng xốc tới, chỉ dấn thêm một bước là cả nước sạch bóng giặc ngoại xâm. Nhưng những người Cộng sản đặt giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc thì giải phóng dân tộc không phải là mục đích duy nhất và cao nhất của họ.
Với ý thức hệ giai cấp, những người Cộng sản Việt Nam coi giải phóng dân tộc không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để họ làm cách mạng vô sản thế giới”. Thật nực cười cho cái lập luận méo mó, quái gở này. Các vị vì ngu dốt hay vì cố tình xuyên tạc cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta là cuộc chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh ủy nhiệm, miền Bắc xâm lược miền Nam? Hiệp định Geneve quy định Pháp phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân về nước. Theo Hiệp định Geneve, tháng 7-1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước. Nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, lập “đê chắn làn sóng đỏ” xuống phía Nam nên đã hất cẳng Pháp, nhảy vào xâm lược chia cắt lâu dài đất nước ta. Ngô Đình Diệm từng tuyên bố khi sang thăm Mỹ: “Biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17”. Trên thực tế, Mỹ và chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa đã gây ra “cuộc chiến tranh một phía”. Họ dọa “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”, “giải phóng Cố đô rửa hận”. Sau này, đế quốc Mỹ còn thực hiện cuộc “chiến tranh cục bộ”, đưa trên nửa triệu quân Mỹ vào xâm lược miền Nam, và tiến hành cuộc “chiến tranh phá hoại”, đe dọa đẩy miền Bắc nước ta trở về “thời kỳ đồ đá”. Như thế thử hỏi có con đường độc lập, thống nhất không đổ máu ư? Không có gì quý hơn độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Nhân dân Việt Nam, bạn bè trên thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ và cả một số người trong chính giới Hoa Kỳ hẳn vẫn không quên, trong suốt hơn 40 năm thù địch Việt Nam, Hoa Kỳ đã trực tiếp làm cho hơn 3 triệu người Việt Nam phải hy sinh và hàng triệu người khác bị tàn tật, phải chịu di hại của chiến tranh, của chất độc da cam, bao vây cấm vận làm cho nhân dân Việt Nam vốn đã khốn khó do phải khắc phục hậu quả chiến tranh lại càng thêm khốn khó.
Trong một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam được tổ chức tháng 3-2007 tại tiểu bang Texas, các học giả Mỹ đã phân tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết luận: Sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến trường. Tổng thống Nixon đã cay đắng thừa nhận: “Sai lầm nghiêm trọng của chúng ta là không biết một trong những quy luật của chiến tranh. Đó là, đừng bao giờ bước vào cuộc chiến tranh, nếu không biết cách nào để ra khỏi cuộc chiến tranh đó”. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam” đã viết: “Chúng tôi ở trong chính quyền Kennedy và Johnson, tham gia vào các quyết định về Việt Nam, đã hành động theo những gì mà chúng tôi coi là nguyên tắc và truyền thống của dân tộc này. Chúng tôi đã ra các quyết định dưới ánh sáng của các giá trị đó. Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp”. Lẽ phải chỉ có một. Những người chủ mưu trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã thú nhận thì những lập luận kiểu “giá như” của những kẻ xuyên tạc, bóp méo lịch sử như các “nhà dân chủ” đều trở nên vô nghĩa. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của nhân dân Việt Nam đã được lịch sử ghi nhận.
Dân tộc Việt Nam từ thủa khai sơn phá thạch cho đến hôm nay luôn chủ trương sống và hành động theo tư tưởng “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo”, “lấy chính nghĩa để thắng phi nghĩa” không thể là một dân tộc “nồi da nấu thịt”, “tắm máu” đồng bào như luận điệu xuyên tạc của những kẻ vì động cơ cá nhân, mục tiêu tư lợi đã lớn tiếng phê phán, chà đạp lên truyền thống tổ tiên… Thực tế lịch sử đã minh chứng, sau thắng lợi mùa Xuân năm 1975 không có chia cắt, chỉ có thống nhất; không có “tắm máu”, chỉ có hòa hợp dân tộc, thống nhất, hòa bình, xây dựng đất nước.
Thế giới đã bước sang giai đoạn mới, trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại, tư duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở nên lỗi thời. Lịch sử dân tộc đã chứng minh, dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nâng niu từng mối quan hệ bang giao hữu hảo nhưng nếu độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bị xâm phạm thì dân tộc này quyết không chịu lùi bước. Các “nhà dân chủ” trong khi phủ nhận hai cuộc chiến tranh thần thánh của nhân dân nhưng lại nuôi dã tâm gây ra “biến cố” làm mất ổn định đất nước hòng mong muốn trong sự rối loạn trục lợi cho những toan tính cá nhân. Thật chỉ là hành động của những kẻ hoang tưởng và ác độc!■
Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Trung Quốc có bành trướng hay không?

 

Hiện nay, Trung Quốc đang ở giai đoạn “hưng thịnh” – kinh tế và nhân khẩu tăng trưởng, mặc dù giới tinh hoa Trung Quốc đã kìm hãm được sự tăng dân số, nhưng đổi lại, đã nhận lấy “sự già hóa” của dân cư và giảm số lượng nữ giới.

Kinh tế Trung Quốc (không phải là không có sự giúp đỡ của Mỹ) đang có sự phát triển rất nhanh chóng, đã vượt qua Đức, Nhật và đang đuổi kịp Mỹ. Nhưng trong sự tăng trưởng đó có một cái bẫy chết người, nếu sự tăng trưởng dừng lại, Trung Quốc sẽ đối mặt với những vấn đề kinh tế-xã hội kinh hoàng, chúng chắc chắn sẽ gây ra sự khủng hoảng chính trị nội địa, các cuộc nổi loạn của nông dân và các khu vực Hồi giáo. Kết quả, Trung Quốc sẽ chuyển sang giai đoạn “suy vong”.

Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rõ quy luật lịch sử này và hoàn toàn logic khi giả định là họ đã tìm ra được cách để vượt qua, hay ít ra là kéo dài khung thời gian của thời kỳ “tăng trưởng”. Các triết gia Trung Quốc cho rằng, tồn tại khả năng có một giai đoạn “đại hài hòa”.

Những dấu hiệu giai đoạn “suy vong” đang đến gần

– “Sự quá nóng” của kinh tế Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng quá nhanh đã dẫn tới việc nếu như trong nước bắt đầu sự trì trệ (mà điều đó thì có thể xảy ra do khủng hoảng thế giới, lượng cầu ở Mỹ, châu Âu, Nga… suy giảm, mặc dù người ta đang tìm cách duy trì nó một cách nhân tạo bằng cách bơm tiền không được bảo đảm, nhưng điều đó không thể kéo dài mãi); thì các vấn đề kinh tế-xã hội sẽ bùng phát dữ dội ở Trung Quốc.

– Cuộc chạy đua vũ trang ráo riết mà Trung Quốc phát động từ những năm 1990 đã khiến cả Đông Nam Á lao vào chạy đua vũ trang.

– Sự bất mãn gia tăng trong các tầng lớp dân chúng nghèo khổ nhất (nông dân), mà đến nay vẫn chiếm đa số dân số. Ví dụ, bộ phim Avatar được yêu thích ở Nga thì ở Trung Quốc người ta cũng rất thích. Người Trung Quốc tự so sánh mình với dân tộc hoang đường “navi”, bởi vì chính quyền tiến hành chính sách xua đuổi dân chúng khỏi các vùng đất quê hương để dành chỗ cho các dự án xây dựng quy mô. Tạm thời sự bất mãn được bù đắp bởi khả năng tìm việc làm ở các thành phố.

– Sự gia tăng chủ nghĩa hưởng lạc, sự phân hóa “những người Trung Quốc mới” – ngày càng nhiều hơn du thuyền, casino, hàng xa xỉ. Trung Quốc đang dần dần để cho các loại vi rus hủy diệt – những người có triệu chứng thoái hóa (chuyển giới, đồng tính nam) nhận được ngày càng nhiều tự do. Tham nhũng gia tăng trong bộ máy đảng và nhà nước, sự thật tạm thời bị kiềm chế bởi các cuộc xử bắn công khai.

– Sự gia tăng bạo lực tự phát, nhất là đối với trẻ em (một dấu hiệu rất xấu, khi thái độ đối với trẻ em là rất đáng lo ngại), nói lên sự gia tăng tiêu cực trong thế giới tiềm thức của văn minh Trung Quốc.

Những lối thoát

– Tìm kiếm những con đường hòa bình để chuyển sang giai đoạn “Đại hài hòa”. Điều đó chỉ có thể với thiện chí của giới tinh hoa Trung Quốc và sự hợp tác rất chặt chẽ với nền văn minh Nga. Nhưng xét tới yếu tố bản thân Nga cũng đang đi tìm kiếm… thì…

– Bành trướng ra ngoài, kể cả bành trướng quân sự, để kéo dài quãng thời gian của giai đoạn “tăng trưởng” cần có những vùng lãnh thổ mới và các nguồn tài nguyên – đặc biệt gay gắt là vấn đề nước sạch và đất nông nghiệp.

Các dấu hiệu Trung Quốc chuẩn bị bành trướng quân sự

– Chạy đua vũ trang: Từ một nước thường thường bậc trung về quân sự, trong vòng 20 năm, Trung Quốc đã trở thành cường quốc số 2 về quân sự. Các chuyên gia quân sự Bắc Mỹ đã lo lắng nói rằng, chẳng bao lâu nữa Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ về sức mạnh và số lượng vũ khí hiện đại.

– Trung Quốc đang chuẩn bị cho quân đội của họ thực hiện các cuộc tấn công trên bộ – các binh đoàn lục quân hùng mạnh, với một số lượng lớn binh khí nặng, cũng như cho cuộc xung đột với một địch thủ công nghệ cao – họ đang cấp tốc hoàn thiện hạm đội, đóng các tàu sân bay, phát triển phòng không, vũ khí chống hạm, không quân, vũ khí phòng thủ vũ trụ.

– Các nước láng giềng của Trung Quốc đẩy mạnh đột biến hiện đại hóa quân đội – Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ (tất cả các nước này đều có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, điều có thể trở thành cái cớ cho một cuộc chiến tranh lớn). Chỉ có Nga là đang “ngủ”.

– Trên báo chí và trong giới quân sự Trung Quốc, người ta đã nói đến sự cần thiết bành trướng để nhà nước sống còn.

– Trong những bộ phim Trung Quốc mới đây, thấy rõ hình ảnh kẻ thù là “người da trắng” và ít hơn là người Nhật.

Thái độ đối với Mỹ

Trung Quốc cho rằng, nước Mỹ ốm yếu và không làm nổi vai trò lãnh đạo và thấy rằng, đang có một “cuộc cải tổ” chờ đợi nước Mỹ. Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rằng, quân đội Mỹ sẽ không “chịu nổi” một cuộc chiến tranh cổ điển và không dám mở một cuộc chiến tranh lớn vì Đài Loan. Mặc dù họ sẽ vẫn ủng hộ “các đồng minh” châu Á (về mặt ngoại giao, có thể là bằng vũ khí, tài chính). Ngoài ra, Trung Quốc còn là “công xưởng” của Mỹ, là chủ nợ trái phiếu lớn nhất của Mỹ, chiến tranh với Trung Quốc, nhất là chiến tranh “thật” sẽ mang lại những tổn thất to lớn cho Mỹ.

Bởi vậy, cũng như Anh và Pháp trước Thế chiến II, Mỹ sẽ nín nhịn đến cùng trước sự bành trướng của Trung Quốc sang các nước láng giếng. Hơn nữa, một cuộc chiến tranh ở châu Á cũng sẽ có lợi cho giới tinh hoa Mỹ vì thế giới sẽ quên đi các vấn đề của họ.

Các tuyến đường biển vận chuyển nguyên liệu cho công nghiệp Trung Quốc.
Giống như nhiều cường quốc công nghiệp, Trung Quốc rất nhạy cảm với hoạt động
của các tuyến đường biển này

Những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc

Theo quan niệm địa-chính trị cổ Trung Quốc: Trung Quốc là “trung tâm của thế giới, còn vây quanh đế chế Trung Hoa là “man di” và “mọi rợ”, những người phải cống nộp cho thiên triều. Trung Quốc vốn rất bảo thủ ở nhiều vấn đề, quan niệm này đã được xem xét lại và hiện đại hóa ở nước Trung Hoa cộng sản.

Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta nhất định phải giành lấy Đông Nam Á, kể cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một khu vực như Đông Nam Á rất giàu có, ở đó có nhiều khoáng sản, nó hoàn toàn đáng bỏ công của ra để giành lấy nó. Trong tương lai, nó sẽ rất có lợi để phát triển công nghiệp Trung Quốc. Như vậy, sẽ có thể bù đắp toàn bộ những thiệt hại. Sau khi chúng ta giành được Đông Nam Á, ở khu vực này sẽ có thể tăng cường các lực lượng của chúng ta …” (năm 1965); “Chúng ta phải chinh phục trái đất… Theo tôi, quan trọng nhất là chinh phục trái đất chúng ta, nơi chúng ta sẽ thiết lập một cường quốc hùng mạnh”.

Danh sách “các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” rất dài: Miến Điện, Lào, Việt Nam, Nepal, Butan, Bắc Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Triều Tiên, quần đảo Ryukyu, hơn 300 hòn đảo ở Biển Đông, biển Hoa Đông và Hoàng Hải, Kirgyzya, một phần Tadjikistan, Nam Kazakhstan, tỉnh Badah Shan của Afghanistan, Mông Cổ, vùng Ngoại Baikal và Nam Viễn Đông cho đến tận Okhotsk của Nga.

“Các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” là hơn 10 triệu km². Các vùng lãnh thổ đó lớn hơn lãnh thổ Trung Quốc (9,6 triệu km²) hơn 2 lần. Sau Мао, các nhà lãnh đạo Trung Quốc “nguội đi” và không nêu ra những yêu sách như thế, nhưng quan niệm lịch sử thì họ vẫn giữ.

Và không nên nghĩ là Trung Quốc quên lãng những gì mà họ cho là của họ – họ đã lấy lại Hongkong (thuộc Anh đến năm 1997), Macao (thuộc Bồ Đào Nha đến năm 1999), đã nuốt được một phần lãnh thổ Nga (năm 2005 – 337 km²), 1.000 km² của Tadjikistan (tháng 1.2011, Trung Quốc yêu sách 28.000 km²). Trung Quốc càng mạnh và các nước láng giềng càng yếu bao nhiêu thì “sự thèm muốn” càng lớn bấy nhiêu.

Niềm tin vào phương cách ngoại giao cũng là đáng ngờ. Trung Quốc đã không chỉ một lần, trước khi trở thành cường quốc số 2, xung đột vũ trang với các nước láng giềng: 2 cuộc xung đột biên giới với Ấn Độ (1962, 1967), xung đột biên giới Trung-Xô (1969), chiến tranh với Việt Nam (1979), 2 cuộc xung đột biên giới với Việt Nam (1984, 1988), 3 cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan. Trung Quốc “đã nuốt chửng” 3 vùng lãnh thổ vốn không phải là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa là Đông Turkestan (chiếm vào thế kỷ XVIII), Nội Mông (chiếm hẳn sau Thế chiến II) và Tây Tạng (thập niên 1950).

3 tranh chấp lãnh thổ chủ yếu của Trung Quốc: (1) Biên giới trên bộ với Ấn Độ và Butan;
(2) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Việt Nam;
(3) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Nhật Bản.

Nhật Bản

Ở Trung Quốc, người ta có thái độ rất tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân rất khách quan, cuối thế kỷ XIX-nửa đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã tham gia cướp bóc Trung Quốc cùng với phương Tây. Nhật đã 2 lần tấn công Trung Quốc và trong những năm Thế chiến II đã thực hiện một cuộc diệt chủng thực sự ở miền bắc Trung Quốc, hàng triệu người Trung Quốc bị giết (không có con số chính xác). Hơn nữa, Nhật Bản đến nay vẫn không chính thức xin lỗi về chính sách của chính phủ thời đó.

Họ có tranh chấp lãnh thổ về quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông mà Nhật Bản chiếm giữ năm 1895. Trung Quốc cho rằng, Nhật Bản đã đến lúc trả lại các vùng lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc” và công khai tuyên bố về vấn đề này vào năm 1992. Năm 1999, tình hình thêm căng thẳng vì tại thềm lục địa đã tìm thấy các trữ lượng khí đốt lớn và cả hai nước đã chuẩn bị khai thác chúng.

Cuối năm 2010, Nhật Bản thậm chí đã xem xét lại chiến lược quân sự, trong đó nguy cơ chủ yếu đối với Nhật được nêu ra không phải là Nga mà là vấn đề CHDCND Triều Tiên và cuộc chạy đua vũ trang do Trung Quốc phát động. Bởi vậy, Nhật Bản dự định tăng cường hạm đội tàu ngầm, hải quân, không quân và củng cố quan hệ hữu nghị với Mỹ.

Bán đảo Triều Tiên

Triều Tiên từ thời cổ đại bị coi là “thuộc quốc” của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc ủng hộ chế độ CHDCND Triều Tiên và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với cả 2 nước Triều Tiên. Nhưng không biết Trung Quốc sẽ ứng xử thế nào nếu trên bán đảo bùng nổ nội chiến và chế độ Bắc Triều Tiên sụp đổ. Một phương án có khả năng là Trung Quốc chiếm đóng Bắc Triều Tiên.

Đài Loan

Được coi là một bộ phận không thể chia cắt của Trung Quốc thống nhất. Từ năm 1992-1999, hai bên đã đàm phán tái thống nhất, song đổ vỡ vì lãnh đạo Đài Loan tuyên bố, Trung Quốc và Đài Loan là “2 nước ở 2 bờ eo biển Đài Loan”.

Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị giải pháp quân sự cho vấn đề Đài Loan. Mỹ và Nhật Bản hiện ủng hộ Đài Loan, Mỹ vũ trang cho quân đội Đài Loan. Nhưng điều gì sẽ diễn ra nếu Mỹ đối mặt với một cuộc khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng hoặc một cuộc chiến tranh nữa (Iran, Pakistan…). Mỹ sẽ không thể bảo vệ Đài Loan, không đủ nguồn lực, hơn nữa công chúng Mỹ sẽ không hiểu: bảo vệ người Trung Quốc khỏi người Trung Quốc để làm gì.

Giới tinh hoa Đài Loan đang tăng cường quân đội: hải quân, phát triển máy bay không người lái, tên lửa chống hạm, phòng không, đề nghị Mỹ bán các máy bay tiêm kích mới.

Vấn đề các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa là quần đảo nhỏ ở Biển Đông, bị Trung Quốc chiếm của Việt Nam năm 1974, ngoài Việt Nam, Đài Loan cũng yêu sách quần đảo này.

Quần đảo Trường Sa nằm ở Tây Nam Biển Đông, gồm hơn 100 hòn đảo nhỏ, bãi đá ngầm và đảo san hô vòng, tổng diện tích dưới 5 km². Tổng diện tích khu vực này là hơn 400.000 km². Tranh chấp khu vực này là 6 quốc gia – Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Brunei.

Nguyên nhân xung đột là vị trí quan trọng chiến lược của quần đảo, khu vực này giàu tài nguyên sinh học và có thể có những mỏ dầu và khí đốt trữ lượng lớn.

Một phần quần đảo do các đơn vị quân đội Việt Nam đóng giữ, một phần bị chiếm giữ bởi các đơn vị Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan. Thường xuyên xảy ra những cuộc đụng độ nhỏ, năm 2008, Philippines tuyên bố, họ sẽ “chiến đấu đến người thủy binh và lính thủy đánh bộ cuối cùng” vì quần đảo Trường Sa. Có khả năng xảy ra chiến tranh lớn. Cả 6 quốc gia trong những năm gần đây đều tăng cường quân đội, nhất là hải quân, hạm đội tàu ngầm, không lực hải quân được chú ý hơn.

Việt Nam

“Cựu” địch thủ của Trung Quốc, từng bị Trung Quốc đô hộ 1.000 năm, cho đến thế kỷ X. Là đối thủ của Trung Quốc tranh giành ảnh hưởng đối với các nước láng giềng Đông Nam Á, Việt Nam có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Khi Việt Nam còn là đồng minh của Liên Xô, thì không có nguy cơ lớn đối với Việt Nam, nhưng hiện nay, nguy cơ tăng mạnh. Ban lãnh đạo Việt Nam đang tăng cường quân đội, tìm kiếm các quan hệ với Mỹ (có tin đồn, thậm chí Việt Nam sẵn sàng cho Mỹ sử dụng Cam Ranh làm căn cứ quân sự), cũng cố quan hệ hệ tác với Ấn Độ.

Ấn Độ

Trung Quốc coi bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ là một phần của Nam Tây Tạng và nghĩa là một phần lãnh thổ của mình. Ấn Độ muốn Trung Quốc trả lại vùng lãnh thổ Aksai Chin. Trung Quốc đang đẩy mạnh hợp tác kinh tế, quân sự với Pakistan, Bangladesh, những nước về lịch sử và văn hóa là một bộ phận của nền văn minh Ấn Độ. Trung Quốc đang tăng cường ảnh hưởng ở các nước giáp giới Ấn Độ mà giới tinh hoa Ấn Độ coi là vùng ảnh hưởng của mình là Nepal, Butan, Sri Lanka.

Ấn Độ cũng không thích thú gì việc Trung Quốc chiếm giữ Tây Tạng. Đáp lại, Ấn Độ đang tăng cường sức mạnh quân đội, tăng cường hợp tác với Mỹ, Nga. Khả năng xảy ra chiến tranh lớn bị hạn chế bởi sự hiểm trở của biên giới Trung-Ấn, núi non.

Afghanistan

Trung Quốc coi tỉnh Badah Shan là lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc”. Nhưng trong khi chiến tranh liên miên diễn ra ở Afghanistan, Trung Quốc chú ý hơn đến bành trướng kinh tế. Rõ ràng là khi Mỹ và các đồng minh rút khỏi Afghanistan, Trung Quốc sẽ là “anh cả” ở khu vực này và sẽ giành được những tài nguyên họ cần mà không cần chiến tranh. Afghanistan bị tàn phá, nước này cần những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, mà Trung Quốc thì có tiền.

Tadjikistan

Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với 28.000 km² ở khu vực Đông Pamir. Tháng 1.2011, Tadjikistan đã nhượng 1.000 km² lãnh thổ tranh chấp cho Trung Quốc. Xét tới tiềm lực quân sự thực tế là bằng không so với Trung Quốc của Tadjikistanа, thì sớm hay muộn, nước này cũng phải giao nộp toàn bộ các lãnh thổ “tranh chấp” cho Trung Quốc, thậm chí cả các vùng lãnh thổ khác nữa (xét tới khả năng nội chiến ở nước này). Lối thoát duy nhất đối với Tadjikistan là trở lại trong thành phần nước Nga.

Kirgyzya

Năm 1996 và 1999, Kirgyzya đã cắt cho Trung Quốc gần 12 km² lãnh thổ và tạm thời Trung Quốc bằng lòng với điều đó. Nhưng xét tới tình hình khốn khó của Kirgyzya: các khó khăn kinh tế, quân đội yếu ớt, xung đột sắc tộc (giữa những người dân tộc Kirgyz và Uzbek), khả năng hỗn loạn lan sang từ Afghanistan, Kirgyzya sẽ không tránh khỏi số phận “miếng mồi” của kẻ mạnh. Giống như đối với Tadjikistan, trong hoàn cảnh khủng hoảng thế giới, cách cứu vãn dân tộc duy nhất để khỏi bị “Trung Quốc hóa” hoặc Hồi giáo cực đoan hóa là quay trở lại thành phần nước Nga.

Kazakhstan

Năm 1992-1999 đã diễn ra một quá trình đàm phán ngoại giao, kết quả là Trung Quốc giành được 407 km² lãnh thổ Kazakhstan. Trung Quốc không còn nêu ra vấn đề lãnh thổ nữa và nó được coi là đã giải quyết xong. Nhưng Kazakhstan dân cư thưa thớt, tiềm lực quân sự yếu, biên giới với Trung Quốc dài (hơn 1.700 km) và cách Trung Quốc ứng xử khi cần sống sót là điều dễ hiểu.

Mông Cổ

Nước này được coi là sự tiếp tục của khu vực Nội Mông và tương ứng là sự tiếp tục tự nhiên của Trung Quốc. Trong thế kỷ XX, Trung Quốc đã không nuốt chửng được nước này chỉ là nhờ sự bảo trợ của Liên Xô hùng mạnh. Mông Cổ đáng quan tâm đối với Trung Quốc ở chỗ với diện tích lớn, nước này gần như không có dân cư (2,7 triệu người), không có quân đội thực sự (gần 9.000 quân).

Nga

Năm 1991, М. Gorbachev ký hiệp ước, theo đó biên giới chạy theo giữa lòng sông Amur. Trước đó, biên giới chạy theo bờ sông Amur, bên phần đất Trung Quốc. Năm 2004-2005, V. Putin đã cắt cho Trung Quốc 337 km² lãnh thổ Nga. Tại đây, vấn đề lãnh thổ dường như đã được giải quyết, nhưng “sự thèm ăn thức tỉnh trong khi ăn”. Trung Quốc đang đứng trước ngã ba đường và nếu như họ chọn bành trướng ra bên ngoài thì Nga sẽ là “đối tượng” có khả năng nhất. Tạm thời, Trung Quốc hạn chế ở việc chiếm lĩnh về kinh tế các vùng lãnh thổ Nga và di dân đến các vùng lãnh thổ hầu như trống rỗng của Siberia và Viễn Đông.

Những nạn nhân đầu tiên có khả năng nhất của sự bành trướng của Trung Quốc

Những nạn nhân đầu tiên của Trung Quốc rõ ràng sẽ là:

– Đài Loan: Theo lập trường nguyên tắc của Trung Quốc thì Đài Loan là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa. Nhưng cũng có khả năng cho lối thoát hòa bình nếu như giới tinh hoa Đài Loan kìm nén được các tham vọng của mình. Nếu như xảy ra một chiến dịch quân sự thì nạn nhân sẽ nhiều, nhưng thiết nghĩ Mỹ và phương Tây sẽ chỉ làm ầm ĩ, chứ sẽ không thực sự tham chiến.

– Các nước phía Bắc: Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kirgyzya, do đây là những vùng lãnh thổ dân cư thưa thớt, có nguồn tài nguyên lớn và tiềm lực quân sự yếu (các đơn vị quân đội chủ yếu của Nga bố trí ở phía Tây, nên Trung Quốc sẽ kịp giải quyết xontg tất cả các vấn đề nhằm chiếm giữ Siberia và Viễn Đông của Nga trước khi các đơn vị đó kịp tới khu vực chiến sự).

– Tấn công Ấn Độ không hấp dẫn Trung Quốc vì chiến trường không thích hợp (vùng núi), về quân số, quân đội Ấn Độ và dự trữ nhân lực của nước này cũng gần như của Trung Quốc. Trung Quốc có thể mở chiến dịch hạn chế chống Ấn Độ để yểm trợ cho đồng minh Pakistan một khi Ấn Độ tấn công Pakistan.

– Chiến tranh với Việt Nam hay bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào là bất lợi. Nguồn dự trữ nguyên liệu của các nước này hạn chế, có dân số đông, quân đội mạnh. Bởi vậy, các nước này sẽ được Trung Quốc để lại sau, họ có thể khuất phục mà không cần chiến tranh, một khi thấy số phận của các láng giềng phía Bắc của Trung Quốc, họ sẽ tự nguyên trở thành “chư hầu” của Trung Quốc.

– Nhật Bản rõ ràng sẽ là nạn nhân cuối cùng, bởi lẽ tiến hành chiếm đóng bằng đường biển là khá phức tạp. Nhưng xét tới sự thù ghét của người Trung Quốc đối với người Nhật thì số phận của họ sẽ rất bi thảm, dân cư quần đảo Nhật sẽ giảm mạnh.

Đặc điểm của sự bành trướng này là giới tinh hoa Trung Quốc sẽ không tiếc lính, tiếc vũ khí trang bị để thực hiện. Trung Quốc đang có cuộc khủng hoảng nhân khẩu nghiêm trọng, “sự già hóa” dân cư và dư thừa thanh niên, thiếu nữ giới. Càng có nhiều người mất mạng trên chiến địa càng tốt, “ung nhọt” căng thẳng xã hội trong nội địa Trung Quốc sẽ xẹp xuống. Còn nhu cầu sản xuất hàng loạt vũ khí trang bị sẽ có lợi cho nền kinh tế.

Nga có thể làm gì để tự cứu mình?

– Về mặt ngoại giao, ủng hộ việc tái thống nhất hòa bình Hoa lục và đảo Đài Loan.

– Tăng khối lượng hợp tác kinh tế. Khủng hoảng và những chấn động xã hội ở Trung Quốc là dấu hiệu cho thấy sự khởi đầu của quá trình bành trướng bằng vũ lực đã rất gần. Nga cần nền hòa bình ở Trung Quốc và sự phát triển kinh tế, văn hóa của dân cư nước này. Cần có sự bành trướng văn hóa Nga – tiếng Nga, điện ảnh, giáo dục, văn hóa.

– Liên minh chiến lược với Ấn Độ, thừa nhận các bộ phận của nền văn minh Ấn Độ là Pakistan và Bangladesh là thuộc về Ấn Độ. Tương trợ nhau trong trường hợp bị Trung Quốc xâm lược.

– Hợp tác kỹ thuật quân sự và kinh tế rộng lớn với Mông Cổ, hai nước Triều Tiên, các nước Đông Nam Á. Nối lại liên minh với Việt Nam.

– Lập tức khôi phục Hạm đội Thái Bình Dương, tăng cường mạnh mẽ lực lượng quân đội đóng tại Viễn Đông.

– Có chương trình quy mô lớn tái chinh phục Siberia và Viễn Đông (có thể lấy các kết quả nghiên cứu của Y. Krupnov làm cơ sở), giải quyết sự mất cân bằng nhân khẩu, khi mà phần lớn dân số Nga sống ở phần châu Âu của nước Nga. Có chương trình hỗ trợ sinh đẻ cho người Nga và các dân tộc bản địa ở Siberia và Viễn Đông (không dưới 3-4 con/1 gia đình).

– Giới tinh hoa Nga cần phải thể hiện ý chí sinh tồn bằng cách ngầm cảnh cáo Trung Quốc rằng, xâm phạm đất đai và khu vực ảnh hưởng của Nga (Kazakhstan, Kirgyzya, Tadjikistan, Mông Cổ) có thể dẫn tới đòn đánh hạt nhân hạn chế nhằm vào các thành phố duyên hải phồn vinh của Trung Quốc.

Tài liệu tham khảo:

1 – Vasiliev L.S. Trung Quốc cổ đại, 3 tập.-М., 1995-2006.

2 – Galenovich Yu.M. Các tác giả của tuyển tập “Trung Quốc bất bình” viết về cái gì.-М., 2010.

3 – Krupnov Yu. Mặt trời ở Nga mọc từ hướng Đông.-М., 2007.

4 – Kulpin E.S. Con người và thiên nhiên ở Trung Quốc.-М., 1990.

5 – Nepomnin O.E. Lịch sử Trung Quốc: Thời Thanh. Thế kỷ XVII-đầu thế kỷ XX.-М., 2005.

6 – Những yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh: Lịch sử và hiện tại.-М., 1979.

Nguồn: Về vấn đề bành trướng TQ

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Những điều không thể không nói ra

Hình ảnh

Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít  nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước. Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu chuyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.

Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy. Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: “Những điều không thể không nói ra” mà Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: “Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949” (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) – “Quan hệ Trung – Việt từ 1949 đến nay” ( Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam” ( Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và “Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á” (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).

Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.

Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ “Những điều không thể không nói ra” hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).

 Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.

Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà “Những điều không thể không nói ra” đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.

*

*   *

  1. Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” – một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn. Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện “ sát phu, hiếp phụ”, “bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi” cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”, viết trong “ Đại cáo bình Ngô”. Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này“trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị”. Tác giả của “Diễn biến quan hệ Việt – Trung trước năm 1949”chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì “phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra”. Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh “Giao Châu” (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống. Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của “Những điều không thể không nói ra” không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì “chính sử” luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác). Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa “phù Trần, diệt Hồ” của nhà Minh đầu thế kỷ XV. “Phù Trần diệt Hồ” ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: “Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ” (theo “Minh sử”). Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là “kỷ Hậu Trần” thì người Minh lại gọi là “giặc” và phái binh đàn áp! Một thời kỳ “Bắc thuộc mới” kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi “chim chả, ngà voi” tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được “cuộc phù Trần” về bên kia biên giới. Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, “giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam” được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ “tông phiên” thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực. Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là “không đáng kể”,tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ “hồi tặng” (từ phía triều đình Trung Quốc)” được.

Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: “Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp” (trích Hồi ký bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba). Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh … xung quanh vấn đề này.

Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận“khoác lác”, “hư cấu”? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích “đưa vào nội dung giáo dục quốc dân” để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

  1. Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận. Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân …), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu. Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc. Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen. Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5. Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương). Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.

3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để “đánh trả”, “trừng phạt” cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là “anh em” vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu “các nước anh em” thường làm).

Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc “đánh trả”“trừng phạt” ấy – xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong “Những điều không thể không nói ra”.

Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc “tiến quân” trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt – Trung; 1983 – 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang – Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là “sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam”? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, “Nguyên cớ ư ? Ở ta!”

 Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 – 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!

Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.

Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã “hoàn toàn thay đổi lập trường” về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.

Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là giúp mình”, hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết. Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.

Đáng ngạc nhiên là trong bài “Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á”, tác giả gợi lại vấn đề không có thực là “lãnh thổ K.K.K” “một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam”. Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là “phong trào K.K.K”? Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?

 Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như “Thế giới tri thức” lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài “Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay”, tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức “sự thật lịch sử”?

Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường “Việt Nam bắt nạt Trung Quốc”, “Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi”, để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ : Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.

Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là “những điều không thể không nói ra”, không thể không làm rõ vậy thôi.

Tiến sĩ Vũ Cao Phan

Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com. The Adventure Journal Theme.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 33 other followers