Truyền thông “Vịt trời”
Tháng tư- niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc

|
|||
|
|
Vẫn thói nhắm mắt đoán bừa
Bài được đăng trên Tạp chí nhân quyền Việt Nam số 4 năm 2013





Khởi thủy từ niềm tin yêu !
Bài được đăng trên Tạp chí nhân quyền Việt Nam số 4 năm 2013




Thành tựu đổi mới là thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam!

Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH XHCN trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất.
1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP bình quân năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước.
Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD.
Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn – 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.
2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉ USD, vượt 16%. GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD.
Theo Chỉ số Thịnh vượng (Prosperity Index) của 110 nước năm 2010 do Viện Nghiên cứu chính sách Legatum (Vương quốc Anh) thực hiện qua thẩm định 89 tiêu chí thuộc 8 lĩnh vực kinh tế-xã hội cơ bản, Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 61 thế giới, tăng 16 bậc so với năm 2009 (đứng thứ 77), kém Trung Quốc 3 bậc, hơn LB Nga 2 bậc và hơn Ấn Độ 27 bậc, trong khi Na Uy đứng đầu bảng, dẫn đầu thế giới, Singapore đứng thứ 17 (dẫn đầu châu Á)… Rõ ràng, thành tựu của 25 năm đổi mới là rất to lớn, được dư luận quốc tế đánh giá cao. Tầm vóc Việt Nam ngày nay đã khác xưa. Đó là thực tế không ai có thể phủ nhận. Càng tự hào về những kết quả đã đạt được trong 25 năm qua, càng cần quyết tâm, kiên trì thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới và suy cho cùng, mới bảo vệ và phát triển chế độ chính trị – xã hội lên tầm cao văn minh, hiện đại.Trong bài viết đăng trên Tạp chí World Politics Review, tác giả Roberto Tofani nhận định kể từ năm 1986 khi bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Năm 2010, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,7% bất chấp những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.”Hãng Phân tích kinh tế SEE của Tây Ban Nha vừa công bố báo cáo đánh giá Việt Nam sẽ là nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong giai đoạn 2005-2025, với mức tăng bình quân hàng năm 8%, cao hơn gần 1% so với hai thập kỷ trước đó.
“Quay đầu lại là bờ”!
AMARI TX
điểm báo phút thứ 9
http://vtv.vn/video-clip/131/Chao-buoi-sang-22032013/video5647.vtv
nước ngoài quan sát một số nhân vật được các đài BBC, RFA, VOA,… cùng một nhóm người thi nhau ca ngợi trên internet, tác giả Tuyên Trần gửi tới Báo Nhân Dân bài Quay đầu lại là bờ. Bài viết gợi lên một số vấn đề đáng suy ngẫm, vì đề cập tới loại hiện tượng mà qua đó xem xét về bản chất, dường như những người có liên quan chưa tỉnh táo để điều chỉnh hành vi của mình. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Ở nước ngoài, mặc dù mỗi năm mấy lần về quê làm việc, thăm nom họ hàng, bà con lối xóm, làm thiện nguyện, nhưng những thông tin tôi biết về đất nước chủ yếu là thông qua internet. Ðọc trên mạng nhiều nên tôi rút ra một kinh nghiệm là, hễ thấy trang Việt ngữ của BBC, VOA, RFA,… biến người nào ở trong nước thành “người hùng” rồi liên tục phỏng vấn, kêu gọi ủng hộ, là y như rằng những người đó có vấn đề đáng ngờ. Dăm năm trước, họ xúm xít tung hô Bùi Kim Thành là “luật sư dân oan”, tới khi Nhà nước Việt Nam đồng ý cho sang Mỹ thì bà này lộ nguyên hình là người thần kinh không bình thường, hiện ở Mỹ không ai dám dây dưa. Trần Khải Thanh Thủy cũng thế, chị này được họ ca ngợi như “người hùng”, chị ta công khai than vãn: “điều không may của tôi là không được sống một ngày nào trong chế độ Việt Nam Cộng hòa” (!). Tới khi sang Mỹ, chị ta vội vàng lên RFA bày tỏ “tràn đầy lòng biết ơn nước Mỹ”, đến lúc này mọi người mới biết chị ta là “đảng viên Việt Tân”. Nguyễn Chính Kết ba hoa để tìm cách chuồn sang Mỹ, trong khi ông ta huyên thuyên chống cộng để lấy lòng đồng bọn, thì một người sinh sống tại nước Mỹ viết về ông ta thế này: “Ngày nay, Nguyễn Chính Kết đã chết thực, nghĩa là cái dũng và tinh thần của Nguyễn Chính Kết đã chết, dù thân xác của ông lang thang đó đây nơi xứ người, qua sự sai khiến của một nhóm muốn lợi dụng cái xác cò vơ cò vất như ma đói của ông”!
Mấy người gọi là “nhà dân chủ”, “nhân sĩ, trí thức” sinh sống trong nước thì còn lắm trò hơn. Hôm nay họ ca ngợi nhau, ngày mai họ đã coi nhau như kẻ thù. Họ lên mạng mắng mỏ nhau như hát hay hoặc biến một người có ngôn ngữ, hành vi rất lưu manh trở thành “người hùng”. Rồi họ dùng internet là chiến trường để nhiếc móc nhau lừa đảo, bới móc nhau biển thủ tiền bạc… Kể về họ thì không bao giờ hết chuyện lố bịch. Trong bài này tôi mượn mấy dòng của Kami – một blogger chưa bao giờ có thiện chí với Nhà nước Việt Nam, mới đây viết trên RFA Blog’s về hành vi của mấy người mà Kami “từng coi họ là những nhân sĩ trí thức yêu nước và những tấm gương tiêu biểu”(!) rằng: “Ðó là những việc làm thiếu bình tĩnh, thiếu suy nghĩ… Các vị nhân danh đấu tranh dân chủ mà còn cái thói tính gia trưởng trịch thượng, lúc nào cũng tự cho mình đúng thì làm sao có thể có đấu tranh cho dân chủ được?… Vẫn là sự suồng sã của con vẹt và thói hách dịch của kẻ bề trên và tự coi tầm hiểu biết của mình là chân lý bất biến”!
Gần đây, trên các trang mạng xã hội, báo chí, các đài Việt ngữ ở hải ngoại lại ra sức cổ súy, đăng tải các bài viết, phỏng vấn mấy nhân vật đã đưa ra ý kiến hết sức tùy tiện về việc Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nguyễn Ðắc Kiên là một trong mấy người được họ biểu dương. Tôi rất thất vọng vì trong khi toàn dân rất nhiệt tình ủng hộ kế hoạch của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, một số người đang sống ở trong nước lại “hòa giọng” với một số cá nhân, tổ chức ở hải ngoại, đặc biệt là tại Mỹ, ra sức bài bác, đưa ra những đòi hỏi vô lý, thiển cận.
Tôi nghĩ, dù nấp dưới danh nghĩa nào thì những người tôn thờ chủ nghĩa cơ hội cũng không thể mãi mãi giấu mình. Trong tiến trình xã hội, trắng – đen, thiện – ác sẽ được làm sáng tỏ, ai là kẻ cơ hội, ai là người chân chính sẽ được đánh giá sòng phẳng. Ðọc một số bài báo tiếng Việt tại Mỹ ca ngợi Nguyễn Ðắc Kiên như “người hùng”, tôi cũng chẳng lạ lẫm với việc ban phát “danh hiệu” đó, vì tiêu chí phong tặng của họ là chửi bới, kêu gọi loại bỏ sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền Việt Nam càng nhiều càng tốt. Ai cũng biết trong cuộc sống, việc phê bình, góp ý là rất cần thiết vì giúp hoàn thiện con người, phát triển xã hội. Tuy nhiên phê bình, góp ý không có nghĩa là bình tùy tiện nói những điều người được phê bình, góp ý không thể thực hiện trong hoàn cảnh cụ thể; hoặc phê bình, góp ý chỉ là phương tiện chứng tỏ mình hơn người, “dám nói” những điều mà mình cho rằng người khác “không dám nói”, rồi mạt sát người khác.
Ðọc ý kiến của Nguyễn Ðắc Kiên, tôi ngạc nhiên với thái độ và hành văn xấc xược, ngạo mạn của anh này. Ðể “tri ân” những người đang tâng bốc mình, anh rất lố bịch khi viết rằng: “bất cứ ai là người Việt, còn có lương tri, còn nghĩ đến bổn phận làm con người trên thế gian này thì nên ký tên vào kiến nghị này”! Chẳng hóa ra nếu người thân của anh ta không tham gia ký tên sẽ là người hết lương tri, không biết nghĩ tới “bổn phận làm người” hay sao? Tôi còn thấy một điều không bình thường nữa là vào ngày 9-3-2013 tại tòa soạn báo Người Việt ở California, Trần Phong Vũ khoe “tủ sách Tiếng quê hương” đang nỗ lực in, phát hành một tác phẩm của Nguyễn Ðắc Kiên. Như vậy là chỉ nửa tháng sau khi Nguyễn Ðắc Kiên đăng bài chỉ trích (26-3-2012) “tủ sách Tiếng quê hương” đã có bản thảo cuốn sách này. Tại sao Nguyễn Ðắc Kiên sớm được “ưu ái” như vậy, hay là bài viết trên blog chỉ là cú “kích hoạt” cho động thái tiếp theo? Sống ở Mỹ, tôi không lạ gì “tủ sách Tiếng quê hương”. Ðây là cơ sở do Uyên Thao – nhà văn chống cộng, tổ chức. Gần 20 năm qua, Uyên Thao với mấy cây viết ở hải ngoại duy trì “tủ sách Tiếng quê hương” theo tiêu chí: “Nối tiếp dòng văn học Việt Nam đã bị cộng sản hủy hoại ở trong nước. Ðồng thời để đưa tiếng nói của những người ở trong nước không nói được cho đồng bào và dư luận thế giới cùng biết về đất nước và con người Việt Nam dưới chế độ độc tài đảng trị của Cộng sản Việt Nam”!? Các ấn phẩm do “tủ sách Tiếng quê hương” in ra đều có nội dung nói xấu chế độ chính trị – xã hội ở trong nước, moi móc quá khứ, xuyên tạc, bịa đặt, kích thích tò mò, đưa ra loại tin tức không thể kiểm chứng, ra vẻ ta là người “trong cuộc” để bịp bợm người đọc,…! Tiêu chí của họ cụ thể như vậy, liệu “tác phẩm” của Nguyễn Ðắc Kiên có phải đáp ứng được các tiêu chí ấy hay không? Có lẽ chẳng phải chờ tới khi sách in ra mới có câu trả lời.
Phàm đã là “nhân sĩ, trí thức” luôn nói năng cẩn trọng, khiêm nhường. Họ không chỉ là người có tri thức, có đóng góp đối với xã hội, mà còn là người được giáo dục chu đáo, có thể làm gương cho người khác. Từ quan niệm như thế nhìn vào “hiện tượng Nguyễn Ðắc Kiên”, tôi thấy những điều anh viết và nói hình như dựa trên cái tâm không trong sáng và từ những suy nghĩ lạc hướng? Nguyễn Ðắc Kiên còn trẻ, mong anh hãy suy nghĩ cho chín chắn trước khi hành động. Chí ít anh cũng nên tự hỏi tại sao những điều anh viết, anh nói lại được một số người vốn không nhận được thiện cảm của nhân dân cùng các tổ chức phản động ở hải ngoại ra sức khai thác, tâng bốc? “Quay đầu lại là bờ”, dù có người sẽ bảo câu nói này đã nhàm chán, tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây, vì thấy phù hợp với Nguyễn Ðắc Kiên.
Lúc theo ba mẹ sang Mỹ, tôi 17 tuổi. Sau nhiều năm học hành và làm việc, công việc kinh doanh của tôi dần dần khấm khá. Hơn mười năm trước, tôi bắt đầu tìm hiểu về quê hương, chủ yếu là qua internet. Thời gian đầu tôi tin vào điều các “nhà dân chủ” đã nói, vì tôi nghĩ đất nước như thế thì ba mẹ tôi mới ra đi. Tôi liên lạc với họ, về nước tôi gặp vài người. Tiếp xúc rồi, tôi bắt đầu thất vọng, vì không hiểu tại sao có người không làm việc gì, suốt ngày chỉ ngồi bên computer viết bài, rình mò chụp ảnh, nhặt nhạnh tin tức tiêu cực để đưa lên mạng nói xấu đất nước. Muốn đất nước phát triển mỗi người đều phải làm việc, ở đâu cũng vậy, dù ở Mỹ hay ở Việt Nam. Mỗi năm về nước vài lần, tôi vẫn luôn ngạc nhiên về tốc độ phát triển, về cuộc sống của đồng bào. Ba mẹ tôi đã già rồi, không đi xa được, nghe tôi kể về quê hương là rơm rớm nước mắt. Ba hỏi tôi: “Liệu ba mẹ có sai lầm khi bỏ nước ra đi?”. Tôi không biết nói sao, chỉ an ủi ba: “Nghĩ về quê hương mà ba mẹ thấy bình an là vui rồi”. Tôi kể lại chuyện của mình vì qua đây tôi muốn tâm sự một điều, Tổ quốc là của mọi người, nhưng mỗi người chỉ có quyền tự hào về Tổ quốc khi góp phần làm cho Tổ quốc giàu mạnh, hùng cường. Nhân đây xin được hỏi các “nhà dân chủ” và “nhân sĩ, trí thức” đã làm được gì cho Tổ quốc hay chưa? Chẳng nhẽ chỉ vì cái danh hão được làm “người hùng trên mạng” mà họ cho mình quyền miệt thị người khác không yêu nước như họ? Làm “người hùng trên mạng” như thế sẽ chẳng có gì đáng để tự hào, bởi “chiếc áo không làm nên thầy tu”.
TUYÊN TRẦN
(Nước Mỹ, tháng 3-2013)
Những đòi hỏi phi lý không thể chấp nhận
Amari TX 
Dân chủ phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền
Sau khi Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam triển khai kế hoạch để nhân dân đóng góp ý kiến với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tôi rất phấn khởi. Ðây là sự kiện quan trọng để toàn dân Việt Nam đem trí tuệ, khả năng góp phần hoàn thiện Hiến pháp của nước nhà, và Hiến pháp sẽ có tác động tích cực hơn tới sự phát triển đất nước, bảo đảm các quyền lợi của nhân dân. Vậy mà nhân dịp này, một số người lại đưa ra ý kiến nhận xét rất thiếu khách quan, từ đó đòi “đa nguyên, đa đảng”, cổ súy cho mô hình tổ chức xã hội xa lạ với thực tiễn Việt Nam. Tôi ngạc nhiên là một số người trong số đó lại trưởng thành từ trong môi trường XHCN, thậm chí có người mang danh “trí thức” nhưng trong khi phân tích, đánh giá, đề xuất giải pháp về các vấn đề xã hội… lại có cái nhìn phiến diện. Họ lập ra blog cá nhân, đăng tải thông tin không được kiểm chứng, kèm theo bình luận xuyên tạc sự thật, trả lời phỏng vấn trên một vài phương tiện truyền thông nước ngoài để khuếch trương ý kiến.
Có thể nói, mục tiêu hàng đầu mà các “nhà dân chủ”, “người yêu nước”, các tổ chức chống đối hoặc không thiện chí với Việt Nam, là cố gắng loại bỏ Ðiều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Họ rêu rao “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là “khuôn vàng, thước ngọc” Việt Nam phải làm theo. Họ coi “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản, vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Nguy hiểm hơn loại quan điểm này lại khoác cái vỏ “vì dân chủ”, “vì nước, vì dân”! Qua theo dõi, tôi thấy gần đây họ lại như đang thay đổi “chiến thuật”, đó là kết hợp giữa chửi bới, thóa mạ, xuyên tạc, vu khống một cách vô văn hóa đối với Ðảng và Nhà nước Việt Nam như trước đây họ vẫn làm, với lời khuyên “thực hiện đa đảng” thì dân chủ hơn!? Có người còn ỡm ờ đặt câu hỏi: mở cửa kinh tế từ hơn 25 năm trước đã đưa Việt Nam trở thành một “rồng nhỏ” ở châu Á, song do cơ chế chính trị không thích hợp đã khiến “con rồng” không thể bay lên, liệu cuộc thay đổi về chính trị lần này có thật sự tháo gỡ được bế tắc về cơ chế hay không!? Ðáng tiếc là một số ít người đã lầm tưởng và ngộ nhận về điều này, từ đó ngỡ rằng đất nước sẽ phát triển hơn nếu Việt Nam thực hiện đa đảng (!)
Tôi xin nói một điều chắc chắn rằng thực tế sẽ không phải như các “nhà dân chủ”, các hội đoàn “chống cộng cực đoan” ở hải ngoại cổ súy, tô vẽ. Vì điều đó tất yếu sẽ dẫn đến kết cục không tránh khỏi là đất nước rơi vào mất ổn định, kinh tế đổ vỡ, để rồi nhân dân phải chịu mọi hậu quả. Nói cách khác, nhân dân chỉ là cái cớ để họ tranh giành ảnh hưởng trong cái gọi là “đa đảng”. Tôi còn nhớ bài học thực thi dân chủ sai nguyên tắc trong thời kỳ cải tổ ở Liên Xô trước đây. Quan điểm thực thi “dân chủ”, “đa nguyên chính trị” để cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo ra cơ hội cho các mưu đồ chống phá, dẫn đến làm tan rã, sụp đổ chế độ Xô viết. Ở đâu còn có phần tử bất mãn, cơ hội, vị kỷ, ngay cả đảng viên và người dân chưa hiểu biết thấu đáo, thì ở đó họ sẽ bị lợi dụng. Nếu không có biện pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả và kịp thời thì các mưu toan đó sẽ có sức phá hoại khôn lường.
Nhiều người biết rằng, nước Mỹ có nhiều đảng phái khác nhau, nhưng hai đảng Dân chủ và Cộng hòa là hai lực lượng chính trị chi phối. Thoạt nhìn thì giữa hai đảng có vẻ đối lập, mâu thuẫn, nhưng thực chất cả hai đều bỏ phiếu ủng hộ luật pháp bảo vệ các trùm tư bản và tập đoàn kinh tế, bất chấp hệ lụy có thể gây thiệt hại tới lợi ích nhân dân. Từ trước đến nay, hai đảng này luôn chiếm ưu thế ở mọi cấp độ chính quyền, luôn khống chế nền chính trị nước Mỹ. Mô hình mà một số người coi là “lý tưởng” của thể chế “đa nguyên, đa đảng” này trên thực tế là không vì nhân dân, mà thậm chí còn đi ngược lại quyền lợi nhân dân. Hệ thống lưỡng đảng đã bắt rễ sâu trong nền chính trị Mỹ, cho dù có đảng thứ ba xuất hiện trong bầu cử Tổng thống thì cũng chưa bao giờ họ giành được thắng lợi. Tuy đôi khi các đảng thiểu số cũng giành được một số chức vụ trong chính quyền cấp dưới, nhưng hầu như không có vai trò quan trọng trong nền chính trị Mỹ. Có rất ít sự khác nhau về tư tưởng giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa; có chăng là ở chỗ, đảng Dân chủ có quan tâm đến các vấn đề xã hội hơn. Còn lại, hai đảng này rất giống nhau về các quan điểm cơ bản như: tán thành chủ nghĩa tư bản và các thể chế của nó, ủng hộ chính sách toàn cầu của Mỹ, phủ nhận chủ nghĩa cộng sản ở trong và ngoài nước Mỹ. Ðáng chú ý là trong 435 thành viên Quốc hội Mỹ có hơn một trăm người là triệu phú, riêng tại Thượng viện Mỹ có 1/3 thượng nghị sĩ là triệu phú. Chính người Mỹ đã nói về thể chế chính trị ở nước Mỹ như sau: “lợi ích của các tập đoàn kinh tế đã và đang được ngụy trang phục vụ trong bối cảnh đa nguyên đa đảng. Các tập đoàn này dùng ảnh hưởng cá nhân để đạt được các quyền quy định trong Hiến pháp đáng lẽ phải dành cho dân. Bởi các đảng phái đều được tài trợ từ nhiều tập đoàn kinh tế”, “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”. Theo AFP ngày 3-7-2006, người Anh xem nước Mỹ như là “một xã hội đầy rẫy tội phạm, không lịch sự, được điều hành bởi đồng tiền”; 77% người Anh tin rằng nước Mỹ không phải nơi soi sáng hy vọng cho thế giới. Ðó là bối cảnh mà hệ thống hai đảng thống trị ở Mỹ đã tạo ra. Paul Mishler – Giáo sư trường Ðại học bang Indiana, cho thấy thực chất vấn đề: “mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”, chế độ đa đảng của nước Mỹ “thực chất chỉ là một đảng”, là sự cầm quyền của đảng tư sản…
Cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng đa đảng với khuynh hướng một đảng đã phản ánh tính chất gay go, phức tạp của các xu hướng lựa chọn phát triển. Có “nhà dân chủ” cho rằng, thực hiện “đa đảng” sẽ có nhiều đảng cạnh tranh nên sẽ dân chủ hơn, tốt hơn là một đảng. Có đúng như vậy không? Câu trả lời dứt khoát là không! Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền. Lý tưởng và bản chất ấy được đánh giá là tiến bộ, tiên tiến khi cùng với việc quan tâm tới lợi ích của giai cấp sinh ra mình, đảng cầm quyền còn quan tâm tới lợi ích của mọi giai cấp, tầng lớp khác. Và sẽ bị đánh giá là phản tiến bộ, lạc hậu khi đảng cầm quyền chỉ vun vén lợi ích của giai cấp mình, bất chấp lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác.
Chúng tôi nghĩ rằng, Việt Nam không thực hiện chế độ “đa đảng” không phải vì chúng ta bảo thủ hay mất dân chủ như những người tự nhận là “nhà dân chủ”, “người yêu nước” vẫn rêu rao, mà đó là yêu cầu khách quan, vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển nền dân chủ, vì hạnh phúc của nhân dân. Ðảng và Nhà nước Việt Nam nhận rõ các vấn đề, hiện tượng tiêu cực trong xã hội như tham nhũng, lãng phí, thiếu dân chủ,… ở một số nơi và trong một số trường hợp, nên Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã tự giác xem xét lại chính mình, từ đó sửa chữa sai lầm để xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn. Ðổi mới hệ thống chính trị là một việc hệ trọng, tác động mạnh mẽ lên toàn xã hội, nên phải thực hiện thận trọng từng bước, nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, bảo đảm đất nước phải luôn có hòa bình để ổn định và phát triển. Không thể vì khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ ở nước ta, rồi đòi thực hiện “đa đảng”, đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Không ai có thể phủ nhận một sự thật là dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động, đồng thời cũng không thể phủ nhận được các thành tựu kinh tế – xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, với sự nỗ lực của toàn dân, đất nước đã có những bước tiến vượt bậc về mọi mặt, có vị thế ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế… Vậy tại sao một số người lại không thừa nhận những thành tựu mà chính gia đình, bản thân họ đang được thụ hưởng? Chẳng lẽ họ coi tham vọng cá nhân lớn hơn thiện chí, coi nhân dân chỉ là “con bài” trong trò chơi chính trị của họ? Tôi nghĩ, làm như vậy là quay lưng lại với các nỗ lực, quyết tâm vượt qua thách thức của toàn dân Việt Nam trong một giai đoạn cực kỳ quan trọng. Trong hiện tại và tương lai, không có một đảng chính trị nào có đủ uy tín, trí tuệ, bản lĩnh, kinh nghiệm thay thế Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước – đó là sự thật.
Không ai có thể phủ nhận vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam !
Amari TX
Hơn 10 năm trước, vì lý do gia đình, tôi tới định cư tại nước Mỹ. Tuy sống xa quê hương, nhưng tôi vẫn luôn coi mình là người Việt Nam, tôi vẫn không quên công ơn của chế độ mới. Vì như cha tôi bảo, nếu không có cách mạng, có lẽ tôi vẫn chỉ là người nông dân nghèo ở một làng quê nghèo, như cha tôi, ông tôi mà thôi. Hướng về Tổ quốc, tôi thật sự mừng vui khi đất nước phát triển và tôi chạnh buồn khi đất nước gặp khó khăn. Những ngày qua, khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố, đọc trên internet tôi thấy có một số người ở trong và ngoài nước mượn danh “yêu nước”, “vì dân tộc” để công bố ý kiến trên các báo ở hải ngoại và blog của cá nhân, từ đó dấy lên một làn sóng xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ Ðảng, Nhà nước, chế độ xã hội ở Việt Nam. Tôi thấy, một trong các tâm điểm các bài viết họ đăng tải là tập trung chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCS Việt Nam) đã được ghi trong Hiến pháp. Tôi rút ra nhận xét là: Trước khi đề cập đến vấn đề “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam, tác giả của các bài viết này thường “dạo nhạc” trước bằng cách hết lời ngợi khen nền dân chủ phương Tây, họ cho rằng, xã hội các nước phương Tây, với “đỉnh cao” là Mỹ, là “chuẩn mực” về dân chủ. Họ còn cho rằng, về mặt xã hội, chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới thật sự có dân chủ; ngược lại, xã hội duy trì theo cơ chế độc đảng lãnh đạo sẽ dẫn đến mất dân chủ, “độc tài”, “đảng trị”!?
Dù sống xa Tổ quốc, nhưng tôi vẫn thường xuyên cập nhật tình hình quê nhà, nên không lạ gì ý kiến mà họ đưa ra, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, đó vẫn là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có bài viết làm ra vẻ khách quan với vỏ bọc “đóng góp ý kiến”, “lời nói tâm huyết”, như: bài học của tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, nếu nhân dân mất lòng tin vào chính quyền sẽ mất tất cả; Ðảng có công lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, nhưng hiện nay “đã hết vai trò lịch sử” nên cần phải “trao lại cái quyền đó cho nhân dân” (?!)… Họ còn lớn tiếng hô hào đòi bỏ Ðiều 4 của Hiến pháp quy định ÐCS Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Lợi dụng việc ÐCS Việt Nam công khai tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác, họ tìm mọi cách tô vẽ, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm, gieo rắc hoài nghi, tâm lý bất mãn, bất bình trong nhân dân, với mục đích gây mâu thuẫn, chia rẽ nhân dân với Ðảng. Núp dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “tự do”, “công bằng xã hội”, họ còn thành lập tổ chức trên internet để tập hợp, lôi kéo, phát triển lực lượng để chống lại Ðảng và Nhà nước Việt Nam.
Từ một số viện dẫn, lập luận trên, tôi thấy họ đã cố tình “đánh lận con đen”. Họ không thấy rằng, trong tất cả các nền dân chủ hiện đại bao giờ cũng có đảng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Sự khác nhau chỉ là ở mục tiêu, phương thức lãnh đạo mà thôi. Ở Mỹ, Ðảng Dân chủ và Ðảng Cộng hòa thay nhau lãnh đạo. Ở Cộng hòa liên bang Ðức cũng như vậy, Ðảng dân chủ Thiên chúa và Ðảng dân chủ xã hội thay nhau cầm quyền. Còn ở Australia là vai trò của Ðảng Lao động và Liên Ðảng quốc gia – tự do… Vậy tôi xin được hỏi “các nhà dân chủ”, những người đang lớn tiếng tự nhận là “người yêu nước” ở trong và ngoài nước là: Nếu các vị sống ở Mỹ, Ðức, Australia thì các vị có thể gân cổ phê phán chế độ đó không dân chủ hay không? Theo nhận thức của tôi, về pháp lý, vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam đã được quy định tại Ðiều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 là hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Ðiều 1, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (năm 1966) ghi rõ: “Tất cả các quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”. Chúng ta hiểu điều này có nghĩa là: việc lựa chọn chế độ chính trị nào (thể chế tam quyền phân lập hay phân công phối hợp có sự giám sát của nhân dân, CNTB hay CNXH) và việc có ghi rõ điều đó vào Hiến pháp hay không hoàn toàn là quyền của mỗi dân tộc, không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ÐCS Việt Nam được Quốc hội quyết định ghi vào Hiến pháp là văn bản hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng.
Hiệu quả hoạt động của chính quyền chính là thước đo hiệu quả sự lãnh đạo của Ðảng. Ðiều lệ ÐCS Việt Nam khẳng định: “Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Ðảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Ðảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Ðảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội”. Cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam được xác định là: “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; theo tôi hiểu, Ðảng lãnh đạo Nhà nước song không điều hành thay Nhà nước; Nhà nước quản lý xã hội nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Ðảng. Trong lịch sử chúng ta đều biết, chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh lập nên vốn đa đảng. Nhưng trên thực tế của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau đó là chống đế quốc Mỹ, chỉ ÐCS Việt Nam mới có đủ khả năng tập hợp lực lượng, trở thành hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc, và đã “đứng mũi chịu sào” với bao nhiêu hy sinh to lớn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Vì vậy, đối với đại đa số nhân dân trong nước, ÐCS Việt Nam hiện thân cho quyền lực chính đáng từ trong lịch sử, và lúc này ÐCS Việt Nam đang nỗ lực tăng cường tính chính thống của mình, thông qua nỗ lực tìm ra con đường đúng đắn để phát triển đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống của mọi người dân, nghĩa là tạo nên sự hài hòa giữa các lợi ích, cũng như các tầng lớp xã hội. Kết quả là đã thấy rõ: Việt Nam đứng thứ hai ở châu Á về tốc độ tăng trưởng GDP. Trước những khó khăn của đất nước trong cơn lốc suy thoái kinh tế toàn cầu, trước các hạn chế, yếu kém trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội mà ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đang phải đối mặt, lẽ ra một số người tự xưng là “tâm huyết với đất nước” cần đồng tâm, đồng lòng cùng Ðảng và Nhà nước vượt qua khó khăn. Nhưng đáng tiếc là họ không làm như vậy mà lại thi nhau kêu gào trên các diễn đàn của internet, rồi rùm beng trên BBC, VOA, RFA, RFI… đổ hết mọi lỗi lầm cho Ðảng, rằng: Ðảng là nguồn gốc của mọi “bất ổn xã hội”, của quan liêu, tham nhũng và “phải chịu trách nhiệm trước nhân dân”… Từ đó họ kích động đấu tranh cho “đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập”!
Lập luận của họ đưa ra có thể làm phân tâm, gây hoài nghi đối với một số người còn thiếu thông tin, chưa hiểu biết nhiều, còn với tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, bản chất của vấn đề vẫn luôn được nhận thức đúng đắn. Rốt cuộc, điều mà những người đang lớn tiếng kia chỉ là muốn loại trừ vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam mà thôi, và không cần phải phân tích những nội dung sai trái trong từng lập luận của họ cũng thấy rõ ý kiến của họ là gì. Bởi vì, mọi người có thể thấy rõ tất cả những lập luận trên chỉ là thứ tư duy chính trị dân chủ đa nguyên mà mấy chục năm qua, các phần tử “hành nghề chống cộng cực đoan” sử dụng ở ngoài nước, như ở nước Mỹ. Tôi biết quan niệm của ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về dân chủ khác biệt về bản chất so với quan điểm của “các nhà dân chủ”, “người yêu nước” theo lập trường phương Tây. Dân chủ của nhân dân Việt Nam là dân chủ XHCN, thuộc về nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam – đại diện chân chính cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Hơn 80 năm qua, ÐCS Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhưng trong Cương lĩnh của mình, Ðảng cũng khẳng định rõ, Ðảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Thử hỏi nếu không có ÐCS Việt Nam, những người đang lớn tiếng kêu gọi “bỏ Ðiều 4 ra khỏi Hiến pháp” đã trưởng thành từ đâu, được đào tạo dưới chế độ xã hội nào, khi nói lên ý kiến như vậy, họ không thấy bứt rứt trong lương tâm hay sao?
Dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, sự nghiệp đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã giúp cho mọi người dân thuộc các thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của mình thông qua Nhà nước pháp quyền XHCN – nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cho nên hoàn toàn không cần tới cơ chế “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Lý luận và thực tiễn đều bác bỏ những vu cáo, bịa đặt về vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, đồng thời cũng trực tiếp khẳng định các luận điệu tuyên truyền “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam thực chất chỉ nhằm thực hiện mục tiêu chính trị đen tối của các thế lực đang có tham vọng đi ngược lại xu thế phát triển tất yếu của đất nước. Sự thật trước sau vẫn là sự thật. Không ai có thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam! Quá khứ và hiện tại đã khẳng định chân lý đó. Việc làm của mấy người mượn danh “yêu nước”, tự coi mình “có trách nhiệm với dân tộc” không đánh lừa được những người yêu nước chân chính và có trách nhiệm thật sự đối với dân tộc. Tôi nghĩ, để đưa đất nước và dân tộc đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nhân dân trong nước cần thống nhất, đồng thuận cùng ÐCS Việt Nam tiếp tục phấn đấu trên con đường mới. Sự nghiệp đổi mới đang còn nhiều khó khăn, thách thức. Muốn đạt được các mục tiêu đã đề ra phải có những nỗ lực vượt bậc của toàn dân tộc và nhân dân Việt Nam càng tin tưởng vào trí tuệ, bản lĩnh lãnh đạo của Ðảng, vào sự đoàn kết, nhất trí của toàn dân dưới ngọn cờ vinh quang của ÐCS Việt Nam. Dù ở nước ngoài, tôi vẫn tin như vậy, bằng chứng thuyết phục nhất đối với tôi là sự phát triển thần kỳ của đất nước mà tôi đã được chứng kiến sau mỗi lần về thăm quê hương. Dù ở xa Tổ quốc, tôi vẫn cố gắng góp phần nhỏ bé của mình cả về vật chất và tinh thần. Tôi hy vọng Báo Nhân Dân sẽ cho đăng bài này, vì đó là tấm lòng của một người con luôn gắn bó với quê hương, đất nước.
Freedom House kẻ “nghe hơi nồi chõ”
Theo phúc trình “Tự do Thế giới 2013” của tổ chức Freedom House (“Ngôi nhà tự do”) công bố thường niên kể từ năm 1972 khảo sát và xếp hạng 195 quốc gia và 14 lãnh thổ trên thế giới. Như “thường lệ” Việt Nam bị “Liệt” vào danh sách là nước không có tự do trong tất cả các bảng xếp hạng 2012 của tổ chức này bao gồm “Tự do Trên thế giới”, “Tự do Báo chí ”, và “Tự do trên mạng Internet ”…Theo tôi nghĩ sẽ chẳng có gì đáng nói bởi những thông tin mà Freedom House đưa ra, rồi cáo buộc đối với Việt Nam là xuất phát từ động cơ, quan điểm chính trị áp đặt, thù địch mà trong một thời gian dài họ luôn “tấu lên” mỗi khi cần, bất chấp những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong tất cả các lãnh vực về quyền tự do và quyền con người.Đối với Việt Nam, Freedom House chỉ dựa vào những lời vu cáo, bịa đặt của một số phần tử phản động ở hải ngoại và một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước để đưa ra nhận xét không phản ánh đúng sự thật những gì đang diễn ra ở Việt Nam. Mấy năm gần đây, Freedom House luôn thể hiện quan điểm, cách nhìn sai lệch một cách cố hữu về Việt Nam.Theo nhận xét của bản thân tôi Freedom House không có bất cứ một hoạt động mang tính khảo sát khách quan nào dựa trên chính thực tế hoạt động báo chí, internet , mà chỉ hành động rất phiến diện kiểu “hóng hớt”, “nghe hơi nồi chõ”, không phản ánh đúng thực chất những gì đã và đang diễn ra hàng ngày ở Việt Nam .Việt Nam là một trong những nước luôn bị một số lực lượng thiếu thiện chí ở Mỹ và phương Tây dùng vấn đề tự do báo chí, Internet để chống phá.Từ đó cho chúng ta thấy rằng thái độ của Bà Sarah Cook đại diện cho Freedom House là phiến diện, xuyên tạc sự thật, cố tình tạo cớ để các phần tử xấu, phần tử cơ hội lợi dụng công kích tình hình tự do báo chí, tự do Internet ở Việt Nam. Sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã chứng minh, phản bác hành động sai trái của Freedom House tôi xin trích dẫn số liệu sau .Theo số liệu thống kê của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) năm 2010. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng internet cao nhất trong khu vực Đông Nam Á, chiếm 31,06% dân số, chỉ đứng sau 3 nước là Xin-ga-po (70%), Ma-lai-xi-a (55,3%) và Bru-nây (50%); nhưng đứng trước 6 nước: Phi-líp-pin (25%), Thái Lan (21,2%), In-đô-nê-xi-a (9,1%), Lào (7%), Cam-pu-chia (1,26%), Mi-an-ma (0,22%); đồng thời vượt khá xa tỷ lệ trung bình của khu vực Đông Nam Á (17,86%), khu vực châu Á (17,27%) và thế giới (21,88%). Nhân đây, cần nhắc lại rằng, sự thật báo chí ở Việt Nam trái ngược hẳn với những gì Freedom House vu cáo. Thật vậy, tính đến tháng 3/2012, ở Việt Nam có gần 17.000 nhà báo, hơn 19.000 hội viên nhà báo, hàng nghìn phóng viên hoạt động ở 786 cơ quan báo in, với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp, sản xuất 62 kênh truyền hình. Chúng ta thấy rằng, Internet ở Việt Nam ngày càng phát triển và quyền tự do Internet được đảm bảo. Hiện nay đã có hơn 30 triệu người Việt Nam sử dụng Iternet (chiếm gần 35,3% dân số).Những con số nêu ra trên đây dù chưa được đầy đủ nhưng nó là một minh chứng cho nhiều sắc màu về tự do truyền thông từ đó tôi có thể nói rằng đây đủ cơ sở để khẳng định rõ ràng Việt Nam không bao giờ có quyết định nào ngăn cản, khống chế Internet mà luôn tạo điều kiện để phát triển dịch vụ này đi đúng hướng. Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28-8-2008 đã quy định rằng” Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ internet, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về internet.Có biện pháp để ngăn chặn những hành vi lợi dụng internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, vi phạm các quy định cuả pháp luật và để bảo vệ trẻ em khỏi tác động tiêu cực từ internet”.
Vạch mặt những kẻ mạo danh
Như nhiều người Việt Nam hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ, tôi thường theo dõi tin tức trong nước qua trang điện tử của các tờ báo chính thống ở trong nước, nhằm tránh tiếp xúc với loại thông tin không đúng sự thật, và bịa đặt, xuyên tạc vốn nhan nhản trong cái gọi là “ma trận internet”. Vừa qua, trong khi vào mạng để đọc tin tức và tìm tư liệu, tôi thấy có một blog được thiết kế dưới hình thức báo điện tử có địa chỉ là: nhandan… Thoạt đầu tôi ngỡ đây là trang điện tử của Báo Nhân Dân. Ðọc một số tin tức thì tôi khẳng định đó là một trang điện tử giả mạo. Người làm blog này đã copy nguyên giao diện của Báo Nhân Dân điện tử với đầy đủ trang mục, có link đến trang, mục của Báo Nhân Dân điện tử, nhưng họ đã thay đổi nội dung slogan, cho đăng rất nhiều bài lấy từ các trang mạng chống cộng cực đoan ở nước ngoài, hoặc bài viết của một số người lâu nay vẫn núp dưới chiêu bài “tự do, dân chủ, tự do báo chí” để xuyên tạc, bôi nhọ Việt Nam.
Ðối với tôi, sự kiện trên đây không có gì mới mẻ. Tôi từng biết tới một số website, blog giả mạo mà điểm chung của chúng là gắn với tên người cụ thể, rất giống các trang báo điện tử thật, tập trung đăng tải nội dung liên quan mà nó giả danh. Nếu không phát hiện điều này, người đọc rất dễ nhầm lẫn, tưởng đó là thật. Giả dụ như trang điện tử giả mạo Báo Nhân dân điện tử, người đọc rất dễ bị lừa nếu chỉ lướt qua slogan dưới “măng-sét”. Sự xuất hiện ngày càng nhiều trang điện tử giả đã tạo nên sự quan ngại cho nhiều người, cần phải lên án. Theo tôi, nếu là người lương thiện, không ai lại làm cái việc xấu xa như thế. Những website, blog giả mạo này thường nhằm vào các trang báo điện tử của những tờ báo có uy tín, có ảnh hưởng lớn trong xã hội và người xem dễ bị mắc lừa vì ngỡ đó là thông tin chính thống. Và khi website, blog giả mạo này có được lượng người đọc (mà họ thường gọi là “con mồi”) nhất định, lúc đó đối tượng kẻ chủ mưu sẽ đăng tải những thông tin sai lệch về cá nhân, tổ chức, tuyên truyền chống nhà nước, hô hào ủng hộ cho các tổ chức, đảng phái phản động. Lúc đó, hậu quả mà các đối tượng giả mạo này gây ra là khó có thể lường hết.
Hiện nay trên internet, có hàng loạt các website, blog giả danh các vị lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chính phủ, các tổ chức xã hội, các tờ báo lớn. Tôi nhận ra được sự giả mạo vì ngoài việc xem xét hình thức, cách đưa tin, tôi còn so sánh với trang điện tử chính thức, hoặc qua đọc các bài báo trong nước đã vạch rõ hiện tượng xấu xa đó. Lợi dụng môi trường mở internet, tận dụng ưu thế có máy chủ đặt tại nước ngoài, những kẻ dựng ra các trang mạng này cố tình gieo rắc thông tin không chính thống, cóp nhặt thông tin từ các trang mạng phản động, chống cộng cực đoan để đăng tải. Thủ đoạn thường thấy ở họ là ngụy tạo thông tin, đưa thông tin xuyên tạc, bịa đặt xen lẫn thông tin chính thống, có thật, để tạo lòng tin đối với người đọc. Thậm chí, các trang mạng này còn qua đó suy diễn, bịa đặt, vu khống Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Rất đáng lo ngại là trong thời gian gần đây, loại thông tin như vậy xuất hiện với tần suất ngày càng cao. Qua đó chúng ta càng thấy rõ ý đồ của các cá nhân, các tổ chức luôn cố tình chống phá Việt Nam, họ không từ bỏ âm mưu và sử dụng mọi hình thức, thủ đoạn, kể cả thủ đoạn bẩn thỉu. Trong “thế giới phẳng” hiện nay, họ càng triệt để lợi dụng mạng thông tin toàn cầu để ra sức hô hào, cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “tự do internet” để mở hướng tấn công mới, chống phá đất nước.
Tôi có thể nói rằng, bất cứ quốc gia nào, dù có vỗ ngực là có nền dân chủ bậc nhất thiên hạ như nước Mỹ, nhưng cũng không bao giờ cho phép “mở cửa internet” tự do một cách tuyệt đối. Vì vậy tôi nghĩ, tạo điều kiện cho sự phát triển của intetrnet không đồng nghĩa với việc “thả dàn” cho mọi loại hoạt động, để kẻ xấu mặc sức tung hoành mà không có sự kiểm soát của cơ quan chức năng. Khá nhiều tổ chức phi chính phủ ở Mỹ đang giám sát hệ thống kỹ thuật và tên miền internet. Các tổ chức này hoạt động dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Mỹ, và chính thức thuộc Bộ Thương mại Mỹ. Cơ quan internet quản lý số liệu và tên miền được chuyển nhượng (Icann) đặt tại Mỹ, sắp xếp các hệ thống số và mã số, quyết định địa chỉ internet mới nào được phép và được mang tên miền “.org”, sau đó cho phép các nhà cung cấp dịch vụ internet phân bổ địa chỉ cụ thể. Mạng tin Dự báo thị trường (Anh) số mới đây cho rằng, chiến lược kiểm soát thế giới thông qua kiểm soát internet đã trở thành một chiến lược chủ đạo của Mỹ. Từ việc bảo vệ cơ sở hạ tầng mạng dưới thời Tổng thống Bill Clinton đến hoạt động chống khủng bố mạng dưới thời George W. Bush, và “chặn trước trên mạng” dưới thời Barack Obama, chiến lược an ninh thông tin quốc gia của Mỹ đã phát triển từ chiến lược phòng vệ sang chặn trước. Mới đây, Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman – Chủ tịch Ủy ban An ninh nội địa Mỹ, đã trình Quốc hội nước này dự luật có tên là Bảo vệ không gian mạng như là tài sản quốc gia. Theo đó, mỗi khi xảy ra tình huống khẩn cấp, Tổng thống Mỹ có thể ra lệnh cho Google, Yahoo và các bộ máy tìm kiếm thông tin trên mạng khác phải ngừng cung cấp dịch vụ. Các nhà cung cấp dịch vụ internet khác có trụ sở tại Mỹ cũng có thể bị đặt dưới sự kiểm soát của Tổng thống mỗi khi xảy ra “tình huống khẩn cấp về an ninh internet”. Như vậy, Tổng thống Mỹ sẽ là người có quyền mở hoặc đóng cửa internet. Mục đích cuối cùng của Mỹ là thiết lập khả năng mở và đóng một hoặc nhiều phần mạng internet theo ý muốn.
Chúng tôi cho rằng, cần phải phân biệt rõ ràng, ai là người quan tâm sử dụng internet để phục vụ những mục đích tiến bộ, vì sự tự do chân chính của con người và xã hội, còn ai coi internet là “vũ khí lợi hại” để tấn công, xâm phạm quyền tự do chính đáng và phương hại đến lợi ích của các quốc gia, dân tộc. Chỉ có nhận thức đúng vấn đề này mới có cơ sở nhận diện, lật tẩy được “chân tướng” của những kẻ lợi dụng mạng internet để chống phá Ðảng và Nhà nước Việt Nam, cố tình bôi nhọ, xuyên tạc những giá trị, thành quả nhân dân đã đổ bao mồ hôi, xương máu mới tạo dựng nên. Từ việc làm nhiễu loạn thông tin đến việc làm nhiễu loạn dư luận xã hội, làm cho người dân suy giảm niềm tin, phân hóa, chia rẽ,… đó là lộ trình mà các thế lực thù địch đang rắp tâm thực hiện. Do vậy, hơn lúc nào hết, Nhà nước Việt Nam cần phải tăng cường quản lý an ninh mạng, xây dựng những cơ chế, chính sách phù hợp để tiếp tục phát triển internet đúng hướng, lành mạnh, đồng thời cần đưa ra các quy định, chế tài rõ ràng, có tính khả thi cao để quản lý internet chặt chẽ, hiệu quả, góp phần giữ vững an ninh tư tưởng, thông tin, văn hóa và bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Hậu quả của việc giả mạo những tờ báo điện tử chính thống sẽ nghiêm trọng hơn rất nhiều, vì những tờ báo thật sẽ bị những kẻ giả danh làm phương hại đến uy tín khi đăng tải những thông tin, hình ảnh xấu. Những thông tin trên các trang báo mạng giả này sẽ gây những tác hại khôn lường, thậm chí ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống xã hội, cả về chính trị, an ninh quốc gia. Dẫu biết rằng việc đăng ký mua một tên miền nào đó là chuyện bình thường, nhưng dùng nó để giả danh nhằm mục đích khác thì đã vi phạm pháp luật và cần được xử lý nghiêm. Ðồng thời, phải coi việc giả mạo các trang báo điện tử chính thống là hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là hành vi thiết lập trang thông tin điện tử không có giấy phép, xuất bản báo điện tử mà không có giấy phép, cũng như xâm phạm quyền lợi hợp pháp của tổ chức theo pháp luật dân sự. Trong thời buổi khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, thì đối tượng và hình thức phạm tội cũng biến đổi khó lường, việc ngăn chặn khó lòng đạt được kết quả mỹ mãn. Vì thế cần nêu cao vai trò thượng tôn pháp luật.
Là người Việt Nam ở xa Tổ quốc, chúng tôi luôn mong muốn báo chí chính thống thực hiện tốt vai trò định hướng dư luận xã hội, thông tin nhanh nhạy, kịp thời về những sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Song tôi cũng đã nhận thấy trong một số trường hợp, việc cung cấp thông tin của báo chí trong nước chưa kịp thời, hoặc chưa đầy đủ, nên đã tạo ra một khoảng trống trước nhu cầu tìm hiểu thông tin đích thực cho nhân dân trong nước, cũng như bà con người Việt ở nước ngoài. Triệt để lợi dụng cơ hội đó, một số trang mạng phản động đã bình luận, xuyên tạc, gieo rắc các thông tin xuyên tạc quan điểm, đường lối của Nhà nước hòng thực hiện ý đồ xấu xa của họ. Cuối cùng theo tôi, cách thức ngăn chặn tốt nhất vẫn là bức tường tinh thần của cá nhân, tức là nâng cao ý thức và nhận thức của mỗi người khi tham gia vào xa lộ thông tin toàn cầu.
Hiến pháp “của chúng ta”

“Đi biểu tình” là thể hiện lòng yêu nước?

![[IMG]](http://hoangtran204.files.wordpress.com/2012/04/picture173.jpg?w=272&h=200&h=155)
Thật ngạc nhiên khi được nghe những lời phát biểu của vị này khi sử dụng ngôn từ kích động thù hận dân tộc, thậm chí kích động chiến tranh. Họ còn hăng hái phát biểu khi được báo chí nước ngoài phỏng vấn đưa ra những nhận định phiến diện, hồ đồ và các bài viết, bài phỏng vấn của họ được báo chí CCCĐ ở hải ngoại “tung hứng”, “giật tít” với các chức vụ hiện tại hoặc trước đây từng đảm nhiện trong chính quyền. Họ càng viết, càng nói càng nhận ra họ không muốn giữ gìn hòa bình để phát triển đất nước, dường như trong thâm tâm, họ không cần quan tâm tới vận mệnh của dân tộc Việt Nam đang vượt qua mọi khó khăn để giữ gìn sự vẹn toàn của đất nước, để xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh . Họ tìm đủ mọi lý lẽ để kết luận phải đi biểu tình chống nước khác mới là yêu nước?
Đám ma trơi VHRN trên đất Mỹ
CPJ đi ngược lại tiêu chí “khách quan, tôn trọng sự thật”
Ngày 14-12-2012 “mõ làng” VOA việt ngữ đã có cuộc phỏng vấn ông Shawn Crispin – đại diện cấp cao của CPJ (Ủy ban bảo vệ nhà báo) ở Ðông – Nam Á. Ông này cũng chính là tác giả “phúc trình” về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Theo cái gọi là “phúc trình” đó, CPJ xếp Việt Nam vào nhóm các nước mà họ gọi là “tấn công, đàn áp báo giới”, kèm theo là một số kết luận có tính vu khống, như: “đàn áp nhiều ký giả, những người viết nhật ký trên mạng (tức blogger)”, “vô cớ bắt giam một số phóng viên”, “ngăn chặn mọi trang web và các tài liệu trên mạng”!? Theo ý kiến của tôi, đây là những đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan và có tính định kiến về tình hình báo chí, cũng như hoạt động của các nhà báo Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, cùng với nghĩa vụ khi tham gia ký kết các công ước quốc tế, mỗi quốc gia đều có các quy định về hành nghề báo chí, hoặc dưới dạng đạo luật của quốc gia, hoặc các quy chế hoạt động do tổ chức nghề nghiệp đưa ra. Những quy định này luôn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội và chính trị của quốc gia đó. Trên thế giới hiện nay, hầu hết các quốc gia thể chế hóa quyền tự do thông tin và đưa thông tin qua những văn bản mang tính chất pháp lý cao nhất (hiến pháp) và văn bản luật thành văn, trong đó có Việt Nam. Một số quốc gia đưa các chế định về bảo vệ nhà báo, nghề báo vào trong Bộ luật Hình sự. Luật Báo chí của Việt Nam cũng khẳng định quyền của nhà báo khi thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp lợi ích đất nước và nhân dân, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Vì thế, việc Nhà nước Việt Nam quản lý báo chí bằng luật, hoàn toàn không phải là sự cản trở quyền tự do báo chí của người dân, cũng như hoạt động báo chí của các nhà báo.
Việc CPJ và một số phương tiện truyền thông kiểu “mõ làng” phương Tây cố tình thêu dệt bức tranh “u ám” về báo chí ở Việt Nam, một lần nữa thể hiện sự thiếu thiện chí và định kiến của họ về sự phát triển của báo chí Việt Nam. Chẳng lẽ các vị ở CPJ lại không biết hay cố tình “quên” những con số thống kê ở Việt Nam như: hơn 550 cơ quan báo chí, hơn 19 nghìn hội viên Hội Nhà báo, hơn 700 ấn phẩm báo chí với các loại hình từ báo viết, báo nói, báo hình đến internet, và hiện nay, mỗi người dân được thụ hưởng tới 7,5 tờ báo. Ðặc biệt, cần nhấn mạnh rằng, sự phát triển nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu được thông tin không gặp bất cứ một sự trở ngại nào, đó chính là biểu hiện sinh động của tự do báo chí ở Việt Nam, thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người dân. Nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động vì sự phát triển phồn vinh của đất nước, Luật Báo chí Việt Nam đã khẳng định, báo chí không chỉ phản ánh trung thực tình hình phát triển của đất nước, thế giới, mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân. Trong khi đó, trong môi trường bùng nổ thông tin như hiện nay, không phải mọi nguồn thông tin về những sự kiện quan trọng của xã hội đều là chính xác, nhất là lối “chụp giật” chưa kiểm chứng đã vội vàng đưa tin. Mới đây, Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử các bị cáo là blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần với tội danh “tuyên tryền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo khoản 2 Ðiều 88 của Bộ luật Hình sự chẳng hạn. Theo cáo trạng, trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010, những người chủ trương cái gọi là “câu lạc bộ nhà báo tự do” này đăng tải 327 bài lấy từ các blog, website của các tổ chức “chống cộng cực đoan” ở hải ngoại, có 26 bài chứa nội dung kích động lật đổ chế độ. Hiển nhiên, việc viết bài trên blog, mạng xã hội có nội dung xuyên tạc vu cáo, chống chính quyền là vi phạm luật pháp Việt Nam, và họ bị pháp luật xét xử. Theo dõi trên báo chí, được biết, qua tài liệu của cơ quan điều tra, các nhân vật mà CPJ đề cập đã có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia; họ hành động có tổ chức, có phân công nhiệm vụ cụ thể, thậm chí có sự cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Họ tàng trữ, tán phát tài liệu có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước Việt Nam rồi đưa lên internet nhằm kích động, gây nghi ngờ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước.
Ngay tại nước Mỹ, nơi được mệnh danh là “thiên đường tự do”, thì luật pháp của các tiểu bang quy định rất rõ về vấn đề này và đã không ít người đã bị bắt và xử lý. Ở Việt Nam, số người dùng mạng xã hội đang tăng lên nhanh chóng. Theo thống kê mới nhất, trong số đối tượng 18 tuổi trở lên có tài khoản mạng xã hội thì: 43% dân số có một tài khoản, 25% có hai tài khoản, 13% có bốn tài khoản trở lên. Theo số liệu từ DoubleClick Ad Planner, trong tháng 1-2012, lượng người dùng internet tại Việt Nam là 23 triệu (chiếm26% dân số), lượt xem là 18,4 tỷ. Về mạng xã hội ở Việt Nam, Zing Me (me.zing.vn) có lượng người dùng cao nhất (8,2 triệu), thời gian truy cập nhiều nhất (1 tỷ phút), lượt xem 540 triệu; thứ hai là Facebook với 5,6 triệu người dùng, thứ ba là yume.vn (2,2 triệu người dùng), thứ tư là tamtay.vn (1 triệu người dùng). Theo Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông – Việt Nam), công cụ tìm kiếm và mạng xã hội là hai dịch vụ được hàng chục triệu người dùng internet sử dụng rộng rãi nhất (100% sử dụng tìm kiếm, 80% sử dụng mạng xã hội). Tính đến tháng 3-2012, trong lĩnh vực thông tin điện tử, Việt Nam có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp. Sự tương tác giữa các loại hình thông tin này đang diễn ra vô cùng sôi động. Ðương nhiên, dù ở Việt Nam hay ở quốc gia khác trên thế giới, việc thông tin trên internet đều phải tuân thủ các quy định, nguyên tắc cụ thể, các thông tin đăng tải phải bảo đảm tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thóa mạ cá nhân và tổ chức là phạm pháp và đương nhiên người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Chẳng lẽ các vị ở CPJ lại không biết, mặc dù Hoa Kỳ không có một bộ thông tin, các hệ thống truyền thông và truyền hình tư chủ động làm công việc trên căn bản tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, theo mức độ tự kiểm, lương tâm nghề nghiệp. Người làm báo, truyền thông và truyền hình tại Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới khi có nhiều quyền hành và thế lợi thì cũng có nhiều trách nhiệm và bổn phận, nhất là về nghề nghiệp trọng hiến pháp, trọng pháp luật và về luân lý xã hội, tôn trọng công lý, lẽ phải và lý tưởng nhân đạo. Do đó, thế lực của báo chí truyền thông còn phải tương xứng với sứ mạng đăng tải tin tức xác thực, thông tin kiến thức và phổ biến những điều cần biết để người dân tìm hiểu, chọn lựa thái độ liên hệ. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, báo chí phải tuân theo hiến pháp và luật pháp hiện hành quy định tự do tin tức (Freedom of Information Act) để thi hành nghiệp vụ phóng sự, điều tra, phổ biến sự thật. Khi báo chí đưa tin tức thất thiệt với dụng ý khai thác, trục lợi sẽ mất quyền tự do ngôn luận (unprotected speech), sẽ bị chế tài; tòa soạn, phóng viên, và người đăng tin thất thiệt có thể bị liên đới về mặt trách nhiệm dân sự, nếu họ chủ tâm đăng tải hoặc tái đăng tin tức có tính cách mạ lỵ, phỉ báng, sai sự thật. Vì thế nhà báo cần thận trọng kiểm soát bài vở đăng tải, phải kiểm chứng tài liệu và nguồn gốc tin tức sử dụng.
Ngày nay ai cũng biết, internet chứa đựng vô số thông tin, có thể là thông tin hay, chính xác, có giá trị, nhưng cũng có thể là tin “rác”, hoặc chỉ là thông tin thất thiệt, thiếu kiểm chứng. Với Việt Nam, trong số đó có cả loại thông tin của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Nếu không tôn trọng hiến pháp, nếu không bênh vực, hướng tới tinh thần dân chủ và lý tưởng nhân đạo, báo chí sẽ đi ngược công lý và lẽ phải, sẽ lầm lẫn, gây ảnh hưởng xấu với quần chúng. Trên thực tế, bên cạnh một số trang mạng xã hội đã được cấp phép ở Việt Nam, các thế lực thù địch còn lợi dụng internet để xây dựng rất nhiều website, đặt máy chủ ở nước ngoài, đăng tải các thông tin, luận điệu phản động, sai trái, kích động, trái thuần phong mỹ tục,… nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Những thế lực này, với tư cách thành viên của các trang mạng xã hội, đã đưa lên mạng những bình luận thiếu khách quan hoặc thông tin sai sự thật, thậm chí bịa đặt, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, bôi nhọ hình ảnh, nói xấu chế độ.
Ở Hoa Kỳ, dù báo chí được mệnh danh là “đệ tứ quyền” (đứng sau lập pháp, hành pháp, tư pháp), song dù hoạt động dưới bất cứ hình thức nào, bất cứ ở đâu, do bất cứ lực lượng nào đảm trách thi hành thì “đệ tứ quyền” vẫn cần tôn trọng những tiêu chuẩn căn bản về tự do ngôn luận, phẩm giá nhân bản, công lý và nhân ái. Bởi vậy để hạn chế những thông tin xấu và tiêu cực, không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng cần có biện pháp để ngăn chặn. Ðiều này thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo vệ chế độ, bảo vệ các giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc. Phóng viên đưa tin sai sự thật, có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Luật Báo chí, thì phải chịu hình phạt của luật pháp. Ðó là việc làm thể hiện tính nghiêm minh của Nhà nước pháp quyền và sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam, điều đó hoàn toàn không phải là cản trở hoạt động báo chí của các nhà báo. Việc CPJ phê phán các biện pháp chính đáng và cần thiết đó là hoàn toàn sai trái, nếu không nói là tiếp tay cho cái xấu. Vì thế, cần khẳng định, với lời lẽ vu cáo và xuyên tạc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, CPJ đã đi ngược lại tiêu chí “khách quan, tôn trọng sự thật” vì sự phát triển của báo chí của Việt Nam cũng như của các nước trên thế giới.
Quyền con người và giá trị truyền thống dân tộc
Khẳng định lại các mục đích, nguyên tắc trong hiến chương ASEAN, nhấn mạnh cam kết đối với Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR), hiến chương liên hợp quốc…. Tuyên bố này sẽ góp phần xây dựng khuôn khổ hợp tác nhân quyền ở khu vực và đóng góp vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.Trong phần Các Nguyên tắc chung, Tuyên ngôn nhấn mạnh: “Việc hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được cân bằng với việc thực hiện các nghĩa vụ tương ứng”; “Việc thực hiện các quyền con người phải được xem xét trong bối cảnh khu vực và quốc gia dựa trên sự thừa nhận sự khác nhau về chính trị, kinh tế, pháp lý, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo”; “Việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản phải chịu những giới hạn theo quy định của pháp luật chỉ nhằm mục đích bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của người khác và để đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia, trật tự công cộng”.
Tổng thư ký ASEAN ông Surin Pitsuwan đã ca ngợi thỏa thuận “Tôi nghĩ đây là một diễn biến trọng đại các nhà lãnh đạo vừa ký tên trong một bản tuyên ngôn, cam kết chính họ, mỗi chính phủ, mỗi quốc gia sẽ theo đuổi các chuẩn mực cao nhất, đang có hiện nay và đang có hiệu lực. Và chắc chắn văn bản này có thể được sử dụng để giám sát cách hành xử, bảo vệ và phát huy nhân quyền tại khu vực, trong các nước thuộc khối ASEAN.”
Vấn đề này hiện đang là vấn đề gây tranh luận của một số nước và một vài tổ chức về nhân quyền.Tuyên bố cũng không có tính bắt buộc này kêu gọi chấm dứt các hình thức tra tấn, bắt giữ vô lý cũng như các hình thức xâm phạm nhân quyền khác, một số điều khoản trong tuyên bố này nói nhân quyền có thể bị hạn chế vì những lý do an ninh, trật tự công cộng hoặc đạo đức, những điều khoản như vậy có thể bị lạm dụng để bào chữa cho sự vi phạm nhân quyền. Nó cũng có các điều khoản cho phép chính quyền nói mình không phải thi hành vì hoàn cảnh quốc gia và ngay từ đầu họ đã tạo ra lỗ hổng.
Tuy nhiên đã có những người chỉ trích nói rằng “bản tuyên bố này thiếu sót và sẽ mang lại cho các nước liên hệ lý do để làm ngơ, thay vì bảo vệ” ? và “nhân quyền là các phần trong bản dự thảo trước đây đề nghị rằng các quyền sẽ được cứu xét trong “bối cảnh quốc gia và khu vực”. Ông Phil Robertson thuộc tổ chức hoạt động cho nhân quyền Human Rights Watch có những phát biểu trên VOA Việt ngữ theo tôi đó là nhận định cực đoan và phiến diện ông ta nói :“Quý vị không thể có một ngoại lệ cho quốc gia và khu vực. Quý vị không thể đặt ra hàng loạt trường hợp cá biệt, như đạo đức xã hội chẳng hạn, mà tất cả các luật này sẽ không áp dụng. Tất cả những gì họ làm là đặt ra những kẽ hở và rồi tìm cách trau chuốt chúng.”
Kẻ “ma đầu” nhân danh bảo vệ quyền con người !
Trong nội dung “Thông cáo báo chí” Võ Văn Ái lớn giọng “Phải trả tự do cho những người này và phải chấp nhận đền bù cho họ …”? Ông ta có cái quyền gì mà ra lệnh cho một nhà nước hợp pháp đang lãnh đạo 90 triệu dân ? chỉ có kẻ đầu óc hoang đường mới có những phát ngôn ngông cuồng như vậy.Theo sự tìm hiểu của bản thân tôi về việc thực hiện quyền con người và sự thúc đẩy nó đạt đỉnh thăng hoa nhất đó là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia , mỗi dân tộc. Việt Nam cũng như các quốc gia khác có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế mà đặc biệt là hiến chương liên hợp quốc. Nhưng do hoàn cảnh khác biệt về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người ở mỗi quốc gia có thể khác nhau. Hợp tác đối thoại giữa các quốc gia nhằm mục đích thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu thực tế, cần thiết khách quan chứ không phải là sự quy chụp võ đoán bất chấp thực tế.Thật khó mà kể hết những hoạt động của Võ Văn Ái chống phá đất nước và dân tộc Việt Nam mà đặc biệt là với bà con phật tử và Giáo hội Phật giáo Việt Nam . Võ Văn Ái là tên đầu cơ trục lợi chính trị một cách ma mãnh nhất, ông ta đã không từ một thủ đoạn nào với mục đích duy nhất là đánh bóng tên tuổi và kiếm chác tiền bạc từ các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và của bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một điều lẽ tất nhiên là khi nhận tiền của ngoại bang là phải chấp nhận những điều kiện, những hoạt động phục vụ cho đường lối chính sách của tổ chức đó thì đồng nghĩa với thân phận làm tay sai, điều này thì Võ văn Ái không thể phủ nhận được . Vậy thì những điều mà Võ Văn Ái lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, quyền làm người của dân tộc Việt Nam như ông ta đã cao giọng nhằm phục vụ cho đường lối sách lược nào? cho thế lực ngoại bang hay cho dân tộc Việt Nam? Đúng là con người gian manh , một tên “ma đầu” về chính trị tự khoác lên người tấm áo choàng “bảo vệ quyền làm người” nhưng mục tiêu của ông Ái là làm tay sai để được trả tiền. Những việc làm của Võ văn Ái đã để lại những hậu quả tai hại là Phật giáo Việt Nam bị chia rẽ, rối ren . Đồng thời với hoạt động báo chí, Ái còn lập tổ chức “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” như đã nói, do chính Ái làm chủ tịch và điều hành. Chúng ta thấy Võ văn Ái hay “mở sô” phỏng vấn trên các “mõ làng” như VOA, RFA, RFI… để Ái tự quảng cáo, đánh bóng, phô trương, phóng đại thành tích chống Cộng và tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam hay tự do tôn giáo bằng bất kỳ thủ đoạn nào .Võ Văn Ái chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử chống cộng cực đoan (CCCĐ) lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam. Đối với Võ Văn Ái, thì tất cả người dân trong nước đều là những “nạn nhân” của chế độ cộng sản cầm quyền ,không có “nạn nhân” cũng phải cố tạo, cố nặn ra để được lên tiếng đánh bóng cái mác “bảo vệ quyền làm người” với chức danh chủ tịch tự phong của mình .
Năm 1983 trong khoảng thời gian này đời sống nhân dân trong nước gặp nhiều khó khăn vì bị cấm vận cầm đầu là Hoa Kỳ thì ở hải ngoại mọc lên một số tổ chức chống phá nhà nước Việt Nam, lợi dụng cơ hội đó tổ chức của Hoàng Cơ Minh tiền thân của băng đảng khủng bố Việt Tân với các chiến dịch lừa bịp, hù dọa bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại quyên góp cho “kháng chiến quân” về “giải phóng quê hương” kiếm được rất nhiều tiền. Nắm bắt cơ hội “ngàn vàng” này Võ Văn Ái đẻ ra cái gọi là “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam “Theo tài liệu chính trên www.ned.org thì ông Ái nhận được sự tài trợ của NED, một tổ chức của Mỹ thành lập năm 1983 vào thời Tổng thống Reagan. Về hình thức, những hoạt động của NED không khác với những hoạt động của CIA nhưng được ngụy trang dưới danh nghĩa là tranh đấu của dân chủ. Khi được một thế lực nước ngoài đỡ đầu tài chính, thì ông ta lại càng tích cực gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam một cách điên cuồng . Võ văn Ái đứng ra thành lập “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam” tại Pháp như đã nói ở trên , rồi tự phong cho mình chức chủ tịch. Đồng thời lôi kéo một số người có tư tưởng hận thù chống cộng vào cuộc để khuếch trương và cho ra mắt tập san Quê Mẹ làm phương tiện chống phá Việt Nam mà nội dung không ngoài việc tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tôn giáo.
Ban đầu tập san có nội dung như văn nghệ, văn hóa, chính trị, thơ văn… do chính Ái viết dưới nhiều bút danh khác nhau và vài tác giả khác cộng tác. Quê Mẹ lúc ấy không gây được ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Chỉ đến khi nhận được sự tài trợ của National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức thuộc hạ viện Hoa Kỳ, từ đó Quê Mẹ bắt đầu “bẻ lái đổi hướng” sang mục tiêu chính là chính trị theo ý đồ của tổ chức tài trợ. Từ lập trường mang hơi hướng tinh thần hóa giải của Phật giáo Quê Mẹ chuyển sang lập trường chống Cộng một cách triệt để và cực đoan. Nội dung trọng tâm của tạp chí Quê mẹ là những tin tức liên quan đến “nhân quyền”, vi phạm “tự do tôn giáo” ở VN, sau khi được Võ văn Ái bóp méo xuyên tạc méo hoặc thổi phồng các tin tức này nhằm khuấy động dư luận quốc tế .
Sau đó Võ Văn Ái cho ra đời cái được gọi là “Phòng Thông tin Phật giáo hải ngoại” do Ái tự phong làm giám đốc. Đồng thời rủ rê một số tăng ni để hợp thức hóa thành lập “Văn phòng 2 Viện Hóa đạo” trực thuộc GHPGVNTN(giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất) hải ngoại . Cái “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” chỉ là một nhãn hiệu bịp bợm để lòe thiên hạ có như vậy mới vận động quyên góp tiền bạc của bà con phật tử. Sự thật thì đó chỉ là hang ổ cho ra lò những sản phẩm gọi là “Thông cáo báo chí” “kiến nghị” “điều trần” do Ái nghĩ ra chứa đựng nhiều thông tin bịa đặt đến mức thô thiển để chống Việt Nam chứ không dính dáng gì đến Phật giáo cả . Vì lập ra “Phòng Thông tin Phật giáo quốc tế” nên Võ Văn Ái cần có sự hậu thuẫn, ủng hộ của một số tu sĩ Phật giáo sống tại Việt Nam, đứng đầu là ông Quảng Độ. Giữa năm 2003, Võ Văn Ái sai tay chân của mình về Việt Nam, gặp ông Thích Quảng Độ, rồi đề nghị ông ta nhận lời làm người lãnh đạo GHPGVNTN . Và điều không ngoài dự đoán của nhiều người đối với ông thầy tu nhưng rất khoái chức tước, quyền lực, tháng 10/2003 ông Quảng Độ trao quyền quyết định cho Võ Văn Ái đứng ra tổ chức một đại hội bất thường của “GHPGVNTN hải ngoại” tại Mỹ. Mục đích đại hội này nhằm đưa ông Quảng Độ lên ghế “Tăng thống”. Đổi lại, ông Quảng Độ cho Võ Văn Ái toàn quyền sắp xếp nhân sự của Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo tại hải ngoại, đồng thời còn có quyền là “người phát ngôn của giáo hội” được ban hành “thông điệp” từ trong nước đến các GHPGVNTN ở nước ngoài . Cho nên Ái mô tả, thêm bớt, vẽ vời thế nào thì các “đệ tử” cứ theo đó mà làm. Ngược lại hầu hết các thông tin, thông điệp, giáo chỉ từ trong nước đến được với các GHPGVNTN ở hải ngoại cũng là qua Ái. Cho nên Ái đã mặc tình thao túng cả GHPGVNTN. Do vậy, Thượng Phối Sư Thông Trần từng nhận xét rằng: “Võ Văn Ái không khéo sẽ biến Thích Quảng Độ thành… nài ngựa!” là vậy. Bộ mặt thật của Võ Văn Ái là chỉ vì bạc tiền danh vọng mà trở thành tay sai đắc lực của ngoại bang nhằm thực hiện diễn biến hòa bình để rồi gây ra hận thù chia rẽ Phật giáo Việt Nam , Và tất nhiên cái vỏ bọc đấu tranh cho nhân quyền, tự do tôn giáo chỉ là phương tiện để Võ Văn Ái kiếm Fund(tiền tài trợ) của các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và moi tiền bà con người Việt ở hải ngoại .Trước đây dư luận trong cộng đồng khi đề cập đến vấn đề tài chánh thì bao giờ Võ Văn Ái cũng tìm đủ mọi cách tránh né , phủ nhận là ông ta không bao giờ ăn tiền của ai: “Tôi làm những chuyện không công, chẳng có lương bổng gì hết, do vậy mà chư tôn đức tăng ni, phật tử cho bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà không đòi hỏi, để lo cho cơ sở Quê Mẹ” ?. Ngày 26-9-2012 Võ văn Ái thể hiện là kẻ ôm chân ngoại bang một cách trơ trẽn nhất đó là viết thơ cho tổng thống Pháp Francois Hhollande yêu cầu Tổng Thống nhân danh nước Pháp lên tiếng can thiệp cho các bloggers vi phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam như Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và ký giả Hoàng Khương ?. Võ văn Ái đã lếu láo vu khống một cách trắng trợn rằng nhà nước Việt Nam đối xử với người dân trong nước “họ bị tù đày trên lãnh thổ họ như trong một nhà tù…” ? Xin hỏi ông Ái rằng hàng năm có trên nửa triệu người Việt từ hải ngoại về thăm cái mà ông gọi là “nhà tù” thì nhận xét của họ như thế nào ? kiều hối bà con gởi về “nhà tù” là 12 tỷ đô la trong năm qua thì ông có lý giải gì cho thỏa đáng với những lời vu khống vô căn cứ của ông ? Vẫn chưa hết ông Ái còn cao giọng : “Nhân danh Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, xin được nói lên mối âu lo trước muôn nghìn hành động đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong âm thầm nhưng thường trực.” ?. Khi đọc những cái gọi là “thông cáo” “kiến nghị”.. mà Võ Văn Ái nhào nặn thì những người Việt có tấm lòng với quê hương đất nước không khỏi phải phì cười về sự lố bịnh đến nham nhở của ông ta .Theo như tôi được biết Việt Nam hiện nay tôn giáo phát triển hơn bao giờ hết , đồng bào ở hải ngoại về thăm quê hương hàng năm đều nhận thấy sự đổi khác đang diễn ra từng ngày, nhà thờ, chùa chiềng được xây dựng mới khang trang lộng lẫy, vào các ngày lễ lớn nhà thờ, chùa chiềng, miếu mạo tấp nập vui như trẩy hội niềm vui hiên trên nét mặt của mọi người .Nhà nước Việt Nam hiểu rằng tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phượng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý với truyền thống văn hóa dân tộc là góp phần nâng cao đạo đức, nhân cách của con người chứ không chấp nhận những hành vi lợi dụng, hoặc đội lốt tôn giáo để làm những điều trái pháp luật, phản văn hóa đi ngược lại điều răn dạy của chúa, phật, thánh , thần và những yêu cầu chính đáng của đồng bào theo các tôn giáo.
Cuộc chiến không có máu chảy

Vì sao, vì mục đích gì?
Bài được đăng trên báo nhân dân
Là một người Mỹ gốc Việt, tôi và một số bạn hữu luôn mong muốn quê hương, đất nước phát triển ổn định bền vững, có như vậy mới dồn toàn lực vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh, đời sống, dân trí của nhân dân ngày càng được nâng cao. Vậy mà một số người lại tự phong là “nhà dân chủ” được các nhóm chống cộng cực đoan ở Hoa Kỳ tung hô, phối hợp “nội công, ngoại kích” để chống phá đất nước, mà đáng kể nhất là họ luôn lớn tiếng đưa ra các yêu sách phi lý như kêu gọi “Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự)” và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Ở hải ngoại, đọc các bài viết của họ, tôi thấy họ xuyên tạc vấn đề nhân quyền của Việt Nam một cách trắng trợn và lố bịch. Vì bức xúc trước tình trạng này, tôi muốn hỏi các “nhà dân chủ” ở quốc nội rằng, các vị căn cứ vào đâu mà “phán xét” Nhà nước Việt Nam về điều mà các vị gọi là “vi phạm quyền con người” qua các điều luật của Bộ luật Hình sự? Theo tôi, phải có một cái nhìn tổng thể và phải nhận thức rõ ràng về sự khác nhau giữa quyền con người và quyền công dân mới hiểu rõ sự lươn lẹo của các “nhà dân chủ” đang tung hỏa mù núp bóng “đấu tranh cho dân chủ” để trục lợi chính trị.
Không phải đến bây giờ con người mới đặt ra vấn đề quyền con người. Ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của mọi nhà nước trên hành tinh này. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945).
Qua việc đọc và nghiền ngẫm tôi thấy các bản tuyên ngôn đó đều khẳng định quyền con người và trách nhiệm của nhà nước trong khi thực thi quyền con người đối với mọi công dân của nước mình, cũng như cộng đồng quốc tế. Là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc, sự ra đời của khái niệm quyền con người gắn với các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ chế độ phong kiến. Cho nên ngày nay mọi người thường nói tới Luật về các quyền của Anh năm 1689, Tuyên ngôn độc lập năm 1776, Hiến pháp bổ sung năm 1787 của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp. Và vấn đề quyền con người đã được Nguyễn Ái Quốc nhắc tới từ năm 1919, trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến đại diện các nước Ðồng minh họp ở Versailles (Pháp).
Trong điều kiện một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là thách thức lớn đối với Việt Nam. Sự nghiệp phát triển của Việt Nam nói chung, chăm lo phát triển quyền con người nói riêng, được tiến hành trong bối cảnh đất nước còn vô vàn khó khăn, thiếu thốn, nên có thể còn có hạn chế, bất cập, song không thể vì thế mà phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng tiến bộ trong việc chăm lo quyền con người, điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Theo tiêu chí tổng quát về thực hiện quyền con người trong thế kỷ 21, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với tám mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra, là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân. Ðây chính là cơ sở quan trọng đủ sức chứng minh sự dối trá của những người đã và đang xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền. Trong Hiến pháp Việt Nam cũng như hiến pháp của nhiều quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, quyền con người thường luôn gắn liền với nghĩa vụ công dân, từ đó hình thành khái niệm “quyền và nghĩa vụ công dân”. Ở mỗi quốc gia, quyền công dân được xem là sự thể hiện cụ thể của quyền con người. Sự khác nhau giữa quyền con người với quyền công dân trước hết ở nguồn gốc. Quyền con người được xem là quyền tự nhiên của mọi thành viên của cộng đồng, là quyền của mỗi con người từ khi người đó sinh ra cho đến khi qua đời. Trái lại, quyền công dân lại là các quyền của người dân được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia. Quyền công dân có thể bị tước đoạt một phần hoặc hoàn toàn khi người đó vi phạm pháp luật, hoặc mất năng lực hành vi dân sự (như do mắc bệnh tâm thần chẳng hạn). Ngay tại Hoa Kỳ, quyền công dân buộc phải tuân thủ luật của chính phủ ban hành, cá nhân nào đó, mặc dù không phải là công dân Hoa Kỳ, nhưng đang sinh sống tại Hoa Kỳ vẫn có một số quyền công dân nhất định, hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định như mọi công dân của quốc gia mình đang cư trú.
Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Hình sự năm 1999 là minh chứng. Quyền và nghĩa vụ của công dân trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đương nhiên là công dân của nước Việt Nam phải tuân thủ như mọi công dân ở quốc gia khác. Một số người ở trong nước cùng với những người chống cộng ở hải ngoại thường gào thét xuyên tạc rằng: “Ðiều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999 về quyền tự do tư tưởng, báo chí là trái với Ðiều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia”? Xin thưa với các quý vị rằng sự thật không phải vậy. Ðiều 88 Bộ luật Hình sự của Việt Nam hoàn toàn không có gì trái với Ðiều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, khi dẫn lại Ðiều 19 của Công ước, các vị đã cố tình cắt xén một nội dung mà Công ước đề cập. Ðó là, khoản 3 Ðiều 19 của Công ước ghi rõ: “3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Theo đó, tự do báo chí phải có giới hạn, không có thứ “tự do báo chí tuyệt đối” để làm mất uy tín của người khác, vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Ðứng ra bảo vệ mấy cá nhân vi phạm Ðiều 88 là các vị bảo vệ những người vi phạm quyền con người của đại bộ phận nhân dân đang mong muốn xã hội ổn định để phát triển đất nước. Sống ở Hoa Kỳ đã nhiều năm, tôi biết thực chất vấn đề nhân quyền tại Hoa Kỳ. Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người, trong khi đó Tổ chức ân xá quốc tế lại cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền ở chính Hoa Kỳ khi cho rằng: “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Mỹ lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Bốn năm liền, Viện dân chủ và hợp tác ở New York công bố báo cáo về các hành vi thô bạo của cảnh sát chống người nhập cư, các vụ xâm phạm quyền tự do ngôn luận, bất bình đẳng về giai cấp ở Hoa Kỳ. Ông Andranik Migranyan – Giám đốc Viện này, từng nói: “Tất nhiên, Hoa Kỳ là một quốc gia với nhiều truyền thống dân chủ. Nhưng, nếu nhìn kỹ cách tổ chức đời sống xã hội, thì rất tiếc sẽ thấy rõ nhiều vấn đề không cho phép Hoa Kỳ coi mình như thầy giáo giới thiệu mô hình lý tưởng về việc bảo vệ quyền con người”.
Ðể chứng minh, có thể lấy thí dụ từ việc bầu cử tổng thống ở Mỹ. Về hình thức, đây có vẻ là một biểu hiện của dân chủ với hình thức lý tưởng; nhưng trên thực tế lại có sự phân biệt đối xử về nguồn gốc xã hội, về dân tộc, thậm chí cả việc vi phạm quyền bầu cử. Trả lời phỏng vấn của đài Tiếng nói nước Nga, bà Cheri Honkala – ứng cử viên Phó Tổng thống Mỹ của đảng Xanh, đã nói: “Nguyên nhân vì sao Mỹ không cho phép các quan sát viên theo dõi bầu cử có thể ẩn sau khả năng sự lừa dối: chúng tôi có rất nhiều người dân hoặc không muốn hoặc không được đi bỏ phiếu. Còn bây giờ, ở một số bang lại xuất hiện cái gọi là hệ thống “cấp phép quyền bầu cử”. Một rào cản khiên cưỡng ngăn chặn các cử tri tiềm năng, đó là tầng lớp lao động và những người sống dưới mức nghèo khổ”. Và gần đây, ông Alexei Pushkov, người đứng đầu Ủy ban Duma Quốc gia Nga về các vấn đề ngoại giao, nói: “Ðã quá lâu, chúng ta chấp nhận quyền lên tiếng giáo huấn của cái gọi là đất nước dân chủ truyền thống. Tuy nhiên tồn tại hơn hai thập kỷ, nước Nga sau Liên Xô đã có nhận thức rõ nét rằng, những quốc gia giành vai trò người dạy dỗ tuyệt vời, trong thời gian này chứng tỏ thấy họ không hề hoàn hảo. Chúng ta nhận thấy, bản thân Hoa Kỳ cũng vi phạm không ít quyền con người ở trong và ngoài nước. Có thể kể ra ở đây trường hợp các nhà tù CIA bí mật ở Trung Ðông và Ðông Âu, trường hợp thiệt hại thường dân Afghanistan trong các hoạt động quân sự do Mỹ và NATO thực hiện ở nước này, cũng như nhiều khía cạnh khác. Trước hoàn cảnh này, tiếp tục giữ im lặng sẽ có nghĩa chấp thuận vào hùa với trò bao vây thông tin do các phương tiện truyền thông phương Tây tạo dựng để lấp liếm sự vi phạm nhân quyền của chính phương Tây”.
Vì sao các “nhà dân chủ” ở quốc nội lại không quan tâm tới các vấn đề này? Họ lấy Hoa Kỳ là “khuôn vàng, thước ngọc” để so sánh và phê phán Việt Nam. Họ tôn thờ cái gọi là “thiên đường dân chủ” nhưng hình như thực chất thì họ chẳng hiểu gì về nước Mỹ cùng các vấn đề của nó. Vì sao, vì mục đích gì, họ lại có thể đi ngược lại nỗ lực của mọi người dân đang cố gắng xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, xã hội càng ngày càng dân chủ, công bằng, văn minh?
HỮU ÐỨC(Hoa Kỳ, ngày 4-11-2012)
Từ hải ngoại nghĩ về các “nhà dân chủ”
Bài được đăng trên báo nhân dân
Tôi muốn bàn về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam khi một số tổ chức phản động cực đoan của người Việt ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội ở trong nước được sự “bảo kê” của một số cơ quan truyền thông, một số tổ chức nhân danh “dân chủ, nhân quyền” hỗ trợ tài chính qua các loại “giải thưởng”; từ đó xuyên tạc, bóp méo sự thật, rồi tung hô nhau là “nhà dân chủ” nhằm dễ bề lôi kéo dư luận khi bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Trước đây, tôi từng tranh luận với một người bạn là nhà báo tại Hoa Kỳ về đề tài dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Khi đó, người bạn tôi đang bị cái vòng “kim cô” chống cộng cực đoan (CCCÐ) siết chặt, dù các luận điểm anh đưa ra đều bị bẻ gãy, nhưng anh vẫn “không phục”. Tôi nói với anh: “Theo tôi, khi viết bằng tất cả niềm tin vào sự thật thì chắc chắn không ai buộc tội mình được. Không chỉ nhà báo mới có cơ hội tiếp cận sự thật, nhà báo cũng không hẳn phải là người duy nhất vạch ra chân lý. Nhưng lương tâm của người cầm bút là biết hướng dư luận đi tới chân lý, sự thật”. Anh bạn tôi lắng nghe, không nói gì.
Tuy sinh sống ở nước ngoài, nhưng là người con của dân tộc Việt Nam nên tôi biết, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đôi khi có cá nhân, tổ chức đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, thậm chí có người cam tâm phản bội. Gần đây, có người vì bất mãn, hoặc mờ mắt khi được các thế lực thù địch tâng bốc, hứa hẹn, đã bị các tổ chức xấu ở hải ngoại lợi dụng để chống lại Nhà nước Việt Nam, v.v. Tiếc thay, trong đó lại có một vài người được coi là trí thức. Từ việc họ làm, từ lời lẽ họ đưa ra, tôi thấy dường như họ đã trút bỏ những thứ mà gần như cả cuộc đời họ theo đuổi, rồi sám hối về một số việc họ cho là “lỗi lầm”. Trong đó có người như là con kỳ nhông, sẵn sàng đổi màu để trở thành “nhà dân chủ”, để được các thế lực thù địch ngợi ca, đưa ảnh lên in-tơ-nét như là “anh hùng”, được nhắc tới tên trong thông báo hay lời kêu gọi của các tổ chức chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam. Theo dõi trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại, những người Việt luôn hướng về Tổ quốc như chúng tôi đã thấy họ chỉ là những con người cơ hội. Ðối với họ, quá khứ đau thương của dân tộc đã không còn ý nghĩa, mà tương lai cuộc “đấu tranh” của họ thì lại mơ hồ và ảo vọng; nếu thời thế đổi thay, có khi họ lại biến hình thành người khác!
Trước tiên, xin điểm qua mấy “nhà dân chủ, nhân quyền” ở hải ngoại, đó là người mà dân thường như chúng tôi vẫn gọi là các ông bà “mặt trơ trán bóng”. Họ là người có bề dày “thành tích bất hảo”, thành thạo trong việc vu khống, chống phá Nhà nước Việt Nam, trong đó có người mấy chục năm nay chỉ làm cái việc xấu xa là lập ra các “tổ chức ma” để lừa bịp và quyên góp tiền bạc của người Việt không có điều kiện tìm hiểu hiện tình đất nước. Có thể kể ra Nguyễn Ngọc Bích, Võ Văn Ái, Nguyễn Tường Bách, rồi Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân,… Những người này đã hợp bè kết đảng với nhau, tự xưng là “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”. Họ tiến hành vô số hoạt động CCCÐ, hằng năm trao “giải thưởng nhân quyền” cho các phần tử chống đối ở quốc nội. Các giải này được trao theo kiểu “anh trước em sau”, người nào rồi cũng có. Người nhận giải là các nhân vật có hành vi vi phạm pháp luật đã bị Tòa án Nhân dân tuyên án, như Trần Anh Kim, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần,… Không phải bà con ở hải ngoại không biết họ là ai, chúng tôi biết họ chỉ là mấy “nhà dân chủ cuội” và đã có rất nhiều ý kiến vạch rõ bản chất của họ, cùng những lời phê phán họ trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại.
Theo chỗ tôi được biết, hiện nay trên thế giới có hai cách tiếp cận quyền con người: thứ nhất, nhân quyền là quyền tự nhiên, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào và không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người; thứ hai, quyền con người không phải là bẩm sinh và vốn có, mà phải do nhà nước quy định trong pháp luật; và đây là quan điểm đã được phần lớn các quốc gia trên thế giới vận dụng trong khi thực thi quyền con người. Ðiều này là đúng đắn, cần thiết, bởi đối với các chế độ chính trị – xã hội đề cao quyền con người, ngoài yêu cầu về tính văn hóa, mà trước hết và trực tiếp là các chuẩn mực đạo đức, việc mỗi người thực thi quyền của mình như thế nào để không làm ảnh hưởng tới quyền của người khác, việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, việc hạn chế các cơ quan hành pháp, cá nhân có trách nhiệm có thể vi phạm quyền con người,… phải được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật. Về vấn đề này, ngài Sérgio Vieira De Mello, nguyên Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc, người đã tử nạn khi đang làm việc tại Iraq năm 2003, từng phát biểu: “Văn hóa nhân quyền có được sức mạnh lớn nhất từ những mong muốn và hiểu biết của mỗi cá nhân. Trách nhiệm bảo vệ nhân quyền thuộc về các nhà nước. Nhưng chính những hiểu biết, tôn trọng, mong muốn về nhân quyền của mỗi cá nhân là điều mang lại kết cấu và sức bật hằng ngày cho nhân quyền”.
Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, nhân quyền luôn là vấn đề được các chế độ chính trị – xã hội quan tâm, song không phải chế độ chính trị – xã hội nào cũng thật sự quan tâm bảo đảm về nhân quyền. Các “nhà dân chủ” trong nước thử nhìn sang những nước khác, bên một số ít quốc gia ở Bắc Âu có sự quan tâm nhất định, thì tại nhiều nước khác, việc vi phạm nhân quyền, chà đạp lên quyền con người,… vẫn khá phổ biến. Ngay tại Mỹ, nơi chúng tôi đang sống, nhân quyền nhiều khi cũng chỉ là câu khẩu hiệu, bởi tình trạng phân biệt chủng tộc, tình trạng bạo lực trong trường học, việc xả súng bừa bãi,… vẫn tồn tại trong thời gian dài. Chẳng hạn theo số liệu của FBI, mỗi năm ở Mỹ có tới 30 nghìn người bị chết do các vụ bạo lực liên quan đến súng. Các “nhà dân chủ” ở quốc nội nên hiểu rằng, quốc gia có mô hình xã hội mà họ muốn mô phỏng và xây dựng ở Việt Nam, lúc nào cũng sử dụng trò chơi hai mặt, họ chỉ bảo vệ quyền lợi của họ mà thôi. Hình như các “nhà dân chủ” ở quốc nội không thật sự hiểu được những lời ban tặng từ hải ngoại, để rồi biến mình thành con rối đáng thương. Vâng, nếu đất nước không có dân chủ và nhân quyền, người gốc Việt từ khắp năm châu đã không trở về nước làm ăn, sinh sống. Bản thân tôi cũng vậy, vì công việc và gia đình nên tôi không thể như người khác, nhưng hằng năm tôi vẫn trở về, và được tận mắt chứng kiến bao sự đổi thay trên quê hương, đất nước. Ðể nhìn rõ tính khách quan của vấn đề, tôi dẫn lại kết quả nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế Harvard thuộc Ðại học Harvard (Hoa Kỳ) sau khi khảo sát Việt Nam, nhà nghiên cứu Dam Fforde đánh giá: “Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt, năm 1975, Ðảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ đấu tranh, Ðảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Ðảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, đảng viên của Ðảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa, đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng”.
Ðương nhiên, chúng tôi cũng hiểu rõ những thách thức mà Ðảng Cộng sản Việt Nam có thể gặp phải trong vai trò là đảng cầm quyền. Một vấn đề khách quan luôn có thể đặt ra với bất kỳ đảng cầm quyền nào, là khả năng bị tha hóa bởi lạm quyền và quan liêu hóa. Ở hải ngoại, theo dõi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), gần đây là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI), chúng tôi thấy Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục chứng tỏ sự nghiêm túc khi nhìn thẳng vào sự thật, không che giấu khuyết điểm và hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp cấp bách và cơ bản để khắc phục, đưa đất nước đi lên. Từ đầu năm đến nay, chúng tôi thấy rất rõ sự quan tâm, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước khi Ðảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm tiến hành các giải pháp cấp bách, cơ bản để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Nhiều hành động công khai và minh bạch đã được tiến hành, thể hiện quyết tâm lớn trong chống tiêu cực, tham nhũng, hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Ðó là thông điệp rõ ràng, báo hiệu sự chuyển mình mạnh mẽ vì quyền lực và lợi ích của nhân dân, vì một nền dân chủ rộng rãi cho mọi người. Chúng tôi hiểu, việc một số tổ chức, cá nhân đặt vấn đề Việt Nam vi phạm quyền con người và đàn áp người bất đồng chính kiến, cần thực hiện “tam quyền phân lập”,… thực chất là vu khống, xuyên tạc, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng đắn tình hình trong nước thời gian qua. Trước sự thật không thể bác bỏ ấy, chúng tôi nghĩ, nếu các “nhà dân chủ” ở trong nước thực tâm mong muốn xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước được giữ vững, mọi người đều được tạo điều kiện để phát triển,… thì nên làm những việc ích nước, lợi dân. Hãy cống hiến và cùng toàn dân xây dựng Tổ quốc Việt Nam hùng cường. Hãy là người Việt Nam chân chính để chúng tôi có thể học hỏi và noi theo.
Ý thức trách nhiêm đối với vấn đề nhân quyền
Xem tại link gốc báo nhân dân điện tử.
Quyết định của Việt Nam nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của các nước thuộc khối ASEAN, cùng nhiều nước khác. Ðiều này làm cho các thế lực thù địch với Việt Nam tức tối. Chúng lập tức mở một “chiến dịch” xuyên tạc, vu cáo nhằm ngăn cản Việt Nam, điển hình gần đây là trò hề gửi “thỉnh nguyện thư”! Về sự kiện này, tác giả Amari TX đã có bài viết gửi Báo Nhân Dân, xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Trong những ngày qua, một số trang mạng của những kẻ xưa nay vốn có thái độ thù địch với Nhà nước Việt Nam đang truyền tải thông tin về cái gọi là “thỉnh nguyện thư” liên quan đến việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ). Lần này, họ sản xuất ra hai “thỉnh nguyện thư”: một bản gửi Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon và các lãnh đạo thế giới để kêu gọi ngăn chặn Việt Nam gia nhập Hội đồng Nhân quyền, một bản do Ðài truyền hình SBTN cùng Việt Tân phát động để “lấy chữ ký”. Và một lần nữa, lại có sự xăng xái của “mõ làng RFA”. Trong bài phỏng vấn của RFA ngày 16-10-2012 với Trúc Hồ – người quản lý SBTN nhưng thực chất là Việt Tân đứng sau điều khiển, người này đã đưa ra một số phát biểu xấc láo để thóa mạ Nhà nước Việt Nam. Trên thực tế, bà con người Mỹ gốc Việt đều biết rõ, Trúc Hồ chỉ là tay sai của Việt Tân. Khi SBTN bị khủng hoảng tài chính, bên bờ vực phá sản, Việt Tân đã ra tay tài trợ để cho SBTN sống sót và vì thế, SBTN trở thành công cụ cho tổ chức khủng bố này.
Cách đây không lâu, người Việt yêu nước ở Hoa Kỳ rất phẫn nộ trước những việc làm bỉ ổi của Trúc Hồ, Nguyễn Ðình Thắng cùng băng đảng khủng bố Việt Tân khi ôm “thỉnh nguyện thư” đòi gặp Tổng thống Hoa Kỳ vào ngày 5-3-2012. Sự kiện đó đã trở thành một trò hề vô tiền khoáng hậu với rất nhiều bài bình luận và lời đàm tiếu trên các trang mạng điện tử, cũng như báo giấy. Và bà con gọi đó là hành động nhục mạ người Việt. Nhưng những người này vẫn ngoan cố, nghĩ ra mọi thủ đoạn để chống phá quê hương. Vậy thì trong bài này, cũng xin nói rõ để các vị biết, ở Việt Nam hiện nay, tính nhân văn trong quyền con người đã được nâng lên một tầm cao mới, được cô đúc một cách sâu sắc trong lao động, trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc; và ngày nay thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập, tính nhân văn ấy lại được chắt lọc từ những tinh hoa của nhân loại; từ đó làm cho những phẩm giá cao quý của người Việt Nam ngày càng được tôn trọng.
Trong thế giới ngày nay, chú trọng mối liên hệ giữa những giá trị nhân quyền truyền thống và nhân quyền hiện đại cho phép bảo đảm sự thừa nhận toàn vẹn hơn về quyền của mỗi con người, tạo điều kiện hoàn chỉnh nhận thức chung của xã hội. Trên phạm vi rộng hơn, điều này sẽ củng cố sự tin cậy, thiết lập sự đối thoại ở tầm mức cộng đồng quốc tế. Nói cách khác, sự tiếp cận của Việt Nam với tổ chức Nhân quyền LHQ là một phương cách mới để tăng cường tôn trọng nhân quyền. Bởi, các quyền lợi mang tính nhân văn phản ánh những giá trị truyền thống của mỗi dân tộc, của toàn nhân loại, vốn đã từng giúp mọi nền văn minh phát triển, luôn có khả năng làm dịu, tiến tới xóa bỏ mâu thuẫn giữa các dân tộc. Mọi nỗ lực góp phần làm cho nhân quyền ngày càng hoàn thiện, góp phần làm cho mối gắn kết nhân loại ngày càng thêm bền vững trên cơ sở các giá trị nhân văn, chính là thái độ nghiêm túc, là ý thức trách nhiệm với cộng đồng nhân loại mà Việt Nam đã và đang hướng tới. Ðặc biệt, một trong các thiếu sót của Ủy ban Nhân quyền LHQ trước đây là chính trị hóa vấn đề quyền con người; vì thế, Hội đồng Nhân quyền (HÐNQ) được thành lập năm 2006 với tư cách là sự thay thế Ủy ban Nhân quyền của LHQ, đã bước đầu đáp ứng được mong muốn không chính trị hóa vấn đề nhân quyền để các nước, thông qua HÐNQ, sẽ cùng nhau thúc đẩy và bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng các quyền của mình. Trong 5 năm qua, HÐNQ đã đáp ứng được một số đòi hỏi của các nước, đó là việc thúc đẩy thực hiện quyền của con người trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị. Chúng tôi tin rằng, với ý nghĩa đó, Việt Nam đã ứng cử vào HÐNQ nhiệm kỳ 2013 – 2016. Và chúng tôi còn tin hơn, việc làm này là được bảo đảm bởi các thành tựu nhân quyền Việt Nam đạt được trong các năm qua, mà biểu hiện rõ nhất là sự tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, thành tựu xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, giải quyết việc làm ngày càng nhiều hơn,…
Năm năm trước, ngày 8-5-2009, tại Trụ sở LHQ ở Genève (Thụy Sĩ), Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia về việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm điểm định kỳ (Universal Periodic Review – UPR) trước Hội đồng Nhân quyền và đại diện của 192 quốc gia thành viên LHQ cùng nhiều tổ chức trực thuộc LHQ và các tổ chức phi chính phủ khác. Ðại diện 60 nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã trực tiếp đối thoại với Việt Nam. Các đại biểu đánh giá Báo cáo của Việt Nam được chuẩn bị công phu, cung cấp thông tin toàn diện về tình hình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, với sự tham gia có trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức quần chúng, và luôn nhận được đóng góp của người dân. Qua 35 năm kể từ ngày gia nhập LHQ – tổ chức quốc tế đa phương quan trọng bậc nhất này, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước về quyền con người, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một quốc gia thành viên. Trong dịp kỷ niệm 35 năm Ngày chính thức tham gia LHQ (20-9-1977 – 20-9-2012), khi được hỏi về các kết quả mà Việt Nam đạt được sau 35 năm tham gia tổ chức lớn nhất hành tinh, bà Pratibha Mehta – Ðiều phối viên Thường trú của LHQ tại Việt Nam, nói: “Khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, LHQ đã mở ra một cánh cửa kết nối Việt Nam với những kiến thức, kinh nghiệm và trợ giúp kỹ thuật của quốc tế, đồng thời hỗ trợ Việt Nam đạt được những tiến bộ trong phát triển, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người dân. Những tiến bộ quan trọng trong các lĩnh vực như xóa đói, giảm nghèo, giáo dục, bình đẳng giới và chăm sóc sức khỏe trẻ em tại Việt Nam cũng đã được ghi nhận. Việt Nam đã nỗ lực giảm một nửa tỷ lệ nghèo (từ hơn 58% năm 1993 xuống còn gần 29% năm 2002) và sau đó là hơn 12% năm 2008. Việt Nam là một trong số 50 quốc gia trên thế giới được lựa chọn để thực hiện các cuộc trưng cầu dân ý trên diện rộng về các mục tiêu phát triển toàn cầu mới. Ðây sẽ là một cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam nhìn nhận về những tiến bộ đạt được trong quá trình thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, cũng như những việc cần làm cả ở trong nước và quốc tế nhằm bảo đảm tất cả mọi người ở mọi làng quê và thành phố đều được hưởng một cuộc sống thịnh vượng”. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Ðiểm nổi bật trong phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo các nước là sự đánh giá cao đối với các thành tựu Việt Nam đạt được trong những năm qua, cũng như các cam kết rõ ràng của Việt Nam đối với việc thúc đẩy quyền con người. Dù còn một số ý kiến dựa trên thông tin sai lệch, phản ánh thiếu khách quan về tình hình dân chủ và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, thì với tinh thần đối thoại cởi mở và chân thành, Việt Nam đã khẳng định chính sách rõ ràng, nhất quán về quyền con người của Nhà nước Việt Nam được thể hiện rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp năm 1992, trong đó có Ðiều 2 xác định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Ðiều 50 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Ðó cũng là cơ sở pháp lý để Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và khẳng định quyền con người.
Qua thông tin trên báo chí, qua đánh giá của rất nhiều người Mỹ gốc Việt khi có dịp trở về thăm quê hương, đất nước, qua những gì được tận mắt chứng kiến, chúng tôi muốn nhắn tới các tổ chức và những người đang có mưu đồ cản trở tiến trình hội nhập của Việt Nam với thế giới rằng, quan điểm của Nhà nước Việt Nam về quyền con người là rất rõ ràng, đó là thành quả của một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ của nhiều thế hệ người Việt Nam, cũng là mục đích rất cao đẹp mà Nhà nước Việt Nam cùng nhân dân Việt Nam đã và đang phấn đấu đạt tới, để làm nên cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. Ðó là một sự thật mà những kẻ thiếu lương tri dù có bày ra mưu ma chước quỷ, cũng không thể phủ nhận.
Vạch trần âm mưu thâm độc
Hòa giải, yêu thương triết lý sống của người việt
Bảo vệ quyền con người là tôn trọng phẩm giá dân tộc
Tuy nhiên, khi nhân quyền được sử dụng như một chiêu bài để phục vụ mưu đồ thiếu lành mạnh, thì bản chất nhân quyền bị xâm phạm, và bóp méo. Bàn về một số sự kiện liên quan đến nhân quyền mà một số tổ chức, cá nhân đã dựng lên để vu cáo Việt Nam, từ nước Mỹ, tác giả Amari Tx gửi tới Báo Nhân Dân bài Bảo vệ quyền con người là tôn trọng phẩm giá dân tộc. Xin giới thiệu cùng bạn đọc…
Ngày 24-9-2012, phiên tòa sơ thẩm xét xử Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải vì phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước đã diễn ra tại TP Hồ Chí Minh và ba người này đã phải chịu hình phạt thích đáng từ những việc làm sai trái của họ. Lập tức, một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài không có thiện cảm với Chính phủ Việt Nam và các nhóm CCCÐ (chống cộng cực đoan) là người Việt ở nước ngoài đã xuyên tạc, bóp méo, vu khống Nhà nước Việt Nam không tôn trọng “quyền làm người của người dân trong nước” và “quyền tự do ngôn luận”… Trên website của “mõ làng RFA” ngày 26-9-2012 còn đăng bài trả lời phỏng vấn ông Phil Robertson – Phó Giám đốc khu vực châu Á Tổ chức theo dõi nhân quyền, với nội dung rất thiếu khách quan: “Tình hình nhân quyền tại Việt Nam đang thụt lùi nhanh chóng và nó sẽ cản trở con đường tiến vào Hội đồng Nhân quyền LHQ”. Rồi với chiến thuật “nội công ngoại kích”, một số phần tử “có vấn đề” trong nước đã có các phát ngôn, bài viết phát tán trên các mạng điện tử hòa giọng cùng với các thế lực phản động ở nước ngoài để công kích, kêu gọi “cần có biện pháp cấp thời” đối với Việt Nam qua chiêu bài quen thuộc của họ là vấn đề nhân quyền!
Thực ra họ có hiểu thấu đáo vấn đề họ đang kêu gào, có hiểu nội hàm của quyền con người là gì, hay họ cố tình đánh lận con đen trong khái niệm này? Xin thưa với các vị, về mặt học thuật, cho đến nay nhân quyền vẫn được hiểu trên hai bình diện là giá trị đạo đức và giá trị pháp lý. Về đạo đức, nhân quyền là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Ðó là nhân phẩm, tự do, bình đẳng, và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng. Về pháp lý, các quy định của luật pháp để giữ vững an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ, tạo điều kiện để mọi người được phát triển, chính là cơ sở bảo đảm cho nhân quyền được thực thi. Rất tiếc, một số người lại cố tình không hiểu vấn đề này và họ đã vi phạm những quy định của pháp luật về quyền con người. Những vụ án vi phạm an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội được xét xử ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy tình trạng một số người đã lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để làm những việc phi pháp. Nhân đó, các thế lực CCCÐ đã kích động, lôi kéo một số phần tử không đặt quyền lợi của nhân dân lên trên quyền lợi của bản thân mình, để gây rối xã hội.
Trả lời câu hỏi của BBC trong buổi họp báo hôm 31-5-2012 tại Malaysia, nơi ông đến thăm trước khi sang Singapore dự Hội nghị thượng đỉnh An ninh châu Á, Thượng nghị sỹ McCain đã nói về bước tiến trong quan hệ Việt – Mỹ: “Thông điệp của tôi về Việt Nam là chúng ta đã đạt những tiến bộ lớn. Chúng tôi tự hào đã hàn gắn những vết thương của cuộc chiến ghê gớm nhất trong lịch sử Hoa Kỳ chỉ trừ cuộc nội chiến của chúng tôi… Quan hệ của chúng tôi với Việt Nam là tuyệt vời. Có nhiều đầu tư của Hoa Kỳ ở đó”. Về vấn đề nhân quyền, Thượng nghị sỹ John McCain cho rằng: “Chúng tôi mong đợi tiến bộ chứ không phải là thay đổi tức thì”. Cũng trong họp báo, ông McCain còn nói: “Thực tế là chúng tôi tin rằng quan hệ của chúng tôi là gần gũi và có thể gần gũi hơn”. Tuy nhiên, vì không hiểu rõ hay cố tình không hiểu rõ nội hàm của khái niệm quyền con người, nên những người thiếu thiện chí với Việt Nam đã đi tới thái độ cực đoan một cách mù quáng, làm mất đi ý nghĩa cao đẹp của nhân quyền, từ đó có phát ngôn và việc làm đối lập với nhân quyền, xâm hại nhân quyền, như vụ “ó đen” Lý Tống tấn công ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng, vụ biểu tình chống ca sĩ Hồng Vân… ở Mỹ gần đây.
Quyền con người là một khái niệm chính trị – pháp lý và dù đến nay vẫn còn tranh cãi, thì không có nghĩa ai muốn hiểu khái niệm này như thế nào cũng được, đặc biệt là không thể xuyên tạc. Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế cũng đã đồng thuận về khái niệm này dựa trên các văn kiện cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người. Ðó là Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; hai Công ước Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Tuyên bố Viên và Chương trình hành động – văn kiện của Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo), năm 1993. Về quyền của các quốc gia – dân tộc, Công ước trên quy định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa…”. Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo) năm 1993, khẳng định việc “khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện có hiệu quả quyền này”. Ðiều đó có nghĩa là các dân tộc có quyền tự do lựa chọn, xây dựng chế độ chính trị như thế nào là quyền của các quốc gia – dân tộc đó. Không có bất cứ một tổ chức, một quốc gia, thậm chí là Liên hợp quốc có quyền can thiệp. Ấy vậy mà các cá nhân và tổ chức thù địch với Việt Nam cùng những nhân vật CCCÐ ở nước ngoài lại tự cho mình cái quyền phán xét thể chế chính trị tại Việt Nam, điều đó tự nói lên sự ấu trĩ trong nhận thức của họ!
Chế độ dân chủ cộng hòa, nay là cộng hòa xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam ra đời từ sau Cách mạng Tháng 8-1945, do Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, giành lại độc lập dân tộc, xóa bỏ chế độ thuộc địa, phong kiến kéo dài hàng trăm năm. Chế độ đó được bảo vệ và củng cố bằng xương máu, sức lực của cả dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống lại những đế quốc hung bạo nhất thế kỷ. Thành quả của các cuộc đấu tranh với bao nhiêu hy sinh, mất mát kéo dài hơn một nửa thế kỷ đó được ghi nhận trong Hiến pháp. Ở Việt Nam hiện nay, còn có một số ít người nhận thức lệch lạc về quyền công dân và quyền con người, các tổ chức phản động lưu vong CCCÐ lợi dụng sự thiếu hiểu biết đó để xúc xiểm, thêm dầu vào lửa nhằm trục lợi mưu đồ chính trị. Thử hỏi, đối với lợi ích quốc gia, phẩm giá của dân tộc thì các vị đã làm được những gì? Hay là các vị vẫn “sống chết mặc bay”, không góp sức cùng dân tộc, mà trái lại là về hùa với ngoại bang “cõng rắn cắn gà nhà”? Ðể đạt mục đích xóa bỏ chế độ xã hội XHCN Việt Nam, các thế lực CCCÐ câu kết với các tổ chức thù hằn với Việt Nam luôn cố tình xuyên tạc vấn đề quyền con người, đồng thời áp đặt quan điểm dân chủ, nhân quyền của họ cho Việt Nam. Họ kêu gọi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “tự do ngôn luận, tự do báo chí”, “tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, lập hội đoàn trái pháp luật,… nghĩa là loại bỏ sự quản lý của Nhà nước, làm rối loạn xã hội. Không phủ nhận rằng xã hội Việt Nam hiện còn gặp nhiều vấn đề như nhiều quốc gia khác, thậm chí có vấn đề nhức nhối cần phải giải quyết, song để giải quyết những vấn đề đó, cần phải dựa trên các nguyên tắc chính trị, tư tưởng đúng đắn và nguyên tắc quản lý của nhà nước pháp quyền, chứ không là việc tuyên truyền các quan điểm cá nhân thực chất là phỉ báng, bôi nhọ, chống phá chế độ xã hội.
Về quan hệ giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, đến nay các công ước quốc tế về quyền con người không chỉ có những quyền tuyệt đối mà còn có những quyền bị hạn chế (trong đó có quyền tự do ngôn luận) đủ sự mềm dẻo để cho các quốc gia, dân tộc vận dụng vào hoàn cảnh đặc thù của mình. Luật quốc tế về quyền con người không phải là những quy định pháp luật trực tiếp áp đặt cho các quốc gia – dân tộc. Ðơn giản vì thế giới không phải một quốc gia, Liên hợp quốc không là “chính phủ trung ương”, và các quốc gia không phải là “chính quyền địa phương”. Tương tự như thế, pháp luật của mỗi quốc gia là ý chí của cả dân tộc. Tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền của quốc gia là nguyên tắc hàng đầu của Liên hợp quốc. Nền dân chủ Việt Nam vẫn đang trên đường phát triển và hoàn thiện. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và của toàn dân. Ðối với Việt Nam, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, gắn liền với chế độ xã hội là giá trị cao nhất của dân tộc. Từ nước ngoài nhìn về Tổ quốc, chúng tôi thấy ở Việt Nam, việc bảo vệ những nguyên tắc cơ bản về quyền con người đã trở thành mục đích và hành động của Ðảng và Nhà nước, và chúng tôi hiểu đó không chỉ là nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc mà còn là để bảo vệ phẩm giá của dân tộc.
Những kẻ “Ăn mày dĩ vãng”
|
Đến nay, chúng ta có hơn 4 triệu đồng bào ruột thịt định cư tại hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ. Dù bị các thế lực phản động luôn o ép, tuyên truyền xuyên tạc, thậm chí khủng bố, nhưng bà con Việt kiều nói chung, những người con ở Mỹ nói riêng luôn hướng về Tổ quốc.
Không giống như đại đa số người Việt đã định cư thành công tại Hoa Kỳ, những kẻ cuồng tín chống phá Việt Nam (CCCĐ) hình như không có ý định hội nhập vào xã hội MỸ. Thay vì hội nhập vào sinh hoạt địa phương, họ lập bè lập nhóm chính trị, lợi dụng danh nghĩa “cộng đồng” để bòn rút tiền của bà con làm ăn chân chính , tiền “fund” của chính phủ BU . Họ muốn tái lập một Việt Nam Cộng hòa thu nhỏ tại mỹ với saigon little là thủ đô của cái gọi là “tiền đồn chống cộng”. Chính vì thế mà bọn CCCĐ yêu cầu chính quyền BU phải “công nhận” lá cờ vàng ba sọc đỏ đã chết từ 37 năm qua. Bọn CCCĐ ngang nhiên và trịch thượng yêu cầu chính quyền BU không hợp tác kinh tế với việt nam và đưa Việt Nam vào sổ đen “các nước cần được quan tâm đặc biệt”.
Mặc dù những kẻ cuồng tín và cực đoan này lúc nào cũng tru tréo , vỗ ngực là công dân mỹ, nhưng trong hành động thực tế bọn chúng không bận tâm nhiều đến trách nhiệm của người là công dân BU, chúng chỉ chú trọng đến việc chống phá Việt Nam, hơn là góp phần vào việc tranh luận các vấn đề liên quan đến nước mỹ. Vì dồn tâm lực quá nhiều vào công việc chống phá Việt Nam, khi đối đầu với các vấn đề địa phương bọn CCCĐ hoàn toàn cứng họng, và trở thành những người câm điếc khi sống ngay trên đất BU được mệnh danh là thiên đường tự do. CCCĐ chẳng có gì để nói đến vấn đề mà các công dân hạng nhất của BU đang quan tâm , thất nghiệp, nghèo khổ tại đang gia tăng.vv..
Thay vào đó, CCCĐ liên tục hăng say ngụy tạo ra những thông tin về Việt Nam và tuyên truyền bôi nhọ hình ảnh Việt Nam với một số chính trị gia của BU không có thiện cảm với VN . Họ tô vẽ một Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu, vô luật pháp, khủng hoảng, thối nát, không có nhân quyền, không có tự do tôn giáo, v.v. và v.v.
Theo tiêu chí của chúng thì :“Thà nói láo còn hơn bỏ sót”, bất cứ Việt Nam làm điều gì cũng sai trái. Dù cho Việt Nam có chính sách đúng đắn thì dưới mắt CCCĐ vẫn là phục vụ cho mục tiêu sai trái ! Bởi vì họ chưa từng bước chân về Việt Nam suốt một thời gian dài mà thậm chí có thể là cả 37 năm , cho nên CCCĐ nhìn Việt Nam qua con mắt của những kẻ mù sờ voi hoặc cố tình bóp méo sự thật.
Nếu những ai đã từng nghe qua những ngụy tạo của nhóm người cuồng tín và cực đoan trong “cộng đồng” mà chưa lần ghé Việt Nam, thì một chuyến đi thực tế ở Việt Nam sẽ là một cú sốc. Sau gần 50 chiến tranh tàn khốc, người Việt nhanh chóng tự mình từng bước phát triển đất nước. Việt Nam ngày nay là một đất nước đa dạng, trẻ trung, sống động, phát triển với dân số trên 90 triệu người. Nói chung, trong bất cứ chỉ tiêu xã hội và kinh tế nào, Việt Nam đều đạt được những tiến bộ tích cực.
Đó là điều đã được khẳng định trong Nghị quyết 36-NQ/TW (ngày 26-3-2004) của Bộ Chính trị BCHTW Đảng CSVN và chương trình hành động của Chính phủ nước CHXHCNVN (ngày 23-6-2004), nhằm thực hiện tinh thần đại đoàn kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc, cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Khi chế độ VNCH sụp đổ vào 30-4-1975, đất nước được thống nhất, nền hòa bình mà hàng chục triệu người Việt Nam mong chờ suốt mấy mươi năm đã trở thành hiện thực. Một bộ phận trong hơn một triệu sĩ quan, công chức, binh lính của bộ máy chính quyền chế độ cũ đã ra đi theo những chuyến tàu di tản
Những năm tiếp theo, đất nước ta vừa phải dồn sức khắc phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại, vừa phải tiếp tục chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ Tổ quốc ở biên giới hai đầu đất nước trong điều kiện bị các thế lực quốc tế bao vây, cấm vận ngặt nghèo. Những khó khăn trong giai đoạn này bị bọn CCCĐ thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, kích động… nhằm lôi kéo một bộ phận người miền Nam ra đi bằng con đường vượt biên.
Sau đó, qua việc hai Chính phủ Việt Nam – Hoa Kỳ đã thống nhất cho xuất cảnh đoàn tụ nhân đạo theo trương trình ra đi có trật tự, cộng đồng người Việt ở Mỹ có thêm nhóm “đoàn tụ”… Vậy là hình thành cộng đồng“di tản”, “vượt biên”, “đoàn tụ” , số người Việt ngày càng gia tăng theo thời gian. Trên thực tế tại nước sở tại BU có một bộ phận người Việt CCCĐ đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại và Việt Nam…
Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài hiện có gần 700 tổ chức, hội đoàn, hơn 400 tờ báo, tạp chí, 46 đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt, 74 nhà xuất bản… Để thực hiện âm mưu chống Việt Nam, nhiều năm qua các thế lực cực hữu ở các nước sở tại đã hà hơi tiếp sức cho bọn phản động cực đoan thâm nhập, lũng đoạn các tổ chức hội đoàn và hệ thống báo chí xuất bản này.
Bọn CCCĐ dùng phương tiện, lực lượng này để chống phá đất nước dưới chiêu bài đòi “tự do, dân chủ, nhân quyền”. Bọn “lưu manh chính trị” này sẵn sàng đàn áp, chụp mũ, hãm hại bất kỳ ai – nhất là giới cầm bút khi họ muốn hướng về Tổ quốc. Chúng gào thét chửi rủa những nhà báo như KBCHN.NET , VIETWEEKLY , PHỐ BOLSA TV khi họ về VN tìm hiểu thực tế . Để cho ép phê hơn bọn CCCĐ còn lôi cả vợ con những nhà báo dũng cảm này băm vằm trên mặt báo , một trò bỉ ổi của bọn quái vật đội lốt người CCCĐ.
Những văn nghệ sĩ, trí thức nổi tiếng khi có dịp về thăm quê hương, lập tức bị chúng “mở chiến dịch” tuyên truyền và vu khống đủ điều. Các nghệ sĩ ở VN sang BU biểu diễn một cách thuần túy về nghệ thuật cũng bị đám người “quái vật” này gào thét tẩy chay một cách điên cuồng , việc mới xảy ra đối với nghệ sĩ Hồng Vân, ca sĩ Đàm vĩnh Hưng ..vv..
Thêm vào đó là cuộc mưu sinh nơi đất khách quê người thấm đẫm những khó khăn cực nhọc bởi nạn kỳ thị màu da, bởi những ám ảnh thất nghiệp, bởi khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa… đã làm cho những nhà báo có tâm huyết với đât nước , dân tộc tại hải ngoại đã dùng ngòi bút nói lên sự thật , vạch trần những sai trái của bọn người thiếu nhân cách trong cộng đồng người Việt . Bên cạnh đó, các thế lực CCCĐ đã lũng đoạn hầu hết các hội đoàn, báo chí – xuất bản để chống phá đất nước.
Chúng khống chế các cơ quan truyền thông hòng bóp nghẹt tự do ngôn luận bằng nhiều thủ đoạn đê hèn để người Việt hải ngoại suốt mấy chục năm toàn thấy những những thông tin sai lệch về đất nước gây cho người đọc những ngộ nhận về chính sách hòa hợp dân tộc. Chính phủ Việt Nam đã tổ chức hai lần đại hội Việt kiều, tạo điều kiện cho bà con có dịp về hội tụ ở quê cha đất tổ , lần thứ nhất năm 2009 và mới đây nhất là ngày 26-9-2012 .
Tại hội nghị này đã cho chúng ta thấy phần lớn bà con người Việt ở hải ngoại đều có tấm lòng hướng về đất nước , nhìn nhận một cách rất khách quan về những thuận lợi cùng với những khó khăn và thách thức phía trước cho sự tồn vong của dân tộc. Không khí ấm áp của hội nghị đã nói lên những tình cảm của tất cả những người con gốc Việt trong và ngoài nước. Những lo lắng suy tư về công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước lúc nào cũng là vấn đề được bà con quan tâm nhất .
Trong các bài phát biểu , tham luận của các kiều bào đại diện cho các vùng và lãnh thổ có người Việt Nam cư trú trên khắp thế giới đã nói lên điều đó . Điều đặc biệt trong hội nghị lần này điều quan tâm nhất của bà con kiều bào là vấn đề bảo vệ biển đảo đã được Thiếu Tướng Nguyễn Thanh Tuấn cục trưởng cục tuyên huấn quân đội nhân dân Việt Nam gải tỏa bằng bài phát biểu và thông báo cho bà con hải ngoại những điều mà từ trước đến nay được coi là “vùng nhạy cảm” thì nay nó đã được khẳng định tính nhất quán trong vấn đề đối với Trung Quốc mà từ trước gọi là “nước lạ”, “tàu lạ” …vv..
Trong những năm gần đây, nhiều Việt kiều từng giữ những cương vị cao trong chính quyền Sài Gòn cũ, những doanh nhân , trí thức, văn nghệ sĩ đều trở về nước và được Nhà nước tạo mọi điều kiện tốt nhất để sinh hoạt, làm ăn, hoạt động tôn giáo, nghệ thuật. Bà con trong nước cũng dành tình cảm chân thành của những người “cùng máu đỏ da vàng” cho những ai trở về đóng góp xây dựng và bảo vệ quê hương, không phân biệt đối xử hay có định kiến. Điều này thì cờ vàng CCCĐ không thể bịt mắt bà con trong cộng đồng được.
Các nhóm phản động lưu vong CCCĐ đã xúi giục, cưỡng ép một số người mang “cờ vàng” ra biểu tình, la ó, thể hiện sự vô tri , vô giác , ngu xuẩn , đi ngược lại xu thế tất yếu của thời cuộc. Đây là những hành vi vừa kéo dài hận thù, chống lại hòa hợp, hòa giải dân tộc, vừa thể hiện tính cách côn đồ , quái thú “phi quân tử”, vô văn hóa..của bọn đội lốt người mà người ta thường gọi chúng là CCCĐ , bọn chúng chỉ là kẻ “ăn mày dĩ vãng” không hơn không kém .Chúng không cư xử đúng với truyền thống của người Việt. Dân tộc đã có hơn 4000 năm văn hiến trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn , đất nước ngày càng thịnh vượng , trong, ngoài đoàn kết . Những kẻ có dã tâm phá hoại nếu cần thì dân tộc này sẽ gạt họ qua một bên trên con đường tiến lên phía trước.
Houston tháng 10-6 -2012
Amari tx
|
Đảng cộng sản việt Nam và vai trò gánh vác lịch sử dân tộc
Bùi Tín cái tên không xa lạ gì với người dân trong nước và ở hải ngoại. Người trong nước gọi ông ta là kẻ “phản bội”, kẻ “đào tẩu”, kẻ “ngậm máu phun vào lịch sử”. Người Việt hải ngoại thì gọi là kẻ “phản tỉnh”, kẻ “sám hối” tên “đặc công đỏ”.v.v… Nói về Bùi Tín thì có rất nhiều bài viết về con người này, chúng ta không bàn luận về quá trình phản bội, nhân cách của ông ta. Trong bài này đề cập đến một vấn đề mà Bùi Tín mới viết bài đăng trên website đài VOA nói về “Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa XI họp lần thứ năm để bàn về sửa đổi hiến pháp hiện hành”.
Đọc bài của ông Bùi Tín viết cho ta một cái nhìn về con người ngoan cố, xảo trá, nguỵ biện, bản chất thâm căn cố đế của một kẻ “ngửa mặt phun nước bọt lên trời”. Bùi Tín cùng với các băng nhóm cờ vàng CCCĐ(chống cộng cực đoan) ở hải ngoại gào thét trên các diễn đàn đòi xoá bỏ quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng CSVN. Bùi Tín viết: “Đảng CS Việt Nam đã đến lúc cần nghe rõ mong muốn nóng bỏng của đông đảo nhân dân là thiết lập một nền dân chủ đa nguyên hiện đại, điều kiện tiên quyết để hòa nhập hoàn toàn với thế giới dân chủ hiện đại. Lúc này đã là quá chậm. Không thể làm mất thêm thời gian của nhân dân, của dân tộc. Hãy chuẩn bị một cuộc họp Quốc hội lịch sử theo hướng ấy. Cũng cần tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề cực kỳ hệ trọng này.”
Nghe Bùi Tín và cờ vàng CCCĐ hô hào về nền “dân chủ đa nguyên hiện đại” mà Đảng CSVN cần phải “thiết kế gấp rút” mà thấy nực cười, giọng lưỡi y hệt đám phường chèo ở hải ngoại cứ làm như họ yêu nước đến mức “ngày quên ăn, đêm quyên ngủ” lo cho vận mạng của dân tộc. Đảng chẳng có gì là bí hiểm, cao siêu đến mức mọi người khó hiểu. Rất đơn giản là :
Đảng CSVN là một tổ chức chính trị tập trung nhiều người có chung một mục tiêu, lý tưởng tồn tại trong một chế độ xã hội. Mục tiêu của đảng là tham chính. Mục tiêu tối thượng là giành và giữ quyền lực nhà nước.
Lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy, các cuộc cách mạng lật đổ chế độ xã hội hoặc thay đổi lực lượng cầm quyền. Đến lượt mình khi đã trở thành đảng cầm quyền, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, mà họ lựa chọn chế độ đa đảng hay độc đảng.
Trên các trang mạng của cờ vàng CCCĐ phản động vẫn có những giọng điệu đòi Đảng CSVN, nhân dân Việt Nam phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn. Để phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phủ nhận giá trị đích thực Cách mạng của 90 triệu dân Việt Nam đã đổ không biết bao nhiêu xương máu mới giành được, các tờ báo mạng cờ vàng CCCĐ viết xuyên tạc rằng: “Sau 66 năm gọi là độc lập, người dân đến nay vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ, vẫn chưa có quyền công dân, vẫn như bơ vơ lạc lõng trên chính quê hương mình” và CCCĐ lập luận rằng, nguyên nhân là từ chế độ chủ nghĩa xã hội theo hệ tư tưởng Mác – Lê Nin ?
Nếu chúng ta tìm hiểu mối quan hệ giữa một Đảng chính trị với chế độ xã hội, cờ vàng CCCĐ đã cố tình hoặc không hiểu biết về chính trị đã bỏ qua nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác, như bối cảnh lịch sử cụ thể của từng nước đến vấn đề an ninh quốc gia, xã hội. Theo họ, mối quan hệ giữa chế độ đảng lãnh đạo với dân chủ là mối quan hệ duy nhất. Đây là một sự lập luận ấu trĩ mang tính chủ quan phi thực tế.
Chúng ta đã biết ở nhiều quốc gia thường không có một chế độ đa đảng hoặc một lãnh đạo – cầm quyền thuần khiết. Trong chế độ đa đảng, bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặc lãnh đạo, có khi kéo dài nhiều thập kỷ. Trong chế độ một đảng cầm quyền thì thường được bổ sung bằng sự tham gia của nhiều tổ chức xã hội.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh đã có thời kỳ trên đất nước Việt Nam có nhiều đảng, nhưng những đảng khác không vượt qua được những thách thức của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam gánh vác sứ mệnh lịch sử của dân tộc. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, cứ mỗi lần vượt qua khó khăn, thách thức thì Đảng CSVN đã thể hiện bản lĩnh vững vàng và trách nhiệm lớn lao đối với vận mệnh của dân tộc.
Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam không có một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được những cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Cờ vàng CCCĐ có biết rằng trong một xã hội, chế độ đa đảng tuy có những điểm giống nhau song không phải là một. Về mặt hình thức, sự tồn tại nhiều đảng và chế độ đa đảng giống nhau ở chỗ đều là số lượng các đảng, phái nhiều. Tuy nhiên, đa đảng chỉ phối hợp nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc do một đảng lãnh đạo, cầm quyền thì đó không phải là chế độ đa đảng, mà đơn giản chỉ là sự đa đạng của các tổ chức xã hội. Về bản chất, đó vẫn là chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền.
Chế độ đa đảng là một hình thái chính trị, là sự cạnh tranh về quyền lực lãnh đạo đất nước. Mỗi đảng thường là đại diện cho các lực lượng chính trị khác nhau, các nhóm lợi ích khác nhau lý tưởng, mục tiêu khác nhau, thường là đối lập với nhau về nhiều mặt. Đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Nói chung ở các nước tư bản, về hình thức, đa đảng chính trị trong cuộc đấu tranh nghị trường đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế chỉ có các đảng lớn, có thế lực mới có khả năng chiến thắng và bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặc lãnh đạo. Thí dụ như, hai đảng thay nhau cầm trịch là Cộng hoà và Dân chủ tại Mỹ.
Trên thực tế có những quốc gia sau sự thay đổi đảng cầm quyền đã làm đảo lộn chính trị được mệnh danh vì dân chủ đã trở thành đảng độc quyền của những lực lượng chính trị thắng thế. Đảng độc quyền đó có thể chiếm giữ tài sản xã hội thành tài sản của một đảng thắng thế, và đương nhiên nó sẽ phục vụ cho những người sở hữu nó. Đảng đó đã đi ngược lại lợi ích dân tộc.
Cờ vàng CCCĐ có biết được rằng đa đảng cũng có hai mặt của nó, chế độ đa đảng ở phương tây về thực chất, cũng là dựa trên cơ sở thống nhất một mục tiêu chính trị, vì tất cả các đảng đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Đa đảng đưa lại một số tác động tích cực nhất định cho các đảng tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ khả năng tránh nguy cơ độc quyền, độc đoán, thông qua cọ xát, kiềm chế, đối trọng lẫn nhau.
Tuy nhiên, thể chế đa đảng cũng kích thích các lực lượng đối lập vì lợi ích của phe nhóm phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền đưa ra, bất chấp phải – trái, đúng – sai, không tôn trọng những lợi ích chính đáng của nhân dân, cản trở mục tiêu mà đảng đang cầm quyền hướng tới.
Các tổ chức CCCĐ với những mưu đồ kêu gọi dân chủ cho Việt Nam thực chất đó là dân chủ giả hiệu, đây không chỉ là nhằm tuyên truyền lôi kéo các tổ chức chống Việt nam trong và ngoài nước, mà là tham vọng thay đổi thể chế chính trị Việt Nam, tạo tiền đề cho các đảng phái chính trị “ruồi bu” ở hải ngoại như Đảng Việt Tân, Liên minh dân chủ nhân quyền, Đảng Nhân dân hành động, Đảng Dân chủ Việt Nam.v.v… Những đảng này không chỉ là những tổ chức chính trị chống cộng mà còn là những tổ chức mang tính chất khủng bố, hoạt động nhằm lật đổ Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Điều này hoàn toàn đi ngược lại Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc của Luật quốc tế.
Đồng thời, việc tuyên truyền cho quan điểm đa đảng của họ còn nhằm tạo cơ hội cho những tổ chức đảng phái “ma quái” đang trong thời kỳ manh nha tại ở trong nước ra đời như Đảng Xã hội Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam do Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định chủ trương… Phần lớn những kẻ đang tuyên truyền cho đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập cho Việt Nam ở hải ngoại đều đang giữ hận thù với cách mạng hoặc xuyên tạc, phủ nhận thành quả cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, trong đó có cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Sau 37 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đây là lúc cả dân tộc tự hào và bày tỏ lòng biết ơn các anh hùng liệt sĩ, trong đó có hàng vạn cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã hy sinh thì Bùi Tín và bọn CCCĐ lại kêu gọi “Mọi người yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản thành khẩn xin lỗi toàn dân”! Có kẻ còn coi ngày đất nước được giải phóng là ngày “quốc hận”. Đó là chân dung của những kẻ đang đòi đa đảng ở hải ngoại.
Đa đảng không phải là không tốt, cũng như một đảng không phải là không tốt. Tình trạng quốc hội không thành lập được vì sự tranh dành các ghế trong quốc hội, đảng nào cũng muốn chiếm số lượng trội hơn các đảng khác hòng lợi thế trong các cuộc bỏ phiếu thông qua một vấn đề nào đó trong chính sách. Chúng ta chẳng cần nhìn đâu xa mà ngay bên cạnh đó là Thái Lan, cuộc xuống đường, xung đột giữa những người áo đỏ với Chính phủ đương nhiệm ở Thái Lan. Các xung đột tôn giáo xảy ra tại Miến điện (10/6/2012) cho thấy những hệ quả của chính sách đa đảng khi mà trình độ nhận thức của người dân về dân chủ còn ở mức độ thấp.
Thiết tưởng giúp cho các vị CCCĐ có thêm các căn cứ để suy nghĩ về những khó khăn, phức tạp của chế độ dân chủ – đa đảng. Thực tế cho thấy, trong một xã hội, chế độ đa đảng với sự đối lập, cạnh tranh, đấu tranh giữa các đảng không phải bao giờ cũng đem lại dân chủ và phát triển cho xã hội.
Đảng CSVN không phải là cái gì đó quá “xa vời”, “siêu tưởng” như các vị cờ vàng CCCĐ gán ghép. Đảng chính là những con người cụ thể tồn tại trong xã hội, trong đó từng đảng viên là người đại diện của Đảng CSVN. Vì họ là những tế bào trong xã hội vì thế, trong quá trình phát triển của mình cũng có lúc, có nơi cán bộ, đảng viên còn vi phạm khuyết điểm, còn thể hiện sự non yếu về năng lực , yếu về tư duy. Khi phát hiện ra những hạn chế, khiếm khuyết cần sửa chữa thì sẵn sàng khắc phục sửa sai ngay. Và Đảng muốn mạnh, muốn giữ vững được vai trò lãnh đạo xã hội của mình, muốn có được lòng tin của nhân dân, không có cách nào khác là Đảng phải tự sửa mình, tự chấn chỉnh mình. Đó là lẽ thường tình và cũng là việc làm thường xuyên của một Đảng cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân.
Cần khẳng định cho cờ vàng CCCĐ và nước, các tổ chức thù địch với Việt Nam rằng: nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là đi tiếp con đường cả dân tộc đã từng đi hơn tám thập kỷ qua là nối tiếp hiện thực – thực tiễn CNXH đã có, đang có ở Việt Nam, chứ không phải là một “lý tưởng mơ hồ”. Con đường cách mạng mà Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn thể hiện đầy đủ khát vọng của mọi tầng lớp nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là giải pháp tổng quát duy nhất đúng, tối ưu, nhanh nhất và hiệu quả nhất để xây dựng đất nước Việt Nam thực sự dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ta thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc và làm chủ thực sự cuộc sống và đất nước mình.
Đảng CSVN đã lãnh đạo toàn dân tộc vượt lên tất cả những giai đoạn lịch sử thăng trầm, những thành tựu về kinh tế – xã hội, lĩnh vực quân sự – quốc phòng đã có những bước tiến nổi bật và đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Thành tựu bao trùm nhất là: Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, các thành quả cách mạng, tăng cường thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc lớn mạnh hơn nhiều so với trước đây, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường củng cố vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Việt Nam luôn được các tổ chức quốc tế xếp trong tốp các nước có môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho đầu tư phát triển. Điều đó cũng nói lên định hướng đúng đắn trong việc điều hành đúng đắn của một đảng cầm quyền. Điều này các vị CCCĐ không thể phủ nhận được.
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược bảo vệ thành quả của cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng công cuộc đổi mới, hội nhập với cộng đồng quốc tế tạo nên vị thế mới của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Trong lịch sử Việt Nam, dân chủ, nhân quyền do nhân dân ta tự đứng lên mà giành lấy, chẳng có một kẻ nào chia sẻ cho chúng ta những giá trị đó cả. Xã hội Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề nhức nhối, như tình trạng quan liêu, tham nhũng, vi phạm dân chủ, nhân quyền, thì đó là điều Đảng CSVN và Nhà nước VN không mong muốn và đang cùng người dân Việt Nam đang nỗ lực xóa bỏ tình trạng đó.
Nhưng để giải quyết những vấn đề trên, nhất thiết không thể trông cậy vào những lực lượng chính trị đối lập như các đảng phái “ma trơi” ở hải ngoại của bọn cờ vàng CCCĐ dưới bất cứ hình thức nào. Chúng ta phải tự giải quyết lấy công việc của mình, cho dù đó là một công việc khó khăn.
Như vậy các vị Bùi Tín và cờ vàng CCCĐ đã thấy, dân chủ hay không dân chủ không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa đảng đối lập. Trong từng thời điểm cụ thể, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo, dân chủ trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuôc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.
Đảng cầm quyền phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia. Trước tiên phải đặt lợi ích của cả dân tộc lên trên hết, phải lấy an ninh quốc gia, ổn định và phát triển bền vững làm tiền đề, đương nhiên lựa chọn chế độ nào đều phải được sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số nhân dân, thông qua những người đại diện của mình đó là Quốc hội.
Ngày nay, hơn 190 quốc gia trên thế giới đang tồn tại, với nhiều chế độ chính trị – thể chế quốc gia khác nhau . Ở mỗi quốc gia, việc lựa chọn hệ tư tưởng nào, chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội thể chế chính trị nào đa đảng hay một đảng lãnh đạo, cầm quyền tam quyền phân lập hay phân công phối hợp mô hình kinh tế nào chủ nghĩa tự do hay kinh tế thị trường xã hội, đều thuộc quyền của mỗi quốc gia – dân tộc mà không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vậy thì những tiếng kêu gào của Bùi Tín và các băng đảng “ma trơi” CCCĐ lấy tư cách gì mà đòi Việt Nam đa nguyên, đa đảng ? Thật nực cười cho những đầu óc điên rồ này.
Houston-thang 9-2012
Amari Tx
Những kẻ bán linh hồn cho qủy
Họ không phải là quan tòa!
Những kẻ hoang tưởng


Ai “bức tử” cờ vàng ?
Sau khi nghe tin về việc ký kết hiệp định hòa bình, Tổng thống Nixon gọi cho vợ, bà Pat Nixon: “Kissinger đang trên đường trở về và chúng ta đã có được hiệp định. Tôi sẽ thông báo vào 10 giờ tối nay trên truyền hình”, Tổng thống Nixon nói với Đệ nhất Phu nhân. “Thật tuyệt vời, thật phi thường”, bà Pat Nixon trả lời.




