Truyền thông “Vịt trời”

Có người tự nhận mình là “nhà báo” ở xứ cờ vàng chống cộng hải ngoại, đã nói rằng: Đã là nhà báo hành nghề ở địa bàn, môi trường nào là phải viết hay, viết tốt về nơi đó. Tuyệt đối không đưa những thông tin “nhạy cảm”, “trái chiều” lên báo. Bù lại, anh sẽ nhận được sự đối đãi “tử tế” của các tổ chức Chống cộng cực đoan(CCCĐ), các hội đoàn ma trơi, các đảng phái, mang hơi hướng chống cộng.!?
Đó là một thực tế đã và đang tồn tại ở hải ngoại, đặc biệt ở xứ Bu(Mỹ) này. Hiểu như vậy là chưa đúng, ý nghĩ đó chỉ giành cho những kẻ mạo danh “nhà báo”, “ký giả” mà chúng ta gọi chung là lũ “vịt trời” hành nghề cái được gọi là “nhà truyền thông”. Trong bài này chúng ta không đi vào khía cạnh những ma mãnh của gới truyền thông của cờ vàng CCCĐ.Ở đây chúng ta đi vào nội dung nguyên nhân và tác động nào dẫn đến các món mà cờ vàng CCCĐ đã “xào nấu” đổi trắng thay đen.
Xin thưa với các vị rằng: Nghề báo là một nghề đặc thù. Đã dấn thân, anh bắt buộc phải chấp nhận đủ thứ rủi ro, nguy hiểm. Anh sẽ phải chấp nhận những tai ương, lạnh nhạt, lảng tránh, tính mạng. Chấp nhận cái nhìn thiếu thiện cảm hay thái độ bất hợp tác. “Nghề báo bạc lắm”. Nó không phải trò chơi của mấy ông thất nghiệp, chơi nổi, theo đóm ăn tàn mà mấy ông vỗ ngực xưng danh “Nhà báo” ở cái xứ BU này.
Dấn thân vào một nghề như đã nói mà anh lại đòi “cái gì cũng được cả” thế thì anh đi làm anh cu li, làm công ăn lương. Chả sợ đụng chạm con khỉ khô gì hết, cứ việc mình, mình làm, sáng đi tối về, đến tháng lĩnh lương. Khỏe re “như bò kéo xe”! Nhưng anh làm báo CCCĐ ở cái xứ BU này đâu có cần hội đủ các điều kiện sơ đẳng nhất để bước vào công cuộc “hành nghề”, rất đơn giản, chỉ cần thông thạo tiếng mẹ đẻ (viết sai chính tả cũng ok), độc giả sẽ tự luận ra hết, anh phải có thẻ hành nghề? Ồ, chuyện đó có quan trọng gì, ta tự cấp cho ta một cái “Cạc”,vậy là xong!
Các vị là “nhà báo” mà không hiểu một chút gì về cái nghề này, phương châm của người làm báo đích thực là “mắt sáng, lòng trong, bút sắc” thì anh phải viết đúng, viết khách quan, viết theo lẽ phải. Anh phải đấu tranh cho sự công bằng, đấu tranh đẩy lùi cái ác, cái xấu và những tiêu cực xã hội. Còn mấy ông “Ký giả”, “nhà báo” Việt ngữ ở cái xứ cờ hoa này quên béng đi mà có lẽ cũng chẳng biết (có học đâu mà biết) cái định nghĩa về môn logic học là: Ngôn ngữ là công cụ cơ bản của tư duy. Ngôn ngữ không phải chỉ là cái tôi và anh trao đổi thông tin với nhau, nó còn là cái mà chúng ta dùng để suy nghĩ. không viết được là dấu hiệu của sự không suy nghĩ được. Các vị “nhà báo” cờ vàng CCCĐ có hiểu điều này không ? Nó đơn giản vậy thôi, chẳng có gì gọi là cao siêu cả.
Nhưng lạ thay ở cái xứ cờ hoa tự do này! vì là tự do nên nhiều điều xảy ra chỉ có những người giàu đầu óc “siêu tưởng” cũng chưa hình dung và tiên liệu được những bộ óc của các “Nhà báo” này, vượt qua không gian, thời gian, đến ông albert einstein có sống lại cũng chào thua. Một căn bệnh phổ biến trong giới những ông “làm báo” này là:Họ làm theo cách của những kẻ chẳng hiểu, hay cố tình không hiểu công việc mình làm là cái gì ? Vậy các ông thần tự phong “nhà báo”, “ký giả” có hiểu làm báo là gì không? Xin thưa ngay chứ để mấy ông định nghĩa rồng rắn thể hiện “trí tuệ” của cờ vàng CCCĐ thì đến tết Maroc bà con cũng không hiểu được. Ngắn gọn làm báo là làm một liên kết xã hội, một sản phẩm báo chí, nó thông đạt một sự kiện vừa mới xảy ra tới với mọi người, nó thu hút sự quan tâm của nhiều người vào một điểm xác định. Cơ sở nào để các anh cờ vàng viết báo có thể mổ xẻ, cắt nghĩa, lý giải, đánh giá, nhận định một sự kiện? Một quan điểm cá nhân, một tư duy độc lập? Các anh chỉ lớn tiếng, cao giọng, chỉ trích hơn một chính kiến?
Rằng: không phải vài ba cái tin, bài bới móc, vụn vặt, chạy theo tâm lý chống cộng theo đám đông, thỏa mãn tâm lý tò mò của nhóm người đó, sự cổ vũ của đám người cực đoan của vài ba trang mạng xã hội sặc mùi bài xích chế độ cầm quyền ở Việt Nam là anh đã oai lắm rồi, tự vỗ ngực xưng tên là nhà này, nhà nọ? Đã nhận mình là “Nhà báo” dám “động chạm”, “bình loạn” vung xích chó trên truyền thông? Bởi vậy truyền thông ở hải ngoại giống như trời đất đảo điên, thực hư lẫn lộn, nhân tâm xáo trộn trong đống thông tin mịt mù trước những “bình loạn” mà các “nhà báo” cờ vàng dương cao lá cờ “quyền lực thứ tư” mà các anh tiếm đoạt.
Không ai buộc vị phải viết theo cái lối ngược ngạo như vậy, mà đây là sự lợi dụng cái gọi là “tự do báo chí” để trục lợi về chính trị của “nhà báo” cờ vàng cực đoan mà thôi. Nếu các vị là nhà báo chân chính, tốt cho nơi mình đang đảm trách nhiệm vụ “truyền thông”, càng không có ai có thể cấm các vị không được viết những bài có tính chất “chống cái xấu”, “phản biện xã hội”, bảo vệ lẽ phải. Cái chính là các vị viết thế nào mới là điều đáng bàn. “Nhà báo” cờ vàng CCCĐ viết không phải bằng lập luận, không phải bằng điều tra, không phải bằng những chứng lý cụ thể, không viết bằng cái “tâm sáng” mà viết theo “cảm tính”, anh viết theo “đơn đặt hàng chống cộng”, viết theo ý kiến cá nhân, viết không khách quan, viết thiếu trung thực thì các vị đã đi ngược lại lịch sử, đi ngược lại tâm tư nguyện vọng của đa số người dân.
Chưa bao giờ như bây giờ, những “nhà báo” tự phong ở hải ngoại phát triển đông đến chóng mặt, “ra ngõ là gặp nhà báo”. Đa phần những “nhà báo” này là “tay ngang”. Có nghĩa là xuất phát điểm anh không hề “học” về báo chí, anh chưa hề làm báo. Ta thường nghe mấy vị này cao giọng tôi làm báo, đưa tin “khách quan” nghe vậy chắc nhiều người đồng tình về thái độ này, nhưng không phải vậy. Nếu không hiểu đúng nghĩa của từ “khách quan” rất dễ người ta xoá đi cái “tôi” của bản thân mình, nhưng các vị lại chuyển sang một cái “tôi” khác.
Không khó khăn gì để nhận diện đàng sau lời hô hào của các vị “nhà báo” này đó là kiểu làm báo với thái độ trốn tránh trách nhiệm, các vị sợ hãi những phản ứng của các thế lực chống cộng cực đoan khi các vị viết trung thực. nếu viết đúng những gì ở bên Việt Nam thì gây ra sự bùng nổ sự chống đối của các băng đảng CCCĐ, các vị làm gì có đủ dũng khí đối đầu. Nếu các vị có đủ can đảm có đủ nội lực để viết trung thực thì còn gì phải bàn cãi nữa? Nhưng đáng tiếc các “nhà báo” cờ vàng CCCĐ, hoặc thiếu một trong hai yếu tố này, hoặc thiếu cả hai. Chính vì thế mà việc đưa thông tin không chính xác, việc bình luận về thông tin theo kiểu “hóng hớt”, “nghe hơi nồi chõ” đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện” trong làng báo việt ngữ ở hải ngoại.
Thực tế ở hải ngoại đa số người làm báo không hiểu nhiều về báo chí, có người đơn thuần chỉ là người cung cấp tin, có người viết lách với động cơ thiếu trong sáng, có người viết tin, bài… lấy nhuận bút kiếm sống, có người thậm chí không biết làm nghề gì nữa thì đi làm báo chơi.
Nhiều vị “nhà báo” ở hải ngoại rất buồn cười. Cứ nghĩ mình viết được cái này, cái nọ rồi, là ổn rồi, được một vài người đọc rồi là cảm thấy “Tê tê”. Bây giờ thì có thể “phán” ra sao cũng được. Rồi anh ta “lên ngón”, anh ta “chỉ mặt”, anh ta “tuyên bố”, anh ta “thách”… Nhiều người thì thầm thằng cha bị chập. Nhưng khi nói chuyện với “thằng cha chập” người ta lại “bốc thơm” nên “thằng cha chập” lại càng “chập”. Có lẽ đây là một trong những nguyên nhân khiến cho độc giả người ta coi thường các vị “nhà báo” hải ngoại quả không ngoa chút nào.
Các vị “nhà báo” hải ngoại lúc nào cũng cao giọng tính “khách quan” của cơ quan truyền thông mà các vị đang nắm giữ, nhưng thực ra các vị không hiểu hết được nội hàm của nó thành ra nó dẫn đến những tình huống trớ trêu. Các vị hãy nghe BU nói về vấn đề này như thế nào nhé:
“Nghề báo là một nghề luôn được đánh giá cao ngay từ khi mới ra đời. Mục đích quan trọng nhất của nghề báo là cung cấp cho bạn đọc những thông tin thời sự chính xác và đáng tin cậy mà họ cần để có thể hành xử tốt nhất trong cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, do môi trường kinh tế, môi trường dân tộc, môi trường chính trị… mỗi quốc gia khác nhau nên nghề báo mỗi nơi đều có những đặc thù riêng. Năm 1996, Tổ chức Các nhà báo chuyên nghiệp Mỹ đã loại bỏ khái niệm “khách quan” ra khỏi những nguyên tắc đạo đức của mình. Họ cho rằng nhà báo Mỹ là con người và đã là con người thì phải có những quan điểm cá nhân. Cho nên người làm báo càng phải cẩn trọng trong nghề để đưa ra những thông tin hữu ích cho dân tộc mình, quốc gia mình và cho nhân loại”.Và các vị có hứng thì đọc tiếp “cẩm nang hành nghề” này:
Cuốn “Hướng dẫn nghề làm báo độc lập” của tác giả Deborah Potter, Giám đốc điều hành của Newslab (www.newslab.org) – Trung tâm dữ liệu trực tuyến dành cho các nhà báo tại Washington DC, đồng thời là giảng viên báo chí tại Viện Poyuter và trường Đại học Hoa Kỳ là một loại sách “giáo khoa” báo chí theo những quan điểm của Mỹ.
Hy vọng các vị “nhà báo” tự phong và học lóm không bài bản của cờ vàng CCCĐ đọc tìm thấy trong cuốn sách này những điều bổ ích để sửa lại cái đầu “chập cheng” thấy người ta “ăn khoai thì vác mai đi đào”.
Nói như vậy để thấy rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng “cáo đội lốt sư tử” mang danh truyền thông mà không hiểu mình đang làm gì, từ hiểu sai, từ cố chấp, từ nhận thức. Và, cuối cùng là: vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm Luật báo chí.
Cổ nhân từng nói “bể học mông mênh”, không ai có thể tự tin vỗ ngực rằng mình cái gì cũng biết. Cũng vậy, người đời không thể học hết “túi khôn nhân loại”. Suy nghĩ, nhận thức của cá nhân chắc chắn cũng chỉ như muối bỏ bể. Song vấn đề là khi đưa ra một quan điểm, một luận cứ nào đó thì phải trên cơ sở “kỷ luật phát ngôn”, nghĩa là có đọc, có cơ sở, có lập luận hãy nói, chứ đừng nhắm mắt phán bừa, kiểu “thầy bói xem voi” mà thói quen các “nhà báo” cờ vàng CCCĐ thường phán.
Thời đại bùng nổ thông tin, thông tin lên ngôi, theo đúng kiểu “quyền lực thứ tư”. Nhưng, cũng vì vậy, có quá nhiều người tự xưng, giả danh “nhà báo” ở xứ cờ vàng chống cộng này. Để lừa đảo, xuyên tạc sự thật, … đủ mọi nhẽ. Hè nhau “truy hoan”, “tự sướng” trên sự xuyên tạc về những việc tiêu cực xảy ra ở Việt Nam sau khi chôm chỉa và cắt xén nội dung, ý nghĩa của mục đích bài viết. “Nhà báo” cờ vàng chống cộng là như vậy đó.
ngày 6-5-2013
Amari TX
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Tháng tư- niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc

Hình ảnh: Bài đăng trên báo công an nhân dân ngày 29-4-2013 " Tháng tư niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc" Hình ảnh: Bài đăng trên báo công an nhân dân ngày 29-4-2013 " Tháng tư niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc"
Bài đăng trên báo công an nhân dân ngày 29-4-2013
Tháng Tư, niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc
17:37:00 29/04/2013, cập nhật cách đây 2 giờ

Amari TX- Việt kiều Mỹ

Sau 38 năm chiến tranh kết thúc, cảnh đao binh mịt mù lửa khói giữa thế lực ngoại bang với hai miền Nam – Bắc lùi xa, có rất nhiều người con dòng máu Việt mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến không còn ngờ vực, không còn hận thù, mọi nỗi đau đều được chôn chặt trong tâm khảm giữa những người Việt Nam cùng dòng máu Lạc Hồng.

Đã là năm thứ 38, có rất nhiều những hậu quả chiến tranh để lại trên mảnh đất thân yêu đã được toàn dân tộc nỗ lực vượt qua bao khó khăn để xây dựng một Việt Nam mới của hòa bình và phồn thịnh. Nhưng vẫn còn có một nỗi suy tư day dứt mà chúng ta chưa toại nguyện. Vấn đề đó ngày đêm vẫn giày vò những người Việt Nam yêu nước chân chính đang sống ở hải ngoại: Hoà hợp – hoà giải lòng người.

Sau cái ngày rời đất Mẹ ra đi, biết bao nỗi cực nhọc phải vượt qua trên đất khách quê người, chăm chỉ, nhẫn nại – đức tính mà Mẹ Việt đã truyền lại cho chúng con mỗi khi đương đầu với sóng gió. Ôi! Mẹ Việt Nam ơi, hãy ôm tất cả chúng con vào lòng, dù mẹ nghèo nhưng mẹ có trái tim nhân hậu bao la. Có bao giờ Mẹ ruồng bỏ những đứa con mà Mẹ dứt ruột đẻ ra, chỉ có chúng con có những lúc chối từ tình thương của mẹ.

Các thế hệ, từ những người đã từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia các cuộc chiến giành độc lập của dân tộc, đến những người chưa từng trải qua chiến tranh đều đang cùng nhau đánh giá, phân tích để tôn vinh sự hy sinh cống hiến to lớn của các thế hệ trước trong cuộc chiến tranh vệ quốc, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm ngăn chặn chiến tranh đe dọa cuộc sống hòa bình.

Dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Vậy mà tiếc thay! Còn một số người không những vẫn hằn học hoặc cay cú với quá khứ, tiếp tục bằng mọi cách chống phá, bôi nhọ, xúc phạm sự hy sinh to lớn của dân tộc, tiếp tục chia rẽ, ngăn cản tiến trình phát triển của đất nước.

Họ núp dưới con bài “tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo” để đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập gây chia rẽ dân tộc, cản trở tiến trình hoà giải hoà hợp dân tộc mà đó là tính nhân văn của cha ông từ ngàn xưa để lại.

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh: tư liệu.

Một số nhóm chống Cộng cực đoan ở hải ngoại thường tổ chức “ngày quốc hận” để hoài niệm một chế độ ở miền Nam Việt Nam đã đi vào quá khứ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam. Hành động như vậy, họ đã tự hạ thấp chính họ, hạ thấp dân tộc Việt Nam và coi thường mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp của nhân dân Việt Nam với các nước trên thế giới. Đặc biệt là mối quan hệ với cựu thù là nước Mỹ, khi mà Việt Nam và Mỹ đã công nhận nhau, có quan hệ chính thức với nhau và mối quan hệ hợp tác Việt – Mỹ đang ngày càng phát triển, sự phát triển mà có nhiều người nói rằng “không ngờ ” nhanh và tốt đẹp đến như vậy.

Năm thứ 38 sau cuộc chiến, những đau thương mất mát, những vết thương còn chưa lành hết, những hậu quả do chiến tranh gây ra, có một số người họ đưa ra những đánh giá, nhận xét thiếu khách quan, thậm chí đầy tính kích động và xuyên tạc. Họ thẳng thừng tuyên bố: “ngày 30/4 là ngày toàn thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng là ngày thua của toàn dân tộc”.

Không thể nói lạc điệu như thế! Qua đó chúng ta nhận thấy rằng nỗi thù hận chưa tan nguôi, các tác giả các bài viết thường sử dụng những hiểu biết cũ rích, lạc hậu và lặp đi lặp lại những điều đã nói lâu nay. Họ đã bỏ qua thực tế những gì đang diễn ra trong nước, cố tình nói xấu bôi nhọ để lôi kéo những người chống đối. Tuy nhiên, trong thời đại thông tin được phổ cập và phát triển như vũ bão, khó có thể lừa được tất cả mọi người.

Chỉ có trở về dân tộc, đó chính là sự trở về với nhau với thời gian không còn nhiều của những con người Việt Nam bị xé ra từng mảnh bởi cuộc chiến tranh tàn khốc đã qua. Đã là năm thứ 38, chúng ta đã có đủ thời gian và trí tuệ để suy ngẫm về nỗi đau chia cắt lòng người. Và đối với tất cả những ai yêu dân tộc này bằng máu chảy trong trái tim mình đều nhận ra nỗi đau chia cắt nhiều lúc đến phi lý ấy.

Trong khoảng thời gian từ sau ngày 30/4/1975 đến nay ở hải ngoại, nhiều nỗi đau đã nguôi ngoai, nhiều vết thương đã lành lặn, nhiều nghi ngờ đã biến mất, nhiều sự thù hận đã chìm sâu, có biết bao người Việt Nam xa xứ đã trở về và cất tiếng nói về dân tộc mình, một dân tộc với truyền thống của tình thương yêu vô bờ bến, một dân tộc trong mọi hoạn nạn không rời bỏ nhau, một dân tộc đầy lòng vị tha, đầy lòng nhân từ bác ái ngay cả với kẻ thù của mình… Họ đã trở về trong vòng tay mẹ.

Có biết bao người Mỹ đã từng xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, đòi chính phủ phải cho con em họ ra khỏi cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cuộc chiến tranh kết thúc vào ngày 30/4/1975 để có một nước Việt Nam như ngày hôm nay, máu của dân tộc Việt thấm đẫm từng thước đất. Cái giá phải trả quá lớn. Vậy mà những người chống đối vẫn coi Ngày Chiến thắng đó là “ngày quốc hận”. Phải chăng, như thế chính họ đã tự loại mình ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam, tự mình đứng ngoài sự trỗi dậy của dân tộc.

Sau chiến tranh, có rất nhiều lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam đã và đang trở lại chiến trường xưa sám hối về những tội ác mà họ gây ra, để lòng họ được thanh thản. Lòng vị tha của con người Việt Nam, lịch sử, văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam đang thu hút ngày càng nhiều người nước ngoài đến với Việt Nam, trong đó có các cựu binh Mỹ.

Có sai lầm hay không khi có những người Mỹ và nhiều nước khác tự nguyện đến với Việt Nam, coi Việt Nam hôm nay là một phần để gắn bó cuộc đời? Có sai lầm hay không khi những người nước ngoài xin được nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nguyện ước được an táng tro cốt của mình sau khi qua đời vì kính trọng và yêu mến Việt Nam? Và có sai lầm hay không khi những tập đoàn, công ty của nước ngoài tự nguyện đến Việt Nam đầu tư, kinh doanh, làm bạn với Việt Nam? Chắc chắn là không!

Tất cả những người Việt Nam yêu đất nước, yêu dân tộc mình phải thấy đó là một điều hổ thẹn. Tại sao đã qua 38 năm mà chúng ta vẫn còn lại trong lòng mình những điều phi lý ấy. Những trai thanh nữ tú người Việt Nam sinh năm 1975 lớn lên đồng hành cùng dân tộc sống và học tập trong thời bình. Thế hệ những người đó sẽ trở thành những người ông và bà trong vài năm nữa thôi. Vậy mà cho đến lúc này, chúng ta vẫn còn đứng một phía nhìn nhau như những kẻ xa lạ và như không thể đến bên nhau. Lịch sử sẽ ghi lại nỗi đau buồn ấy của chúng ta, những người Việt ở Mỹ. Và đến một ngày nào đó trong tương lai, những thế hệ tiếp theo sẽ đặt câu hỏi về một giai đoạn lịch sử của chúng ta.

Và lúc này, sau 38 năm chiến tranh kết thúc, có rất nhiều người mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến, không còn hận thù giữa những người Việt Nam cùng dòng máu tổ tiên. Giấc mơ ấy thật giản dị và đủ lý do để trở thành hiện thực. Nhưng nếu chúng ta không vì đất nước, không vì dân tộc mình thì có thể chúng ta đi cả một nghìn năm nữa cũng không bao giờ chạm tay vào được.

Cả hai bên phải có thiện ý, trung thực để hoá giải sự ngờ vực và lòng thù hận, nếu chỉ một bên thôi thì hỏi đến bao giờ?

Hãy trở về cùng nhau và làm cho dân tộc này không phải hổ thẹn với con cháu sau này. Mỗi người Việt Nam yêu nước chân chính hãy cất tiếng về ước mơ lớn đó của dân tộc mình và hãy tìm ra một con đường nhân văn nhất để dân tộc ta tới được ước mơ đó. Đây không phải là một lời kêu gọi, đây chỉ là nỗi giày vò nhiều đau đớn và ngập tràn niềm tin của khát vọng của tất cả những người Việt Nam.

Để kết thúc bài này tôi mượn ý câu nói của nhà ngoại giao kỳ cựu Việt Nam Võ Văn Sung: “Nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có tội với tương lai của chính con cháu mình”.

Viết tại Houston TX, Hoa Kỳ 4/2013

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Vẫn thói nhắm mắt đoán bừa

Bài được đăng trên Tạp chí nhân quyền Việt Nam số 4 năm 2013

Hình ảnh

1
1
1
1
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Khởi thủy từ niềm tin yêu !

Bài được đăng trên Tạp chí nhân quyền Việt Nam số 4 năm 2013

Hình ảnh Hình ảnh Hình ảnh

1
1
1
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Thành tựu đổi mới là thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam!

  Hình ảnh Hình ảnh
Trên Website boxitvn ngày 15-3-2012 có đăng bài của tác giả ký tên NTV  (http://boxitvn.blogspot.com/2013/03/ong-mai-hoang-kien-noi-khong-that.html-nhưng)- ban biên tập đề rõ đó là ông Nguyễn Trọng Vĩnh viết ngày 13-3-2013 gởi đăng phản bác lại bài “Dân chủ phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền” trên báo nhân dân ngày 8-3-2013 của tác giả Mai Hoàng Kiên. Bản thân tôi là một người Việt đang sống tại Hoa Kỳ cảm thấy ngạc nhiên về những điều ông Vĩnh nêu ra. Tôi có thể khẳng định rằng đó là những điều cáo buộc. Trong bài viết tác giả lớn tiếng giáo huấn, trích dẫn như người nắm trong tay bằng chứng xác đáng không thể “chối cãi” được, tỏ ra “Thông thạo” về “Nội tình” của đất nước, nhưng khi ta đọc bài này thì tác giả lại vô tình (hay cố tình?) không chỉ ra cho người đọc biết những dẫn chứng phản biện bài viết của tác giả Mai Hoàng Kiên và mối quan hệ biện chứng giữa Đảng cộng sản Việt Nam với các thắng lợi vẻ vang trong công cuộc kháng chiến cứu nước và xây dựng đất nước trong lịch sử dân tộc. Tác giả cũng phớt lờ lịch sử và với nhận định: “Dân chủ hay không còn tùy thuộc sự biến thiên về chất của đảng theo thời gian và tùy thuộc vào người lãnh đạo” !?. Không dừng lại ở đó tác giả khẳng định tiếp ” Hãy nói từ năm 1975 trở về trước, nhất là thời kỳ năm 1946. Lúc bấy giờ Đảng cộng sản cực kỳ trong sáng, hết lòng vì nước vì dân…còn bây giờ thì …uy tín vai trò của Đảng đã khác rồi “”!? Ông NTV cố tình tỏ ra không hiểu, hoặc cố tình xuyên tạc bản chất của điều lệ Đảng sửa đổi (Điều 9) khoá XI nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ” . Những người cơ hội, xét lại đã phản kích quyết liệt nguyên tắc tập trung dân chủ – nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng CSVN . Họ cho rằng căn bệnh độc đoán, gia trưởng, chuyên quyền là bạn đồng hành gắn liền với nguyên tắc tập trung dân chủ. Một số người lớn tiếng đòi thực hiện đa nguyên chính trị, mở rộng dân chủ không giới  hạn, hy vọng tạo ra trong Đảng nhiều phe phái đối lập nhằm phá hoại sự đoàn kết của Đảng. Một số người vì hạn chế về nhận thức lý luận, mơ hồ về chính trị cũng dao động, nghi ngờ bản chất khoa học của nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ cho rằng: Nguyên tắc tập chung dân chủ chỉ phù hợp khi Đảng lãnh đạo trong thời chiến nay thì đã lỗi thời !? Tôi tôi nghĩ làm gì có chuyện Đảng chặt chẽ ở giai đoạn này, buông lỏng ở giai đoạn khác. Như mọi người biết Đảng cộng sản Liên Xô do không nắm vững bản chất và buông lỏng nguyên tắc đã bị những phần tử cơ hội phản động làm tan rã. Vì vậy phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ một cách chặt chẽ nhất. Vậy thì ông NTV đòi hỏi một thứ dân chủ, nhân quyền không giai cấp, nhưng thực ra lại rất mang tính giai cấp, đó là “dân chủ tư sản” , là“nhân quyền tư sản”. Qua theo dõi trên các trang mạng xã hội tôi thấy những “nhà dân chủ” họ phỉ báng nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam như Hiến pháp quy định là độc tài, phát xít. Họ phủ nhận sự nhận thức lý luận và thực tiễn về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc VN. Họ thiết lập và giả tạo những tư liệu, nhận định sai lầm, khó kiểm chứng về lịch sử, reo rắc hoài nghi về việc lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, họ buông những lời cay nghiệt đối với “sự lựa chọn của lịch sử” về con đường đi lên của dân tộc… hòng làm cho người đọc nhầm lẫn, hoài nghi, đặt ra những câu hỏi ngờ vực, dao động niềm tin trong nhân dân. Luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, thổi phồng hoặc dựng đứng lên các “sai lầm”, “tội lỗi” của Đảng Cộng sản, hạ bệ thần tượng lãnh tụ, nói xấu cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Họ luôn khoét sâu những điểm yếu kém, hạn chế trong thực thi công vụ của các cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý từ Trung ương đến cơ sở, tạo dựng ra cái gọi là phe này, phái nọ hay những “cuộc đấu đá”, tranh giành quyền lực vv… để gây lòng nghi kỵ, ngờ vực, phá hoại lòng tin vào Đảng, Chính phủ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó, phát tán những tư tưởng chống Cộng, kích động ,cổ vũ cho những tư tưởng, hành động cực đoan, chống phá chính quyền Nhà nướcViệt Nam.Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập có chủ quyền, có quyền dân tộc tự quyết, quyền lựa chọn quyết định thể chế chính trị của mình. Người dân có quyền tham gia vào việc xây dựng và quyết định các quyết sách của đất nước. Quyền bầu cử, ứng cử, ngày càng được phát huy. Ngoài tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam, còn có các tổ chức chính trị và hàng trăm tổ chức xã hội – nghề nghiệp theo lứa tuổi, giới tính, lĩnh vực nghề nghiệp hoạt động thu hút hàng chục triệu hội viên tham gia. Mọi tư tưởng và chính kiến khác nhau được tự do đề đạt có tổ chức- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Các dân tộc được đảm bảo bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; được tạo cơ hội phát triển như nhau, được duy trì tiếng nói và chữ viết riêng, bảo tồn văn hoá truyền thống. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được nâng cao- Quyền khiếu nại, tố cáo được đảm bảo; quyền bất khả xâm phạm thân thể và quyền được bảo vệ tính mạng sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người dân luôn được tôn trọng- Quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật được tôn trọng. Với số đầu báo, tạp chí tăng nhanh, thông tin đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân. Hệ thống phát thanh, truyền hình phát triển nhanh, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có đài phát thanh, truyền hình, với trên 95% số xã được phủ sóng truyền hình, gần 99% số xã được phủ sóng phát thanh.

Việt Nam đã đạt được Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Liên hợp quốc đặt ra là giảm một nửa tỷ lệ đói nghèo giai đoạn 1990 – 2015; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, các chương trình chăm sóc y tế đã thu được kết quả khá. Việc khám chữa bệnh cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, được quan tâm; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên từng năm.
Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục-đào tạo tăng nhanh, hình thức giáo dục-đào tạo được đa dạng hoá, đã đảm bảo công bằng xã hội trong văn hoá, giáo dục. Lượng thông tin được cung cấp phong phú hơn về số lượng, đa dạng về chủng loại, hấp dẫn hơn về nội dung và hình thức. Người dân được tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại. Có thể khẳng định, Quyền con người ở Việt Nam không ngừng được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam . Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước. Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn của nước này cho nước khác.Họ cổ vũ thứ dân chủ vô kỷ cương, không lãnh đạo, hòng tự do gây hỗn loạn về tư tưởng, làm đổi màu xã hội, chuẩn bị cho tình huống lật đổ Đảng, Nhà nước và chế độ . Họ cố tình quyên rằng dân chủ mang hình thái tồn tại của nhà nước, dân chủ mang tính giai cấp, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cao hơn nền dân chủ tư sản ở chỗ đó là dân chủ của đa số, dân chủ của nhân dân lao động. Việt Nam thực hiện tập trung dân chủ là thực hiện một kiểu dân chủ của đa số, quyết định theo đa số, đảm bảo quyền lực của đa số -quyền lực của nhân dân lao động.
Ông NTV đã có những kết luận hồ đồ rằng: “Từ sau năm 1975 có phải là có “Tiến bộ vượt bậc” như ông Kiên nói? Hay ngược lại, càng ngày càng sa sút? Tôi sẽ dẫn chứng để chứng minh ông đã nói sai-  Hơn 25 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã vượt qua tình trạng đói nghèo, kém phát triển; tình hình chính trị, kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh tiếp tục ổn định và phát triển, uy tín, vị thế của nước ta không ngừng nâng cao trên trường quốc tế, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng, đời sống an sinh xã hội tiếp tục được cải thiện, các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm và có sự phát triển tốt. Việt Nam tiếp tục nhận được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1985 được coi là “đêm trước” của công cuộc đổi mới. Thất bại của cuộc cải cách giá – lương – tiền đã đẩy kinh tế đất nước lún sâu hơn vào cuộc khủng hoàng mà đỉnh điểm lạm phát lên tới 774,7% vào năm 1986. Trong bối cảnh ấy, nhiều doanh nghiệp, nhiều địa phương đã biết “phá rào” để tự cứu mình, và bằng những kết quả thực tế đó đã gợi mở ra tư duy mới, đường lối kinh tế mới. Đồng thời, từ thất bại của cải cách giá-lương-tiền, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rút ra bài học: Không thể chỉ sửa đổi cục bộ từng yếu tố của cơ chế cũ, mà phải xoá bỏ hoàn toàn cơ chế đó để thực hiện cơ chế quản lý mới theo kinh tế thị trường, hội nhập với khu vực và thế giới. Như gió lành đã tràn vào mọi lãnh vực của cuộc sống, đường lối đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI xác lập đã tạo ra sinh lực mới cho đất nước tăng tốc phát triển nhanh trong mọi lĩnh vực. Ngoài thành phần kinh tế nhà nước và tập thể, kinh tế tư nhân dần dần được pháp luật thừa nhận, ngày càng được xã hội tôn vinh. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nẩy nở, đâm chồi nẩy lộc.

Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH XHCN trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất.

1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP bình quân năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước.

Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.

Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD.

Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn – 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.

2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉ USD, vượt 16%. GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD.

Theo Chỉ số Thịnh vượng (Prosperity Index) của 110 nước năm 2010 do Viện Nghiên cứu chính sách Legatum (Vương quốc Anh) thực hiện qua thẩm định 89 tiêu chí thuộc 8 lĩnh vực kinh tế-xã hội cơ bản, Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 61 thế giới, tăng 16 bậc so với năm 2009 (đứng thứ 77), kém Trung Quốc 3 bậc, hơn LB Nga 2 bậc và hơn Ấn Độ 27 bậc, trong khi Na Uy đứng đầu bảng, dẫn đầu thế giới, Singapore đứng thứ 17 (dẫn đầu châu Á)… Rõ ràng, thành tựu của 25 năm đổi mới là rất to lớn, được dư luận quốc tế đánh giá cao. Tầm vóc Việt Nam ngày nay đã khác xưa. Đó là thực tế không ai có thể phủ nhận. Càng tự hào về những kết quả đã đạt được trong 25 năm qua, càng cần quyết tâm, kiên trì thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới và suy cho cùng, mới bảo vệ và phát triển chế độ chính trị – xã hội lên tầm cao văn minh, hiện đại.Trong bài viết đăng trên Tạp chí World Politics Review, tác giả Roberto Tofani nhận định kể từ năm 1986 khi bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Năm 2010, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,7% bất chấp những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.”Hãng Phân tích kinh tế SEE của Tây Ban Nha vừa công bố báo cáo đánh giá Việt Nam sẽ là nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong giai đoạn 2005-2025, với mức tăng bình quân hàng năm 8%, cao hơn gần 1% so với hai thập kỷ trước đó.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho biết, trong tháng 3/2013, lạm phát được kiềm chế, thị trường giá cả tương đối ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2013 giảm 0,19% so với tháng trước, là tháng có chỉ số giảm sau 7 tháng tăng liên tiếp; so với tháng 12/2012 tăng 2,39%, đây là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 4 năm qua.”Tăng trưởng GDP quí I/2013 ước đạt 4,89%, cao hơn cùng kỳ năm 2012 (4,75%), trong đó: khu vực nông nghiệp tăng 2,24%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,93%; khu vực dịch vụ tăng 5,65%. Ngành xây dựng, sau một thời gian trì trệ, nhờ nỗ lực tháo gỡ khó khăn của các cấp, các ngành, đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại, đạt mức tăng 4,79% trong quí I/2013, cao hơn mức tăng cùng kỳ 2 năm liên tiếp trước đó (năm 2012 tăng 0,77%; năm 2011 giảm 0,01%).
Trong điều kiện có nhiều khó khăn và phải ưu tiên tập trung thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì đạt mức tăng trưởng GDP như vậy là một sự cố gắng.
Có gần 7,65 nghìn trong số 13 nghìn doanh nghiệp (khoảng gần 60%) tạm ngừng hoạt động trong năm 2012 đã quay lại trở lại hoạt động trong quí I/2013.
An sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; nhất là đối với người nghèo, người mất việc làm, gia đình có công với cách mạng. Trong tháng 3/2013 ước tạo việc làm khoảng 130,5 nghìn lao động; tính chung quí I/2013 ước tạo việc làm khoảng 361,7 nghìn lao động.
Các lĩnh vực y tế, giáo dục, thông tin, truyền thông, văn hoá – nghệ thuật, thể dục thể thao được đẩy mạnh. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội được tăng cường.
Quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường. Công tác cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo có chuyển biến tích cực.Kiên trì mục tiêu đó, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Chúng ta có quyền tự hào chính đáng khi nhận định rằng:Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhân dân VN từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đó là thực tế lịch sử không ai có thể phủ nhận, xuyên tạc. Xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay không sẵn có mô hình, là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật, hợp lòng dân.- Công cuộc đổi mới của Việt Nam hơn 25 năm qua có cả thành tựu và khuyết điểm, nhưng thành tựu là cơ bản, là mặt chủ yếu của sự phát triển. Khuyết điểm không phải mặt cơ bản, chủ yếu, song chúng ta tự nghiêm khắc thấy rằng, có một số mặt rất nghiêm trọng, không thể xem thường. Thực tế chỉ rõ, trong bất cứ trường hợp nào, Đảng đều dũng cảm nhìn nhận, không chối bỏ trách nhiệm về những yếu kém của mình. Phản bác luận điểm: “Phải xóa bỏ chế độ một đảng, lập đa đảng mới khắc phục được các căn bệnh trầm kha của xã hội, như tham nhũng, quan liêu…”. Nhiều người đã rõ, Hiến pháp năm 1992 quy định tại Điều 4 về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và xã hội là ý nguyện của toàn dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng minh điều đó. Thắng lợi của công cuộc đổi mới hơn 25 năm qua do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, được nhân dân ghi nhận, đồng tình.-Không có Đảng Cộng sản lãnh đạo, sẽ không có thành tựu vĩ đại đó.
AMARI TX (Hoa kỳ)
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

“Quay đầu lại là bờ”!

Thứ sáu, 22/03/2013 – 01:53 AM (GMT+7)

AMARI TX
http://vtv.vn/video-clip/131/Chao-buoi-sang-22032013/video5647.vtv

điểm báo phút thứ 9
http://vtv.vn/video-clip/131/Chao-buoi-sang-22032013/video5647.vtv

nước ngoài quan sát một số nhân vật được các đài BBC, RFA, VOA,… cùng một nhóm người thi nhau ca ngợi trên internet, tác giả Tuyên Trần gửi tới Báo Nhân Dân bài Quay đầu lại là bờ. Bài viết gợi lên một số vấn đề đáng suy ngẫm, vì đề cập tới loại hiện tượng mà qua đó xem xét về bản chất, dường như những người có liên quan chưa tỉnh táo để điều chỉnh hành vi của mình. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Ở nước ngoài, mặc dù mỗi năm mấy lần về quê làm việc, thăm nom họ hàng, bà con lối xóm, làm thiện nguyện, nhưng những thông tin tôi biết về đất nước chủ yếu là thông qua internet. Ðọc trên mạng nhiều nên tôi rút ra một kinh nghiệm là, hễ thấy trang Việt ngữ của BBC, VOA, RFA,… biến người nào ở trong nước thành “người hùng” rồi liên tục phỏng vấn, kêu gọi ủng hộ, là y như rằng những người đó có vấn đề đáng ngờ. Dăm năm trước, họ xúm xít tung hô Bùi Kim Thành là “luật sư dân oan”, tới khi Nhà nước Việt Nam đồng ý cho sang Mỹ thì bà này lộ nguyên hình là người thần kinh không bình thường, hiện ở Mỹ không ai dám dây dưa. Trần Khải Thanh Thủy cũng thế, chị này được họ ca ngợi như “người hùng”, chị ta công khai than vãn: “điều không may của tôi là không được sống một ngày nào trong chế độ Việt Nam Cộng hòa” (!). Tới khi sang Mỹ, chị ta vội vàng lên RFA bày tỏ “tràn đầy lòng biết ơn nước Mỹ”, đến lúc này mọi người mới biết chị ta là “đảng viên Việt Tân”. Nguyễn Chính Kết ba hoa để tìm cách chuồn sang Mỹ, trong khi ông ta huyên thuyên chống cộng để lấy lòng đồng bọn, thì một người sinh sống tại nước Mỹ viết về ông ta thế này: “Ngày nay, Nguyễn Chính Kết đã chết thực, nghĩa là cái dũng và tinh thần của Nguyễn Chính Kết đã chết, dù thân xác của ông lang thang đó đây nơi xứ người, qua sự sai khiến của một nhóm muốn lợi dụng cái xác cò vơ cò vất như ma đói của ông”!

Mấy người gọi là “nhà dân chủ”, “nhân sĩ, trí thức” sinh sống trong nước thì còn lắm trò hơn. Hôm nay họ ca ngợi nhau, ngày mai họ đã coi nhau như kẻ thù. Họ lên mạng mắng mỏ nhau như hát hay hoặc biến một người có ngôn ngữ, hành vi rất lưu manh trở thành “người hùng”. Rồi họ dùng internet là chiến trường để nhiếc móc nhau lừa đảo, bới móc nhau biển thủ tiền bạc… Kể về họ thì không bao giờ hết chuyện lố bịch. Trong bài này tôi mượn mấy dòng của Kami – một blogger chưa bao giờ có thiện chí với Nhà nước Việt Nam, mới đây viết trên RFA Blog’s về hành vi của mấy người mà Kami “từng coi họ là những nhân sĩ trí thức yêu nước và những tấm gương tiêu biểu”(!) rằng: “Ðó là những việc làm thiếu bình tĩnh, thiếu suy nghĩ… Các vị nhân danh đấu tranh dân chủ mà còn cái thói tính gia trưởng trịch thượng, lúc nào cũng tự cho mình đúng thì làm sao có thể có đấu tranh cho dân chủ được?… Vẫn là sự suồng sã của con vẹt và thói hách dịch của kẻ bề trên và tự coi tầm hiểu biết của mình là chân lý bất biến”!

Gần đây, trên các trang mạng xã hội, báo chí, các đài Việt ngữ ở hải ngoại lại ra sức cổ súy, đăng tải các bài viết, phỏng vấn mấy nhân vật đã đưa ra ý kiến hết sức tùy tiện về việc Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nguyễn Ðắc Kiên là một trong mấy người được họ biểu dương. Tôi rất thất vọng vì trong khi toàn dân rất nhiệt tình ủng hộ kế hoạch của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, một số người đang sống ở trong nước lại “hòa giọng” với một số cá nhân, tổ chức ở hải ngoại, đặc biệt là tại Mỹ, ra sức bài bác, đưa ra những đòi hỏi vô lý, thiển cận.

Tôi nghĩ, dù nấp dưới danh nghĩa nào thì những người tôn thờ chủ nghĩa cơ hội cũng không thể mãi mãi giấu mình. Trong tiến trình xã hội, trắng – đen, thiện – ác sẽ được làm sáng tỏ, ai là kẻ cơ hội, ai là người chân chính sẽ được đánh giá sòng phẳng. Ðọc một số bài báo tiếng Việt tại Mỹ ca ngợi Nguyễn Ðắc Kiên như “người hùng”, tôi cũng chẳng lạ lẫm với việc ban phát “danh hiệu” đó, vì tiêu chí phong tặng của họ là chửi bới, kêu gọi loại bỏ sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền Việt Nam càng nhiều càng tốt. Ai cũng biết trong cuộc sống, việc phê bình, góp ý là rất cần thiết vì giúp hoàn thiện con người, phát triển xã hội. Tuy nhiên phê bình, góp ý không có nghĩa là bình tùy tiện nói những điều người được phê bình, góp ý không thể thực hiện trong hoàn cảnh cụ thể; hoặc phê bình, góp ý chỉ là phương tiện chứng tỏ mình hơn người, “dám nói” những điều mà mình cho rằng người khác “không dám nói”, rồi mạt sát người khác.

Ðọc ý kiến của Nguyễn Ðắc Kiên, tôi ngạc nhiên với thái độ và hành văn xấc xược, ngạo mạn của anh này. Ðể “tri ân” những người đang tâng bốc mình, anh rất lố bịch khi viết rằng: “bất cứ ai là người Việt, còn có lương tri, còn nghĩ đến bổn phận làm con người trên thế gian này thì nên ký tên vào kiến nghị này”! Chẳng hóa ra nếu người thân của anh ta không tham gia ký tên sẽ là người hết lương tri, không biết nghĩ tới “bổn phận làm người” hay sao? Tôi còn thấy một điều không bình thường nữa là vào ngày 9-3-2013 tại tòa soạn báo Người Việt ở California, Trần Phong Vũ khoe “tủ sách Tiếng quê hương” đang nỗ lực in, phát hành một tác phẩm của Nguyễn Ðắc Kiên. Như vậy là chỉ nửa tháng sau khi Nguyễn Ðắc Kiên đăng bài chỉ trích (26-3-2012) “tủ sách Tiếng quê hương” đã có bản thảo cuốn sách này. Tại sao Nguyễn Ðắc Kiên sớm được “ưu ái” như vậy, hay là bài viết trên blog chỉ là cú “kích hoạt” cho động thái tiếp theo? Sống ở Mỹ, tôi không lạ gì “tủ sách Tiếng quê hương”. Ðây là cơ sở do Uyên Thao – nhà văn chống cộng, tổ chức. Gần 20 năm qua, Uyên Thao với mấy cây viết ở hải ngoại duy trì “tủ sách Tiếng quê hương” theo tiêu chí: “Nối tiếp dòng văn học Việt Nam đã bị cộng sản hủy hoại ở trong nước. Ðồng thời để đưa tiếng nói của những người ở trong nước không nói được cho đồng bào và dư luận thế giới cùng biết về đất nước và con người Việt Nam dưới chế độ độc tài đảng trị của Cộng sản Việt Nam”!? Các ấn phẩm do “tủ sách Tiếng quê hương” in ra đều có nội dung nói xấu chế độ chính trị – xã hội ở trong nước, moi móc quá khứ, xuyên tạc, bịa đặt, kích thích tò mò, đưa ra loại tin tức không thể kiểm chứng, ra vẻ ta là người “trong cuộc” để bịp bợm người đọc,…! Tiêu chí của họ cụ thể như vậy, liệu “tác phẩm” của Nguyễn Ðắc Kiên có phải đáp ứng được các tiêu chí ấy hay không? Có lẽ chẳng phải chờ tới khi sách in ra mới có câu trả lời.

Phàm đã là “nhân sĩ, trí thức” luôn nói năng cẩn trọng, khiêm nhường. Họ không chỉ là người có tri thức, có đóng góp đối với xã hội, mà còn là người được giáo dục chu đáo, có thể làm gương cho người khác. Từ quan niệm như thế nhìn vào “hiện tượng Nguyễn Ðắc Kiên”, tôi thấy những điều anh viết và nói hình như dựa trên cái tâm không trong sáng và từ những suy nghĩ lạc hướng? Nguyễn Ðắc Kiên còn trẻ, mong anh hãy suy nghĩ cho chín chắn trước khi hành động. Chí ít anh cũng nên tự hỏi tại sao những điều anh viết, anh nói lại được một số người vốn không nhận được thiện cảm của nhân dân cùng các tổ chức phản động ở hải ngoại ra sức khai thác, tâng bốc? “Quay đầu lại là bờ”, dù có người sẽ bảo câu nói này đã nhàm chán, tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây, vì thấy phù hợp với Nguyễn Ðắc Kiên.

Lúc theo ba mẹ sang Mỹ, tôi 17 tuổi. Sau nhiều năm học hành và làm việc, công việc kinh doanh của tôi dần dần khấm khá. Hơn mười năm trước, tôi bắt đầu tìm hiểu về quê hương, chủ yếu là qua internet. Thời gian đầu tôi tin vào điều các “nhà dân chủ” đã nói, vì tôi nghĩ đất nước như thế thì ba mẹ tôi mới ra đi. Tôi liên lạc với họ, về nước tôi gặp vài người. Tiếp xúc rồi, tôi bắt đầu thất vọng, vì không hiểu tại sao có người không làm việc gì, suốt ngày chỉ ngồi bên computer viết bài, rình mò chụp ảnh, nhặt nhạnh tin tức tiêu cực để đưa lên mạng nói xấu đất nước. Muốn đất nước phát triển mỗi người đều phải làm việc, ở đâu cũng vậy, dù ở Mỹ hay ở Việt Nam. Mỗi năm về nước vài lần, tôi vẫn luôn ngạc nhiên về tốc độ phát triển, về cuộc sống của đồng bào. Ba mẹ tôi đã già rồi, không đi xa được, nghe tôi kể về quê hương là rơm rớm nước mắt. Ba hỏi tôi: “Liệu ba mẹ có sai lầm khi bỏ nước ra đi?”. Tôi không biết nói sao, chỉ an ủi ba: “Nghĩ về quê hương mà ba mẹ thấy bình an là vui rồi”. Tôi kể lại chuyện của mình vì qua đây tôi muốn tâm sự một điều, Tổ quốc là của mọi người, nhưng mỗi người chỉ có quyền tự hào về Tổ quốc khi góp phần làm cho Tổ quốc giàu mạnh, hùng cường. Nhân đây xin được hỏi các “nhà dân chủ” và “nhân sĩ, trí thức” đã làm được gì cho Tổ quốc hay chưa? Chẳng nhẽ chỉ vì cái danh hão được làm “người hùng trên mạng” mà họ cho mình quyền miệt thị người khác không yêu nước như họ? Làm “người hùng trên mạng” như thế sẽ chẳng có gì đáng để tự hào, bởi “chiếc áo không làm nên thầy tu”.

TUYÊN TRẦN

(Nước Mỹ, tháng 3-2013)

Categories: Uncategorized | 2 phản hồi

Những đòi hỏi phi lý không thể chấp nhận

Amari TX   
Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước đóng góp ý kiến về việc sửa đổi hiến pháp năm 1992. Nhưng sự kiện này được các báo, đài , trang mạng điện tử của các nhà “Dân chủ”, bọn phản động ở nước ngoài, các tổ chức có định kiến cố hữu với Việt Nam bàn tán, vẽ rồng vẽ rắn , thêm thắt và đặc biệt hướng dư luận vào mục tiêu công kích sự lãnh đạo của đảng CSVN , đòi loại bỏ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đòi tam quyền phân lập…vv. Những ý kiến góp tâm huyết của người dân ở mọi tầng lớp xã hội đã được ghi nhận một cách trân trọng .vậy mà vẫn có những người với danh xưng “Trí thức” đã cố tình xuyên tạc một cách lố bịch rằng “Không loại bỏ điều 4 ra khỏi hiến pháp thì đóng góp ý kiến cũng vô ích”?- hay “Đảng điều khiển quốc hội ”? . Đặc biệt có một số người luôn được các đài Việt ngữ như VOA,BBC, RFA, RFI “bơm thổi” trong các cuộc phỏng vấn đã lợi dụng tự do ngôn luận kích động , quy kết, xuyên tạc đường lối chủ trương trong cuộc vận động lấy ý kiến đóng góp bản dự thảo hiến pháp . Trong cuộc phỏng vấn của đài VOA Việt ngữ với một vị ở trong nước đã nói “Ngay trong hội nghị trung ương, ông Tổng bí thư đã khẳng định, Nhà nước của ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nghĩa là không công nhận tam quyền phân lập. Mà không công nhận tam quyền phân lập thì làm sao thì gọi là Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó được!.”và “Vì dân không được pháp luật bảo vệ, luật pháp của ta trong thời gian qua biểu hiện sự yếu kém một cách không thể nói gì thêm được nữa”?. Những phát ngôn này hòa toàn sai trái với những gì mà cả một quá trình lịch sử đã diễn ra từ khi thành lập nước Việt Nam cho đến ngày hôm nay.
Chúng ta hãy nhìn vào lịch sử thì thấy ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị Chủ tịch nước, đã chỉ đạo xây dựng bộ máy Nhà nước và hệ thống luật pháp thật sự vì dân, do dân và của dân. Nhà nước đó có nhiều đóng góp to lớn trong xây dựng và bảo vệ đất nước thiết thực phục vụ lợi ích của nhân dân. Công việc đầu tiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng là đề nghị Chính phủ và toàn dân cần làm là: Tổng tuyển cử trong cả nước và xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam mới.Hiến pháp năm 1946 là kết quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám đồng thời về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng nhà nước vì dân, do dân, của dân.Vấn đề cốt lõi trong tư tưởng đó là trong xây dựng nhà nước pháp quyền vì dân là lợi ích và quyền lực thuộc về nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đây là căn cứ để phân biệt bản chất nhà nước của Việt Nam mới với các kiểu nhà nước khác .Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân bầu ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Nhà nước Việt Nam là cơ quan công quyền được nhân dân ủy quyền thay mặt cho dân quản lý xã hội, lo cho dân chứ không phải “đè đầu, cưỡi cổ dân”, phải lấy việc đưa lại quyền lợi cho nhân dân làm mục tiêu hoạt động của mình. Tất cả mọi đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Chính phủ đều chỉ nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Đồng thời phải làm cho bộ máy nhà nước thật sự trong sạch, chống đặc quyền, đặc lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo từ rất sớm những căn bệnh của bộ máy nhà nước như cậy thế, hủ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo, vác mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Ngày 21-1-1946,  ký quốc lệnh khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tội tử hình. Những quyết định trong thời điểm đất nước vừa giành được độc lập  tỏ rõ ý chí, quyết tâm xây dựng một nhà nước mới trong sạch, thật sự dân chủ, nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật và quan trọng hơn cả là đã ngăn chặn có hiệu quả các căn bệnh cùng các tệ nạn trong đội ngũ cán bộ, công chức. Đồng thời cho thấy cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí rất gian nan, khó khăn lâu dài.

Việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng đặt ra những yêu cầu mới trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền . Cương lĩnh xây dựng đất nước  (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Trước hết, chúng ta đi vào ý nghĩa đích thực của Dân chủ XHCN, qua đó thấy rõ sự khác biệt của Dân chủ XHCN và dân chủ phi XHCN. Về mặt cơ cấu tổ chức của Nhà nước, ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp không độc lập, biệt lập, mà thống nhất với nhau, hỗ trợ và giám sát nhau, dưới sự lãnh đạo của Đảng như là một bộ óc, một trí tuệ tập thể của nhân dân, soi sáng. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đang xây dựng phải là một Nhà nước đủ khả năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật, chăm lo, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân, nhà nước pháp quyền thể hiện nhất quán sự kết hợp giữa dân chủ và pháp luật. Dân chủ phát triển đi liền với pháp luật nghiêm minh. Và bao trùm lên tất cả đều vì con người, do con người và cho con người, bảo đảm quyền con người gắn liền với trách nghiệm, nghĩa vụ của mỗi người. Có thể thấy rất rõ, đó là sự kết hợp hài hòa, phát triển sáng tạo về nhà nước pháp quyền đã kế thừa những tinh hoa của nhân loại , coi trọng quản lý nhà nước bằng pháp luật. Đó là pháp trị, là nhà nước pháp quyền. Đồng thời  chủ trương đức trị, thực hành dân chủ rộng rãi, ra sức bảo vệ quyền tự do dân chủ cho nhân dân, lấy đức để giáo dục và cảm hóa con người, yêu thương, quý trọng nhân dân.
Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước dân. Nhà nước của nhân dân thì “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Quyền con người chỉ thực sự được tôn trọng, bảo đảm và thực hiện đầy đủ trong điều kiện nhận thức của những quyền và nghĩa vụ đạt một trình độ ý thức tự giác cao được chuyển hóa thành hành động thực tiễn cụ thể. Ý thức sâu sắc về việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện các quyền con người là một đòi hỏi tất yếu và quan trọng hàng đầu của những người đại diện cho nhân dân thực thi quyền lực công. Nhà nước pháp quyền  của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân sẽ không thể được xác lập hoàn toàn nếu thiếu vắng việc thực hành các quyền và tự do dân chủ rộng rãi của mọi người dân.
Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Nhân dân đồng lòng, việc gì dù khó mấy cũng làm được; dân không ủng hộ, việc dễ mấy cũng khó khăn, có khi thất bại. Mất lòng dân là mất tất cả. Chính phủ Việt Nam hiểu rằng có dân là có tất cả. Phải “đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân”. Các thế lực thù địch với Việt Nam và những kẻ lợi dụng “nước đục thả câu” núp bóng với cái gọi là “góp ý”….nên hiểu rằng mọi ý đồ suy diễn, bẻ cong sự thật hòng mục đích vu khống sẽ không đạt được kết quả . Mỗi một người dân Việt Nam cả trong và ngoài nước hãy nêu cao ý chí và lòng yêu nước, tích cực học tập, lao động sáng tạo, đóng góp nhiều ý kiến để xây dựng Nhà nước Việt Nam thật sự là Nhà nước pháp quyền  của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Texas-Hoa kỳ-11-3-2013
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Dân chủ phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền

Bài được đăng trên báo nhân dân
Cập nhật lúc     01:53, Thứ sáu, 08/03/2013 (GMT+7)
Thời gian qua, với tần suất xuất hiện một cách bất thường trên in-tơ-nét, có thể nói “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” đang là “món hàng thời thượng” mà một số người, với sự hỗ trợ của mấy cơ quan truyền thông như BBC, VOA, RFA,… đang đua nhau cổ súy dưới danh nghĩa “đóng góp ý kiến” với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Bài Dân chủ phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền là một trong nhiều ý kiến của bạn đọc gửi tới Báo Nhân Dân đề cập tới vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Sau khi Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam triển khai kế hoạch để nhân dân đóng góp ý kiến với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tôi rất phấn khởi. Ðây là sự kiện quan trọng để toàn dân Việt Nam đem trí tuệ, khả năng góp phần hoàn thiện Hiến pháp của nước nhà, và Hiến pháp sẽ có tác động tích cực hơn tới sự phát triển đất nước, bảo đảm các quyền lợi của nhân dân. Vậy mà nhân dịp này, một số người lại đưa ra ý kiến nhận xét rất thiếu khách quan, từ đó đòi “đa nguyên, đa đảng”, cổ súy cho mô hình tổ chức xã hội xa lạ với thực tiễn Việt Nam. Tôi ngạc nhiên là một số người trong số đó lại trưởng thành từ trong môi trường XHCN, thậm chí có người mang danh “trí thức” nhưng trong khi phân tích, đánh giá, đề xuất giải pháp về các vấn đề xã hội… lại có cái nhìn phiến diện. Họ lập ra blog cá nhân, đăng tải thông tin không được kiểm chứng, kèm theo bình luận xuyên tạc sự thật, trả lời phỏng vấn trên một vài phương tiện truyền thông nước ngoài để khuếch trương ý kiến.

Có thể nói, mục tiêu hàng đầu mà các “nhà dân chủ”, “người yêu nước”, các tổ chức chống đối hoặc không thiện chí với Việt Nam, là cố gắng loại bỏ Ðiều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Họ rêu rao “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là “khuôn vàng, thước ngọc” Việt Nam phải làm theo. Họ coi “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản, vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Nguy hiểm hơn loại quan điểm này lại khoác cái vỏ “vì dân chủ”, “vì nước, vì dân”! Qua theo dõi, tôi thấy gần đây họ lại như đang thay đổi “chiến thuật”, đó là kết hợp giữa chửi bới, thóa mạ, xuyên tạc, vu khống một cách vô văn hóa đối với Ðảng và Nhà nước Việt Nam như trước đây họ vẫn làm,  với lời khuyên “thực hiện đa đảng” thì dân chủ hơn!? Có người còn ỡm ờ đặt câu hỏi: mở cửa kinh tế từ hơn 25 năm trước đã đưa Việt Nam trở thành một “rồng nhỏ” ở châu Á, song do cơ chế chính trị không thích hợp đã khiến “con rồng” không thể bay lên, liệu cuộc thay đổi về chính trị lần này có thật sự tháo gỡ được bế tắc về cơ chế hay không!? Ðáng tiếc là một số ít người đã lầm tưởng và ngộ nhận về điều này, từ đó ngỡ rằng đất nước sẽ phát triển hơn nếu Việt Nam thực hiện đa đảng (!)

Tôi xin nói một điều chắc chắn rằng thực tế sẽ không phải như các “nhà dân chủ”, các hội đoàn “chống cộng cực đoan” ở hải ngoại cổ súy, tô vẽ. Vì điều đó tất yếu sẽ dẫn đến kết cục không tránh khỏi là đất nước rơi vào mất ổn định, kinh tế đổ vỡ, để rồi nhân dân phải chịu mọi hậu quả. Nói cách khác, nhân dân chỉ là cái cớ  để họ tranh giành ảnh hưởng trong cái gọi là “đa đảng”. Tôi còn nhớ bài học thực thi dân chủ sai nguyên tắc trong thời kỳ cải tổ ở Liên Xô trước đây. Quan điểm thực thi “dân chủ”, “đa nguyên chính trị” để cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo ra cơ hội cho các mưu đồ chống phá, dẫn đến làm tan rã, sụp đổ chế độ Xô viết. Ở đâu còn có phần tử bất mãn, cơ hội, vị kỷ, ngay cả đảng viên và người dân chưa hiểu biết thấu đáo, thì ở đó họ sẽ bị lợi dụng. Nếu không có biện pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả và kịp thời thì các mưu toan đó sẽ có sức phá hoại khôn lường.

Nhiều người biết rằng, nước Mỹ có nhiều đảng phái khác nhau, nhưng hai đảng Dân chủ và Cộng hòa là hai lực lượng chính trị chi phối. Thoạt nhìn thì giữa hai đảng có vẻ đối lập, mâu thuẫn, nhưng thực chất cả hai đều bỏ phiếu ủng hộ luật pháp bảo vệ các trùm tư bản và tập đoàn kinh tế, bất chấp hệ lụy có thể gây thiệt hại tới lợi ích nhân dân. Từ trước đến nay, hai đảng này luôn chiếm ưu thế ở mọi cấp độ chính quyền, luôn khống chế nền chính trị nước Mỹ. Mô hình mà một số người coi là “lý tưởng” của thể chế “đa nguyên, đa đảng” này trên thực tế là không vì nhân dân, mà thậm chí còn đi ngược lại quyền lợi nhân dân. Hệ thống lưỡng đảng đã bắt rễ sâu trong nền chính trị Mỹ, cho dù có đảng thứ ba xuất hiện trong bầu cử Tổng thống thì cũng chưa bao giờ họ giành được thắng lợi. Tuy đôi khi các đảng thiểu số cũng giành được một số chức vụ trong chính quyền cấp dưới, nhưng hầu như không có vai trò quan trọng trong nền chính trị Mỹ. Có rất ít sự khác nhau về tư tưởng giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa; có chăng là ở chỗ, đảng Dân chủ có  quan tâm đến các vấn đề xã hội hơn. Còn lại, hai đảng này rất giống nhau về các quan điểm cơ bản như: tán thành chủ nghĩa tư bản và các thể chế của nó, ủng hộ chính sách toàn cầu của Mỹ, phủ nhận chủ nghĩa cộng sản ở trong và ngoài nước Mỹ. Ðáng chú ý là trong 435 thành viên Quốc hội Mỹ có hơn một trăm người là triệu phú, riêng tại Thượng viện Mỹ có 1/3 thượng nghị sĩ là triệu phú. Chính người Mỹ đã nói về thể chế chính trị ở nước Mỹ như sau: “lợi ích của các tập đoàn kinh tế đã và đang được ngụy trang phục vụ trong bối cảnh đa nguyên đa đảng. Các tập đoàn này dùng ảnh hưởng cá nhân để đạt được các quyền quy định trong Hiến pháp đáng lẽ phải dành cho dân. Bởi các đảng phái đều được tài trợ từ nhiều tập đoàn kinh tế”, “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”. Theo AFP ngày 3-7-2006, người Anh xem nước Mỹ như là “một xã hội đầy rẫy tội phạm, không lịch sự, được điều hành bởi đồng tiền”; 77% người Anh tin rằng nước Mỹ không phải nơi soi sáng hy vọng cho thế giới. Ðó là bối cảnh mà hệ thống hai đảng thống trị ở Mỹ đã tạo ra. Paul Mishler – Giáo sư trường Ðại học bang Indiana, cho thấy thực chất vấn đề: “mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”, chế độ đa đảng của nước Mỹ “thực chất chỉ là một đảng”, là sự cầm quyền của đảng tư sản…

Cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng đa đảng với khuynh hướng một đảng đã phản ánh tính chất gay go, phức tạp của các xu hướng lựa chọn phát triển. Có “nhà dân chủ” cho rằng, thực hiện “đa đảng” sẽ có nhiều đảng cạnh tranh nên sẽ dân chủ hơn, tốt hơn là một đảng. Có đúng như vậy không? Câu trả lời dứt khoát là không! Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền. Lý tưởng và bản chất ấy được đánh giá là tiến bộ, tiên tiến khi cùng với việc quan tâm tới lợi ích của giai cấp sinh ra mình, đảng cầm quyền còn quan tâm tới lợi ích của mọi giai cấp, tầng lớp khác. Và sẽ bị đánh giá là phản tiến bộ, lạc hậu khi đảng cầm quyền chỉ vun vén lợi ích của giai cấp mình, bất chấp lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác.

Chúng tôi nghĩ rằng, Việt Nam không thực hiện chế độ “đa đảng” không phải vì chúng ta bảo thủ hay mất dân chủ như những người tự nhận là “nhà dân chủ”, “người yêu nước” vẫn rêu rao, mà đó là yêu cầu khách quan, vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển nền dân chủ, vì hạnh phúc của nhân dân. Ðảng và Nhà nước Việt Nam nhận rõ các vấn đề, hiện tượng tiêu cực trong xã hội như tham nhũng, lãng phí, thiếu dân chủ,… ở một số nơi và trong một số trường hợp, nên Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã tự giác xem xét lại chính mình, từ đó sửa chữa sai lầm để xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn. Ðổi mới hệ thống chính trị là một việc hệ trọng, tác động mạnh mẽ lên toàn xã hội, nên phải thực hiện thận trọng từng bước, nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, bảo đảm đất nước phải luôn có hòa bình để ổn định và phát triển. Không thể vì khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ ở nước ta, rồi đòi thực hiện “đa đảng”, đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Không ai có thể phủ nhận một sự thật là dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động, đồng thời cũng không thể phủ nhận được các thành tựu kinh tế – xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, với sự nỗ lực của toàn dân, đất nước đã có những bước tiến vượt bậc về mọi mặt, có vị thế ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế… Vậy tại sao một số người lại không thừa nhận những thành tựu mà chính gia đình, bản thân họ đang được thụ hưởng? Chẳng lẽ họ coi tham vọng cá nhân lớn hơn thiện chí, coi nhân dân chỉ là “con bài” trong trò chơi chính trị của họ? Tôi nghĩ, làm như vậy là quay lưng lại với các nỗ lực, quyết tâm vượt qua thách thức của toàn dân Việt Nam trong một giai đoạn cực kỳ quan trọng. Trong hiện tại và tương lai, không có một đảng chính trị nào có đủ uy tín, trí tuệ, bản lĩnh, kinh nghiệm thay thế Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước – đó là sự thật.

MAI HOÀNG KIÊN
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Không ai có thể phủ nhận vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam !

https://fbcdn-profile-a.akamaihd.net/hprofile-ak-ash3/c13.12.155.155/s130x130/68159_221431691325220_1414545165_a.jpg Amari TX
Bài được đăng trên báo nhân dân& giới thiệu trên VTV1
  Hình ảnh 
Cập nhật lúc     21:41, Thứ hai, 25/02/2013 (GMT+7)
Sau khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố và kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân được triển khai, cho đến nay, nhiều ý kiến đóng góp sâu sắc mang tính xây dựng của nhân dân cả nước được công bố trên hệ thống truyền thông. Tuy nhiên, nhân cơ hội này, qua một số diễn đàn trên internet, blog và cơ quan truyền thông nước ngoài, một số cá nhân lại đưa ra ý kiến thiếu khách quan, thiện chí. Bức xúc trước thực tế đó, ngày 18-2 vừa qua, bạn đọc Trung Thành – hiện  sống tại Mỹ, đã gửi bài viết này tới Báo Nhân Dân. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc.

Hơn 10 năm trước, vì lý do gia đình, tôi tới định cư tại nước Mỹ. Tuy sống xa quê hương, nhưng tôi vẫn luôn coi mình là người Việt Nam, tôi vẫn không quên công ơn của chế độ mới. Vì như cha tôi bảo, nếu không có cách mạng, có lẽ tôi vẫn chỉ là người nông dân nghèo ở một làng quê nghèo, như cha tôi, ông tôi mà thôi. Hướng về Tổ quốc, tôi thật sự mừng vui khi đất nước phát triển và tôi chạnh buồn khi đất nước gặp khó khăn. Những ngày qua, khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố, đọc trên internet tôi thấy có một số người ở trong và ngoài nước mượn danh “yêu nước”, “vì dân tộc” để công bố ý kiến trên các báo ở hải ngoại và blog của cá nhân, từ đó dấy lên một làn sóng xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ Ðảng, Nhà nước, chế độ xã hội ở Việt Nam. Tôi thấy, một trong các tâm điểm các bài viết họ đăng tải là tập trung chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCS Việt Nam) đã được ghi trong Hiến pháp. Tôi rút ra nhận xét là: Trước khi đề cập đến vấn đề “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam, tác giả của các bài viết này thường “dạo nhạc” trước bằng cách hết lời ngợi khen nền dân chủ phương Tây, họ cho rằng, xã hội các nước phương Tây, với “đỉnh cao” là Mỹ, là “chuẩn mực” về dân chủ. Họ còn cho rằng, về mặt xã hội, chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới thật sự có dân chủ; ngược lại, xã hội duy trì theo cơ chế độc đảng lãnh đạo sẽ dẫn đến mất dân chủ, “độc tài”, “đảng trị”!?

Dù sống xa Tổ quốc, nhưng tôi vẫn thường xuyên cập nhật tình hình quê nhà, nên không lạ gì ý kiến mà họ đưa ra, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, đó vẫn là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có bài viết làm ra vẻ khách quan với vỏ bọc “đóng góp ý kiến”, “lời nói tâm huyết”, như: bài học của tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, nếu nhân dân mất lòng tin vào chính quyền sẽ mất tất cả; Ðảng có công lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, nhưng hiện nay “đã hết vai trò lịch sử” nên cần phải “trao lại cái quyền đó cho nhân dân” (?!)… Họ còn lớn tiếng hô hào đòi bỏ Ðiều 4 của Hiến pháp quy định ÐCS Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Lợi dụng việc ÐCS Việt Nam công khai tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác, họ tìm mọi cách tô vẽ, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm, gieo rắc hoài nghi, tâm lý bất mãn, bất bình trong nhân dân, với mục đích gây mâu thuẫn, chia rẽ nhân dân với Ðảng. Núp dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “tự do”, “công bằng xã hội”, họ còn thành lập tổ chức trên internet để tập hợp, lôi kéo, phát triển lực lượng để chống lại Ðảng và Nhà nước Việt Nam.

Từ một số viện dẫn, lập luận trên, tôi thấy họ đã cố tình “đánh lận con đen”. Họ không thấy rằng, trong tất cả các nền dân chủ hiện đại bao giờ cũng có đảng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Sự khác nhau chỉ là ở mục tiêu, phương thức lãnh đạo mà thôi. Ở Mỹ, Ðảng Dân chủ và Ðảng Cộng hòa thay nhau lãnh đạo. Ở Cộng hòa liên bang Ðức cũng như vậy, Ðảng dân chủ Thiên chúa và Ðảng dân chủ xã hội thay nhau cầm quyền. Còn ở Australia là vai trò của Ðảng Lao động và Liên Ðảng quốc gia – tự do… Vậy tôi xin được hỏi “các nhà dân chủ”, những người đang lớn tiếng tự nhận là “người yêu nước” ở trong và ngoài nước là: Nếu các vị sống ở Mỹ, Ðức, Australia thì các vị có thể gân cổ phê phán chế độ đó không dân chủ hay không? Theo nhận thức của tôi, về pháp lý, vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam đã được quy định tại Ðiều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 là hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Ðiều 1, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (năm 1966) ghi rõ: “Tất cả các quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”. Chúng ta hiểu điều này có nghĩa là: việc lựa chọn chế độ chính trị nào (thể chế tam quyền phân lập hay phân công phối hợp có sự giám sát của nhân dân, CNTB hay CNXH) và việc có ghi rõ điều đó vào Hiến pháp hay không hoàn toàn là quyền của mỗi dân tộc, không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ÐCS Việt Nam được Quốc hội quyết định ghi vào Hiến pháp là văn bản hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng.

Hiệu quả hoạt động của chính quyền chính là thước đo hiệu quả sự lãnh đạo của Ðảng. Ðiều lệ ÐCS Việt Nam khẳng định: “Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Ðảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Ðảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Ðảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội”. Cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam được xác định là: “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; theo tôi hiểu, Ðảng lãnh đạo Nhà nước song không điều hành thay Nhà nước; Nhà nước quản lý xã hội nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Ðảng. Trong lịch sử chúng ta đều biết, chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh lập nên vốn đa đảng. Nhưng trên thực tế của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau đó là chống đế quốc Mỹ, chỉ ÐCS Việt Nam mới có đủ khả năng tập hợp lực lượng, trở thành hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc, và đã “đứng mũi chịu sào” với bao nhiêu hy sinh to lớn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Vì vậy, đối với đại đa số nhân dân trong nước, ÐCS Việt Nam hiện thân cho quyền lực chính đáng từ trong lịch sử, và lúc này ÐCS Việt Nam đang nỗ lực tăng cường tính chính thống của mình, thông qua nỗ lực tìm ra con đường đúng đắn để phát triển đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống của mọi người dân, nghĩa là tạo nên sự hài hòa giữa các lợi ích, cũng như các tầng lớp xã hội. Kết quả là đã thấy rõ: Việt Nam đứng thứ hai ở châu Á về tốc độ tăng trưởng GDP. Trước những khó khăn của đất nước trong cơn lốc suy thoái kinh tế toàn cầu, trước các hạn chế, yếu kém trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội mà ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đang phải đối mặt, lẽ ra một số người tự xưng là “tâm huyết với đất nước” cần đồng tâm, đồng lòng cùng Ðảng và Nhà nước vượt qua khó khăn. Nhưng đáng tiếc là họ không làm như vậy mà lại thi nhau kêu gào trên các diễn đàn của internet, rồi rùm beng trên BBC, VOA, RFA, RFI… đổ hết mọi lỗi lầm cho Ðảng, rằng: Ðảng là nguồn gốc của mọi “bất ổn xã hội”, của quan liêu, tham nhũng và “phải chịu trách nhiệm trước nhân dân”… Từ đó họ kích động đấu tranh cho “đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập”!

Lập luận của họ đưa ra có thể làm phân tâm, gây hoài nghi đối với một số người còn thiếu thông tin, chưa hiểu biết nhiều, còn với tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, bản chất của vấn đề vẫn luôn được nhận thức đúng đắn. Rốt cuộc, điều mà những người đang lớn tiếng kia chỉ là muốn loại trừ vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam mà thôi, và không cần phải phân tích những nội dung sai trái trong từng lập luận của họ cũng thấy rõ ý kiến của họ là gì. Bởi vì, mọi người có thể thấy rõ tất cả những lập luận trên chỉ là thứ tư duy chính trị dân chủ đa nguyên mà mấy chục năm qua, các phần tử “hành nghề chống cộng cực đoan” sử dụng ở ngoài nước, như ở nước Mỹ. Tôi biết quan niệm của ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về dân chủ khác biệt về bản chất so với quan điểm của “các nhà dân chủ”, “người yêu nước” theo lập trường phương Tây. Dân chủ của nhân dân Việt Nam là dân chủ XHCN, thuộc về nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam – đại diện chân chính cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Hơn 80 năm qua, ÐCS Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhưng trong Cương lĩnh của mình, Ðảng cũng khẳng định rõ, Ðảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Thử hỏi nếu không có ÐCS Việt Nam, những người đang lớn tiếng kêu gọi “bỏ  Ðiều 4 ra khỏi Hiến pháp” đã trưởng thành từ đâu, được đào tạo dưới chế độ xã hội nào, khi nói lên ý kiến như vậy, họ không thấy bứt rứt trong lương tâm hay sao?

Dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, sự nghiệp đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã giúp cho mọi người dân thuộc các thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của mình thông qua Nhà nước pháp quyền XHCN – nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cho nên hoàn toàn không cần tới cơ chế “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Lý luận và thực tiễn đều bác bỏ những vu cáo, bịa đặt về vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, đồng thời cũng trực tiếp khẳng định các luận điệu tuyên truyền “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam thực chất chỉ nhằm thực hiện mục tiêu chính trị đen tối của các thế lực đang có tham vọng đi ngược lại xu thế phát triển tất yếu của đất nước. Sự thật trước sau vẫn là sự thật. Không ai có thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam! Quá khứ và hiện tại đã khẳng định chân lý đó. Việc làm của mấy người mượn danh “yêu nước”, tự coi mình “có trách nhiệm với dân tộc” không đánh lừa được những người yêu nước chân chính và có trách nhiệm thật sự đối với dân tộc. Tôi nghĩ, để đưa đất nước và dân tộc đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nhân dân trong nước cần thống nhất, đồng thuận cùng ÐCS Việt Nam tiếp tục phấn đấu trên con đường mới. Sự nghiệp đổi mới đang còn nhiều khó khăn, thách thức. Muốn đạt được các mục tiêu đã đề ra phải có những nỗ lực vượt bậc của toàn dân tộc và nhân dân Việt Nam càng tin tưởng vào trí tuệ, bản lĩnh lãnh đạo của Ðảng, vào sự đoàn kết, nhất trí của toàn dân dưới ngọn cờ vinh quang của ÐCS Việt Nam. Dù ở nước ngoài, tôi vẫn tin như vậy, bằng chứng thuyết phục nhất đối với tôi là sự phát triển thần kỳ của đất nước mà tôi đã được chứng kiến sau mỗi lần về thăm quê hương. Dù ở xa Tổ quốc, tôi vẫn cố gắng góp phần nhỏ bé của mình cả về vật chất và tinh thần. Tôi hy vọng Báo Nhân Dân sẽ cho đăng bài này, vì đó là tấm lòng của một người con luôn gắn bó với quê hương, đất nước.

  TRUNG THÀNH Hoa Kỳ – ngày 18-2-2013
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Freedom House kẻ “nghe hơi nồi chõ”

Theo phúc trình “Tự do Thế giới 2013” của tổ chức Freedom House (“Ngôi nhà tự do”) công bố thường niên kể từ năm 1972 khảo sát và xếp hạng 195 quốc gia và 14 lãnh thổ trên thế giới. Như “thường lệ” Việt Nam bị “Liệt” vào danh sách là nước không có tự do trong tất cả các bảng xếp hạng 2012 của tổ chức này bao gồm “Tự do Trên thế giới”, “Tự do Báo chí ”, và “Tự do trên mạng Internet ”…Theo tôi nghĩ sẽ chẳng có gì đáng nói bởi những thông tin mà Freedom House đưa ra, rồi cáo buộc đối với Việt Nam là xuất phát từ động cơ, quan điểm chính trị áp đặt, thù địch mà trong một thời gian dài họ luôn “tấu lên” mỗi khi cần, bất chấp những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong tất cả các lãnh vực về quyền tự do và quyền con người.
Freedom House là tổ chức phi chính phủ và đương nhiên tổ chức này muốn tồn tại thì phải có ngân sách mà khoản này được ngân sách hạ viện Hoa Kỳ tài trợ hàng năm, một khi bị lệ thuộc thì Freedoom house chỉ là kẻ “Ăn cơm chúa phải múa tối ngày” xem ra cũng không có gì là điều lạ. Tổ chức này đã bị chi phối theo ý đồ của “ông chủ”. Vì vậy, họ không thể đưa ra được tiếng nói khách quan, tôn trọng sự thật. Trong cái gọi là “phúc trình” của họ chỉ tập trung vào một số nước, trong đó có Việt Nam, những nước luôn bị một số lực lượng thiếu thiện chí dùng vấn đề “tự do” về mọi lãnh vực để công kích.Trước hết, cần phải thấy rằng, đây không phải lần đầu tiên tổ chức này có những nhận xét sai lệch vu khống về tình hình tự do báo chí, tự do internet ở Việt Nam như vậy, mà nhiều năm qua Freedom House luôn có cái nhìn sai lệch về vấn đề này . Freedom House đều có những hành động công kích, tấn công tự do báo chí ở Việt Nam, tạo cớ để các phần tử xấu ở nước ngoài và một số kẻ “theo đóm ăn tàn” trong nước lợi dụng mở chiến dịch xuyên tạc bôi nhọ chống Việt Nam .Trả lời phỏng vấn của đài VOA Việt ngữ ngày 18-1-2013 – Bà Sarah Cook, chuyên gia phân tích cao cấp về lĩnh vực tự do internet và Đông Á trong tổ chức Freedom House đã có những đánh giá hồ đồ, vu khống về tự do internet ở Việt Nam, lên án nhà nước Việt Nam cầm tù những blogger “bất đồng chính kiến” . Khi được hỏi căn cứ vào cơ sở nào để Freedom house đưa ra bản phúc trình hàng năm đối với Việt Nam, Bà Sarah Cook nói : “Chúng tôi có một chuyên gia chính phụ trách từng quốc gia, chuyên phân tích tình hình của nước đó. Họ theo dõi tin tức và thông tin về tình hình quốc gia ấy, hỏi thăm những người liên quan trong nước đó hay những người thường xuyên lui tới nước đó, nói chuyện với các tổ chức kể cả các nhóm hoạt động bên ngoài nước đó…”? Vậy xin hỏi Bà Sarah Cook thì tính khách quan ở chỗ nào ? Tại sao Freedom House không cử nhân viên của mình trực tiếp tới Việt Nam làm việc một cách quang minh chính đại ? tục ngữ Việt Nam có câu ” trăm nghe không bằng một thấy”. Với cách làm này thì tôi nhận thấy rằng tổ chức này không đủ tư cách “phán xét” người khác được.
Đối với Việt Nam, Freedom House chỉ dựa vào những lời vu cáo, bịa đặt của một số phần tử phản động ở hải ngoại và một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước để đưa ra nhận xét không phản ánh đúng sự thật những gì đang diễn ra ở Việt Nam. Mấy năm gần đây, Freedom House luôn thể hiện quan điểm, cách nhìn sai lệch một cách cố hữu về Việt Nam.Theo nhận xét của bản thân tôi Freedom House không có bất cứ một hoạt động mang tính khảo sát khách quan nào dựa trên chính thực tế hoạt động báo chí, internet , mà chỉ hành động rất phiến diện kiểu “hóng hớt”, “nghe hơi nồi chõ”, không phản ánh đúng thực chất những gì đã và đang diễn ra hàng ngày ở Việt Nam .Việt Nam là một trong những nước luôn bị một số lực lượng thiếu thiện chí ở Mỹ và phương Tây dùng vấn đề tự do báo chí, Internet để chống phá.Từ đó cho chúng ta thấy rằng thái độ của Bà Sarah Cook đại diện cho Freedom House là phiến diện, xuyên tạc sự thật, cố tình tạo cớ để các phần tử xấu, phần tử cơ hội lợi dụng công kích tình hình tự do báo chí, tự do Internet ở Việt Nam. Sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã chứng minh, phản bác hành động sai trái của Freedom House tôi xin trích dẫn số liệu sau .Theo số liệu thống kê của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) năm 2010. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng internet cao nhất trong khu vực Đông Nam Á, chiếm 31,06% dân số, chỉ đứng sau 3 nước là Xin-ga-po (70%), Ma-lai-xi-a (55,3%) và Bru-nây (50%); nhưng đứng trước 6 nước: Phi-líp-pin (25%), Thái Lan (21,2%), In-đô-nê-xi-a (9,1%), Lào (7%), Cam-pu-chia (1,26%), Mi-an-ma (0,22%); đồng thời vượt khá xa tỷ lệ trung bình của khu vực Đông Nam Á (17,86%), khu vực châu Á (17,27%) và thế giới (21,88%). Nhân đây, cần nhắc lại rằng, sự thật báo chí ở Việt Nam trái ngược hẳn với những gì Freedom House vu cáo. Thật vậy, tính đến tháng 3/2012, ở Việt Nam có gần 17.000 nhà báo, hơn 19.000 hội viên nhà báo, hàng nghìn phóng viên hoạt động ở 786 cơ quan báo in, với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp, sản xuất 62 kênh truyền hình. Chúng ta thấy rằng, Internet ở Việt Nam ngày càng phát triển và quyền tự do Internet được đảm bảo. Hiện nay đã có hơn 30 triệu người Việt Nam sử dụng Iternet (chiếm gần 35,3% dân số).Những con số nêu ra trên đây dù chưa được đầy đủ nhưng nó là một minh chứng cho nhiều sắc màu về tự do truyền thông từ đó tôi có thể nói rằng đây đủ cơ sở để khẳng định rõ ràng Việt Nam không bao giờ có quyết định nào ngăn cản, khống chế Internet mà luôn tạo điều kiện để phát triển dịch vụ này đi đúng hướng. Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28-8-2008 đã quy định rằng” Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ internet, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về internet.Có biện pháp để ngăn chặn những hành vi lợi dụng internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, vi phạm các quy định cuả pháp luật và để bảo vệ trẻ em khỏi tác động tiêu cực từ internet”.

Freedoom house luôn phớt lờ một thực tế rằng, mỗi quốc gia do bản chất của chế độ chính trị, điều kiện lịch sử đặc thù, tình hình cụ thể trong nước và quốc tế, mà định ra các luật của mình tương thích với nhu cầu thực tế phát triển của đất nước. Do vậy, việc quản lý báo chí, xuất bản, truyền thông, Internet… bằng pháp luật là hình thức bảo đảm thực hiện quyền tự do báo chí, xuất bản ở tất cả các nhà nước tiến bộ trên thế giới. Mặt khác, luật báo chí của các quốc gia không giống nhau chính vì vậy,quyền tự do báo chí, tự do Internet cũng khác nhau ở các nước. Tuy nhiên, tất cả các quyền này, dù ở bất cứ quốc gia nào cũng không phải là các quyền tuyệt đối, mà là các quyền có giới hạn. Điều đó cho thấy, không có cái gọi là “tự do báo chí”, “tự do Internet” tuyệt đối. Quan niệm của Freedom House coi quyền “tự do báo chí” như một thứ quyền không giới hạn, là không thể có và không tồn tại thực tiễn ở bất cứ quốc gia nào. Bất cứ nhà nước nào cũng phải dựa vào luật pháp để bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Mỹ và các nước châu Âu, các nước tư bản cũng ban hành luật pháp quản lý xã hội theo nguyên tắc đó và thực tế là nhiều trường hợp, cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ và xét xử đối tượng lợi dụng internet, tự do dân chủ để chống chính quyền. Tự do báo chí ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phương Tây, như thực tiễn đã chỉ ra, không chỉ phải tuân theo pháp luật, mà còn phải có thái độ chính trị, tuân thủ pháp luật của chính quyền, phục vụ lợi ích của nhà nước, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà thôi. Nguy hiểm hơn, nhiều năm qua, Freedom House còn mở chiến dịch cổ xúy cho cái gọi “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” kiểu phương Tây để lợi dụng huận thuẫn, kích động, tài trợ những kẻ cơ hội, phần tử chống đối chính phủ, vi phạm pháp luật ở Việt Nam gây rối, chống chính quyền, ý đồ tạo cớ gây bất ổn.Vì vậy, mỗi khi cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam bắt, giáo dục cải tạo những công dân vi phạm pháp luật là Freedom House phối hợp mở chiến dịch vận động chính khách Mỹ, phương Tây chụp mũ vu cho là đàn áp, bắt bớ “người bất đồng chính kiến”, “nhà đầu tranh dân chủ”… rồi kêu gọi đòi “trả tự do ngay lập tức” làm như họ có cái quyền ra lệnh một cách trịch thượng như vậy .Thực tế, việc một số tổ chức và cá nhân vin cớ khi cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố, truy tố, xét xử các đối tượng có hành vi chống chính quyền nhân dân để vu cáo cái gọi là dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận đã là chiêu thức quá nhàm . Trong vụ tòa án xét xử các bị cáo lợi dụng internet chống phá nhà nước Việt Nam, một số tổ chức, cá nhân tiếp tục trích dẫn Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền để biện hộ cho lý lẽ “tự do ngôn luận”. Điều 19 của Tuyên ngôn quy định “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm”. Vấn đề này được làm rõ ở Điều 29 của Tuyên ngôn: “Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ. Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.Thực tế, những nội dung trên của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền cũng được cụ thể hóa tại Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Điều 69, Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.Trong khi đó, hành vi của các đối tượng là phạm một tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính liên tục, kéo dài, bộc lộ rõ ràng và đã tác động xấu đến an ninh quốc gia cũng như hình ảnh của nước Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Hoạt động phạm tội của các bị cáo có tổ chức chặt chẽ, có sự phân công cụ thể, có sự móc nối, câu kết với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong và các thế lực thù địch. Các bị cáo đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do dân chủ, sử dụng internet tạo dựng ra blog “Câu lạc bộ nhà báo tự do” để liên lạc, trao đổi, viết, phát tán và tàng trữ các tài liệu, xuyên tạc sự thật, nói xấu Nhà nước, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ, lôi kéo, cổ vũ cho những phần tử có tư tưởng chống đối nhằm gây dựng và chuẩn bị lực lượng, khi có thời cơ sẽ lật đổ chính quyền. Hành động, việc làm của Freedom House nhiều năm qua ý đồ chính trị xấu xa của họ, chuyên hoạt động cổ xúy, kích động, tài trợ cho những phần tử chống đối Chính phủ Việt Nam làm tiền đề, ngòi nổ cho cái gọi “cách mạng màu” ở Việt Nam, như tổ chức này đã nhúng tay vào gây ra bạo loạt, lật đổ chính phủ ở một loạt các nước Trung Đông và Bắc Phi . Hành động, việc làm của Freedom House bất chấp luật pháp quốc tế thực hiện mưu hòng gây bất ổn ở Việt Nam, một đất nước độc lập, chủ quyền là thành viên của liên hợp quốc và khối ASEAN không thể chấp nhận được.
Amari TX
Hoa kỳ 19-1-2013
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Vạch mặt những kẻ mạo danh

AMARI TX
Bài được đăng trên báo nhân dân
Cập nhật lúc 21:21, Thứ hai, 14/01/2013 (GMT+7)
Xuyên tạc, bịa đặt, đổi trắng thay đen, dựng hiện trường giả, đưa tin lập lờ nhằm gây thật – hư lẫn lộn,… vốn là thủ đoạn xấu xa của kẻ bất lương. Những kẻ chủ mưu của “diễn biến hòa bình” tận dụng ưu thế của internet, khiến các thủ đoạn trở nên tinh vi, thâm độc hơn, trở thành một loại phương tiện để tiến công lũng đoạn đời sống tinh thần của xã hội. Có thể nhận diện các thủ đoạn này qua bài viết của tác giả Tường Anh từ nước Mỹ gửi Báo Nhân Dân.

Như nhiều người Việt Nam hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ, tôi thường theo dõi tin tức trong nước qua trang điện tử của các tờ báo chính thống ở trong nước, nhằm tránh tiếp xúc với loại thông tin không đúng sự thật, và bịa đặt, xuyên tạc vốn nhan nhản trong cái gọi là “ma trận internet”. Vừa qua, trong khi vào mạng để đọc tin tức và tìm tư liệu, tôi thấy có một blog được thiết kế dưới hình thức báo điện tử có địa chỉ là: nhandan… Thoạt đầu tôi ngỡ đây là trang điện tử của Báo Nhân Dân. Ðọc một số tin tức thì tôi khẳng định đó là một trang điện tử giả mạo. Người làm blog này đã copy nguyên giao diện của Báo Nhân Dân điện tử với đầy đủ trang mục, có link đến trang, mục của Báo Nhân Dân điện tử, nhưng họ đã thay đổi nội dung slogan, cho đăng rất nhiều bài lấy từ các trang mạng chống cộng cực đoan ở nước ngoài, hoặc bài viết của một số người lâu nay vẫn núp dưới chiêu bài “tự do, dân chủ, tự do báo chí” để xuyên tạc, bôi nhọ Việt Nam.

Ðối với tôi, sự kiện trên đây không có gì mới mẻ. Tôi từng biết tới một số website, blog giả mạo mà điểm chung của chúng là gắn với tên người cụ thể, rất giống các trang báo điện tử thật, tập trung đăng tải nội dung liên quan mà nó giả danh. Nếu không phát hiện điều này, người đọc rất dễ nhầm lẫn, tưởng đó là thật. Giả dụ như trang điện tử giả mạo Báo Nhân dân điện tử, người đọc rất dễ bị lừa nếu chỉ lướt qua slogan dưới “măng-sét”. Sự xuất hiện ngày càng nhiều trang điện tử giả đã tạo nên sự quan ngại cho nhiều người, cần phải lên án. Theo tôi, nếu là người lương thiện, không ai lại làm cái việc xấu xa như thế. Những website, blog giả mạo này thường nhằm vào các trang báo điện tử của những tờ báo có uy tín, có ảnh hưởng lớn trong xã hội và người xem dễ bị mắc lừa vì ngỡ đó là thông tin chính thống. Và khi website, blog giả mạo này có được lượng người đọc (mà họ thường gọi là “con mồi”) nhất định, lúc đó đối tượng kẻ chủ mưu sẽ đăng tải những thông tin sai lệch về cá nhân, tổ chức, tuyên truyền chống nhà nước, hô hào ủng hộ cho các tổ chức, đảng phái phản động. Lúc đó, hậu quả mà các đối tượng giả mạo này gây ra là khó có thể lường hết.

Hiện nay trên internet, có hàng loạt các website, blog giả danh các vị lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chính phủ, các tổ chức xã hội, các tờ báo lớn. Tôi nhận ra được sự giả mạo vì ngoài việc xem xét hình thức, cách đưa tin, tôi còn so sánh với trang điện tử chính thức, hoặc qua đọc các bài báo trong nước đã vạch rõ hiện tượng xấu xa đó. Lợi dụng môi trường mở internet, tận dụng ưu thế có máy chủ đặt tại nước ngoài, những kẻ dựng ra các trang mạng này cố tình gieo rắc thông tin không chính thống, cóp nhặt thông tin từ các trang mạng phản động, chống cộng cực đoan để đăng tải. Thủ đoạn thường thấy ở họ là ngụy tạo thông tin, đưa thông tin xuyên tạc, bịa đặt xen lẫn thông tin chính thống, có thật, để tạo lòng tin đối với người đọc. Thậm chí, các trang mạng này còn qua đó suy diễn, bịa đặt, vu khống Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Rất đáng lo ngại là trong thời gian gần đây, loại thông tin như vậy xuất hiện với tần suất ngày càng cao. Qua đó chúng ta càng thấy rõ ý đồ của các cá nhân, các tổ chức luôn cố tình chống phá Việt Nam, họ không từ bỏ âm mưu và sử dụng mọi hình thức, thủ đoạn, kể cả thủ đoạn bẩn thỉu. Trong “thế giới phẳng” hiện nay, họ càng triệt để lợi dụng mạng thông tin toàn cầu để ra sức hô hào, cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “tự do internet” để mở hướng tấn công mới, chống phá đất nước.

Tôi có thể nói rằng, bất cứ quốc gia nào, dù có vỗ ngực là có nền dân chủ bậc nhất thiên hạ như nước Mỹ, nhưng cũng không bao giờ cho phép “mở cửa internet” tự do một cách tuyệt đối. Vì vậy tôi nghĩ, tạo điều kiện cho sự phát triển của intetrnet không đồng nghĩa với việc “thả dàn” cho mọi loại hoạt động, để kẻ xấu mặc sức tung hoành mà không có sự kiểm soát của cơ quan chức năng. Khá nhiều tổ chức phi chính phủ ở Mỹ đang giám sát hệ thống kỹ thuật và tên miền internet. Các tổ chức này hoạt động dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Mỹ, và chính thức thuộc Bộ Thương mại Mỹ. Cơ quan internet quản lý số liệu và tên miền được chuyển nhượng (Icann) đặt tại Mỹ, sắp xếp các hệ thống số và mã số, quyết định địa chỉ internet mới nào được phép và được mang tên miền “.org”, sau đó cho phép các nhà cung cấp dịch vụ internet phân bổ địa chỉ cụ thể. Mạng tin Dự báo thị trường (Anh) số mới đây cho rằng, chiến lược kiểm soát thế giới thông qua kiểm soát internet đã trở thành một chiến lược chủ đạo của Mỹ. Từ việc bảo vệ cơ sở hạ tầng mạng dưới thời Tổng thống Bill Clinton đến hoạt động chống khủng bố mạng dưới thời George W. Bush, và “chặn trước trên mạng” dưới thời Barack Obama, chiến lược an ninh thông tin quốc gia của Mỹ đã phát triển từ chiến lược phòng vệ sang chặn trước. Mới đây, Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman – Chủ tịch Ủy ban An ninh nội địa Mỹ, đã trình Quốc hội nước này dự luật có tên là Bảo vệ không gian mạng như là tài sản quốc gia. Theo đó, mỗi khi xảy ra tình huống khẩn cấp, Tổng thống Mỹ có thể ra lệnh cho Google, Yahoo và các bộ máy tìm kiếm thông tin trên mạng khác phải ngừng cung cấp dịch vụ. Các nhà cung cấp dịch vụ internet khác có trụ sở tại Mỹ cũng có thể bị đặt dưới sự kiểm soát của Tổng thống mỗi khi xảy ra “tình huống khẩn cấp về an ninh internet”. Như vậy, Tổng thống Mỹ sẽ là người có quyền mở hoặc đóng cửa internet. Mục đích cuối cùng của Mỹ là thiết lập khả năng mở và đóng một hoặc nhiều phần mạng internet theo ý muốn.

Chúng tôi cho rằng, cần phải phân biệt rõ ràng, ai là người quan tâm sử dụng internet để phục vụ những mục đích tiến bộ, vì sự tự do chân chính của con người và xã hội, còn ai coi internet là “vũ khí lợi hại” để tấn công, xâm phạm quyền tự do chính đáng và phương hại đến lợi ích của các quốc gia, dân tộc. Chỉ có nhận thức đúng vấn đề này mới có cơ sở nhận diện, lật tẩy được “chân tướng” của những kẻ lợi dụng mạng internet để chống phá Ðảng và Nhà nước Việt Nam, cố tình bôi nhọ, xuyên tạc những giá trị, thành quả nhân dân đã đổ bao mồ hôi, xương máu mới tạo dựng nên. Từ việc làm nhiễu loạn thông tin đến việc làm nhiễu loạn dư luận xã hội, làm cho người dân suy giảm niềm tin, phân hóa, chia rẽ,… đó là lộ trình mà các thế lực thù địch đang rắp tâm thực hiện. Do vậy, hơn lúc nào hết, Nhà nước Việt Nam cần phải tăng cường quản lý an ninh mạng, xây dựng những cơ chế, chính sách phù hợp để tiếp tục phát triển internet đúng hướng, lành mạnh, đồng thời cần đưa ra các quy định, chế tài rõ ràng, có tính khả thi cao để quản lý internet chặt chẽ, hiệu quả, góp phần giữ vững an ninh tư tưởng, thông tin, văn hóa và bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Hậu quả của việc giả mạo những tờ báo điện tử chính thống sẽ nghiêm trọng hơn rất nhiều, vì những tờ báo thật sẽ bị những kẻ giả danh làm phương hại đến uy tín khi đăng tải những thông tin, hình ảnh xấu. Những thông tin trên các trang báo mạng giả này sẽ gây những tác hại khôn lường, thậm chí ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống xã hội, cả về chính trị, an ninh quốc gia. Dẫu biết rằng việc đăng ký mua một tên miền nào đó là chuyện bình thường, nhưng dùng nó để giả danh nhằm mục đích khác thì đã vi phạm pháp luật và cần được xử lý nghiêm. Ðồng thời, phải coi việc giả mạo các trang báo điện tử chính thống là hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là hành vi thiết lập trang thông tin điện tử không có giấy phép, xuất bản báo điện tử mà không có giấy phép, cũng như xâm phạm quyền lợi hợp pháp của tổ chức theo pháp luật dân sự. Trong thời buổi khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, thì đối tượng và hình thức phạm tội cũng biến đổi khó lường, việc ngăn chặn khó lòng đạt được kết quả mỹ mãn. Vì thế cần nêu cao vai trò thượng tôn pháp luật.

Là người Việt Nam ở xa Tổ quốc, chúng tôi luôn mong muốn báo chí chính thống thực hiện tốt vai trò định hướng dư luận xã hội, thông tin nhanh nhạy, kịp thời về những sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Song tôi cũng đã nhận thấy trong một số trường hợp, việc cung cấp thông tin của báo chí trong nước chưa kịp thời, hoặc chưa đầy đủ, nên đã tạo ra một khoảng trống trước nhu cầu tìm hiểu thông tin đích thực cho nhân dân trong nước, cũng như bà con người Việt ở nước ngoài. Triệt để lợi dụng cơ hội đó, một số trang mạng phản động đã bình luận, xuyên tạc, gieo rắc các thông tin xuyên tạc quan điểm, đường lối của Nhà nước hòng thực hiện ý đồ xấu xa của họ. Cuối cùng theo tôi, cách thức ngăn chặn tốt nhất vẫn là bức tường tinh thần của cá nhân, tức là nâng cao ý thức và nhận thức của mỗi người khi tham gia vào xa lộ thông tin toàn cầu.

TƯỜNG ANH – từ Hoa Kỳ ngày 12-1-2013
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Hiến pháp “của chúng ta”

AMARI TX  Tiếp tục lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
Là những người con Việt xa xứ , nhưng chúng tôi vẫn dõi theo tình hình biến chuyển của quê hương .Con người với những số phận và hoàn cảnh khác nhau mặc dù mang quốc tịch là công dân của nước sở tại nhưng cuội nguồn vẫn là người Việt Nam . Qua các phương tiện truyền thông thì được biết Ngày 23-11-2012, tại kỳ họp thứ tư, quốc hội khóa 13 đã thông qua nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992 ,thi hành hiến pháp, pháp luật và góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN của dân, do dân, vì dân ,bắt đầu từ ngày 2-1-2013 và kết thúc vào ngày 31-3-2013. Bản thân tôi cũng muốn có một tiếng nói hầu đóng góp một phần bé nhỏ của mình trong cuộc trưng cầu dân ý về việc sửa đổi hiến pháp 1992 của Việt Nam. Theo chúng tôi suy nghĩ thì mỗi bản hiến pháp đều là sản phẩm của thời đại trong đó chúng được làm ra vì vậy không có bản hiến pháp nào gọi là hoàn hảo , việc sửa đổi là điều không có gì lạ , ngay bản hiến pháp của Hoa kỳ được biết đó là bản hiến pháp lâu đời nhất nhưng nó cũng đã được bổ sung bằng các tu chính án đó là sự uyển chuyển của hiến pháp cho phù hợp với sự phát triển của xã hội .Hội nghị Lập hiến được triệu tập ngày 25 tháng 5, 1787, trong một bối cảnh những người dân Mỹ vừa trải qua một cuộc chiến tranh kéo dài, cam go và tàn phá, chỉ vừa mới bắt đầu giai đoạn phục hồi kinh tế từ đống đổ nát ,55 đại biểu có mặt tại cuộc họp là những nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước, những người thông minh, kiệt xuất và có uy tín lớn lao, một thế hệ tài năng, quả cảm, thông minh và chính trực mà nhân dân Mỹ sau này gọi là Founding Fathers (những người cha lập quốc).Nhưng cuối cùng, bản thân Hiến pháp Mỹ không phải là một điều quan trọng nhất. Điều quan trọng là, nước Mỹ đã vận hành nó trong “trạng thái kế thừa” trong suốt hơn 200 năm qua.
Hiến pháp là sự thể hiện ý chí đồng thuận của cả một dân tộc về việc thành lập một nhà nước và người dân trao quyền vận hành đất nước cho chính phủ đó là lý do người dân ủng hộ nhà nước .Hiến pháp như là điều gì đó vừa thiêng liêng, vừa gần gũi, “của mình” qua tinh thần, nội dung, qua cách thể hiện ngay trong bản Hiến pháp ,Có nghĩa là Hiến pháp cần được thiết kế để nhân dân ủy quyền mà vẫn không mất quyền . Điều quan trọng là mỗi ý kiến của người dân đã có cơ hội phát biểu đóng góp chưa , mọi đề xuất đóng góp sửa đổi đã được cân nhắc chưa và cơ chế hiến pháp hiến pháp có đủ sự uyển chuyển để theo kịp sự chuyển biến của tương lai xã hội hay không .Hiến pháp vừa mang tính thiêng liêng nhưng đồng thời nó cũng gần gũi với với người dân , hiến pháp phải được mọi người dân coi là tài sản chung “của chúng ta”,người dân cảm nhận thấy đó là Hiến pháp của mình, khi họ có thể sử dụng Hiến pháp do chính mình làm ra và chuẩn y để bảo vệ các quyền và tự do của mình, bảo vệ nền dân chủ . sửa đổi Hiến pháp sẽ không có nhiều ý nghĩa đối với chất lượng Hiến pháp khi mà  không phải tất cả những người dân tham gia vào công việc hệ trọng này đều hiểu biết như nhau về những vấn đề được đưa ra trưng cầu  dân ý . Do đó, trưng cầu ý dân về các vấn đề quan trọng, đại sự như Hiến pháp nếu thiếu sự truyền thông giáo dục, thì kết quả có thể sẽ mang tính tiêu cực, mức độ người dân tham gia trong quá trình hình thành hoặc sửa đổi hiến pháp cũng ảnh hưởng đến phạm vi, mức độ của các quyền hiến định của công dân. Quy trình có tính đại diện và thu hút sự tham gia nhiều hơn thì tạo ra Hiến pháp với những quy định thuận lợi cho bầu cử tự do và công bằng, bình đẳng về chính trị, công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người .Sự tham gia rộng rãi, thực sự của nhân dân vào quá trình hình thành và sửa đổi Hiến pháp cũng làm cho người dân sẽ viện đến Hiến pháp nhiều hơn, tuân thủ Hiến pháp tốt hơn, tức là làm cho Hiến pháp có tác dụng trên thực tế, chứ không phải Hiến pháp “chết”. Lời nói đầu của hiến pháp có giá trị biểu tượng rất cao, tạc nên chân dung của một xã hội đồng lòng – nền tảng cho bất kỳ trật tự hiến pháp nào muốn trường tồn, mặc dù các thành viên của xã hội có thể có những quan điểm, cái nhìn, nguyện vọng khác nhau . Mục đích hiến pháp sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải thích hiến pháp. Khi ngôn từ trong từng điều khoản của hiến pháp có chỗ chưa rõ thì mục đích của hiến pháp là ngọn hải đăng dẫn đường cho quá trình giải thích. Như Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 phần mở đầu : “Chúng ta, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ…”.  “nhân dân” là người lập ra hiến pháp, nhấn mạnh Hiến pháp này là của nhân dân. Bình luận về Lời nói đầu của Hiến pháp Mỹ, một tác giả viết: “Ba từ đó (chúng ta, nhân dân) nói được nhiều hơn bất kỳ ba hay ba mươi từ nào trong toàn bộ bản văn Hiến pháp. Đó không phải là những từ có hiệu lực trực tiếp, chúng không thiết lập một cấu trúc nào, nhưng chúng lại có tính trao quyền, có tính tạo điều kiện, và chúng gửi một thông điệp rất mạnh mẽ đến nhân dân về bản chất của xã hội mà Hiến pháp muốn mô tả”.
Không những thế, Hiến pháp là sự thể hiện ý chí của cả dân tộc. Đó là sự phản ảnh lịch sử, những nỗi lo ngại, mối quan tâm, nguyện vọng, tầm nhìn, và quả thật, soi rọi tâm hồn của dân tộc đó. Một bản Hiến pháp buộc phải tìm ra mong muốn của đa số công dân, nhưng khi làm điều đó, phải tính đến những nỗi lo ngại, mối quan tâm của các nhóm thiểu số. Đồng thời, Hiến pháp là một bản văn mà trong đó các nhóm khác nhau trong xã hội gắn kết với nhau để bảo vệ nền dân chủ. Vì vậy, toàn thể công dân cần phải được hưởng quyền sở hữu Hiến pháp, tôn trọng, kính trọng Hiến pháp”. Như chúng ta biết quyền lập hiến theo Hiến pháp 1946 là “quốc dân” (nhân dân), và được thể hiện như sau: “Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Còn mục đích của hiến pháp được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 là “độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”. hiến pháp 1946 của Việt Nam là bản hiến pháp dân chủ và tiến bộ nhất đông nam á thời bấy giờ. Nó ghi nhận thành quả vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong công cuộc trong công cuộc đấu tranh giành độc lập. Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho một nhà nước kiểu mới nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chính vì tính chất “của nhân dân” này, ghi nhận và thể hiện ý chí, chủ quyền tối thượng của nhân dân, Sự ủy quyền của cử tri cho các nghị sỹ là có thời hạn, trong khi chủ quyền nhân dân được ghi nhận trong Hiến pháp là vô hạn, do đó, nếu luật của nghị viện ban hành mà trái với Hiến pháp thì cũng phải vô hiệu hóa theo phán quyết của Tòa án- thiết chế được Hiến pháp trao thẩm quyền làm điều đó. Như vậy, tính chất “của nhân dân” là cơ sở vững chắc tạo ra tính chính danh cho hiến pháp .

 Hoa kỳ- ngày đầu năm mới
1-1-2013
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

“Đi biểu tình” là thể hiện lòng yêu nước?

AMARI TX
[IMG]
Chúng tôi là những người Việt Nam đang sống tại Hoa Kỳ dù có những chính kiến
khác nhau nhưng phần lớn bà con trong cộng đồng đều có tấm lòng hướng về cội nguồn dân tộc. Theo dõi trên mạng xã hội Facebook,blog , các phương tiện truyền thông “mõ làng” như RFA, RFI, VOA,BBC… đăng tải , phỏng vấn cái gọi là “lời kêu gọi biểu tình phản kháng các hành động của Bắc Kinh” tại Hà Nội vào sáng Chủ nhật 09/12/2012, đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh, bốn mươi hai “nhân sĩ trí thức” đã từng kiến nghị biểu tình vào ngày 27/7/2012 trước đây, cũng đã chính thức kêu gọi mít-tinh phản đối những hành động gây hấn của nhà cầm quyền Trung Quốc trước Nhà hát Thành phố . Tại Hoa kỳ các tổ chức chống cộng cực đoan (CCCĐ) hùa theo “té nước theo mưa” cùng “sáng tác” với sản phẩm đặc trưng là kích động chĩa mũi dùi công kích nhà nước Việt Nam nào là: “đàn áp”, “hèn nhát với gặc”, “tàn ác với dân”…vv. Các cá nhân , tổ chức “chống cộng cực đoan” tung lên trên internet bài viết thiếu thiện chí,xuyên tạc , bóp méo, tô vẽ, kích động đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam .Tuy nhiên, dù thế nào thì luận điệu của họ vẫn bị mọi người nhận ra bộ mặt thật của họ , suốt 37 năm qua không biết bao nhiêu các tổ chức CCCĐ ra đời và chết yểu như bệnh dịch dù khoác dưới vỏ bọc “yêu nước”. Đã có những bài viết hoặc trả lời trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại về lòng yêu nước từ những định kiến đối với nhà nước Việt Nam hơn là từ suy nghĩ xuất phát từ tấm lòng yêu nước chân chính . Có những người gắn dưới cái mác “nhân sĩ trí thức”, cố diễn giải , viện dẫn, nhận định vu vơ để “biện minh lý do biểu tình” lôi kéo những người khác. Để dẫn chứng tôi lấy một ví dụ trong bài phỏng vấn của “Mõ RFI” Việt ngữ đã trao đổi với một ông luật gia, một trong các đại diện 42 “nhân sĩ trí thức” Sài Gòn đã từng gởi kiến nghị ngày 27/7/2012 trước đây.
“tôi thấy là phản ứng của Ấn Độ rồi Indonesia, Philippines – nhất là Philippines – như vậy rất là thỏa đáng. Chúng tôi ủng hộ việc làm, hành động của nhân dân Philippines. Đó là đất nước chịu rất nhiều thiên tai, vừa rồi họ bị cơn bão, mấy trăm người đã mất, nhưng mà đứng về chống bá quyền Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông thì thái độ họ rất là quyết liệt, rất là rõ ràng. Thì chúng ta ít nữa cũng phải như là người dân Philippines chứ không thể nào thụ động ngồi chờ được” ?.

Thật ngạc nhiên khi được nghe những lời phát biểu của vị này khi sử dụng ngôn từ kích động thù hận dân tộc, thậm chí kích động chiến tranh. Họ còn hăng hái phát biểu khi được báo chí nước ngoài phỏng vấn đưa ra những nhận định phiến diện, hồ đồ và các bài viết, bài phỏng vấn của họ được báo chí CCCĐ ở hải ngoại “tung hứng”, “giật tít” với các chức vụ hiện tại hoặc trước đây từng đảm nhiện trong chính quyền. Họ càng viết, càng nói càng nhận ra họ không muốn giữ gìn hòa bình để phát triển đất nước, dường như trong thâm tâm, họ không cần quan tâm tới vận mệnh của dân tộc Việt Nam đang vượt qua mọi khó khăn để giữ gìn sự vẹn toàn của đất nước, để xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh . Họ tìm đủ mọi lý lẽ để kết luận phải đi biểu tình chống nước khác mới là yêu nước?

Một vị hiện đang nắm giữ chức vụ Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM trong cuộc phỏng vấn của “Mõ RFI” nói : nhân dân phải có quyền nói lên sự thật rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam và theo ông, nếu cứ để cho Trung Quốc “ nói láo trước thiên hạ về những điều chúng không có, về những gì chúng cướp giựt của chúng ta …”, là chúng ta “đắc tội với tổ tiên, là đắc tội với các thế hệ mai sau.”? Hoặc có vị với học vị giáo sư có nhiều cuộc phỏng vấn trên các “mõ làng”, ngày 5-12-2012 đã phát biểu trên trang mạng BBC Việt ngữ rằng

“Càng ca ngợi cái gọi là “tình hữu nghị” càng biểu tỏ sự lúng túng trong đối sách, hơn nữa, đó chính là sự xúc phạm tinh thần dân tộc, làm cho người dân không hiểu thực chất thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam là thế nào.” và

“Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng hiểu điều này. Họ phải tìm cách gỡ thế bí vì lợi ích của dân tộc. Nếu đặt Tổ quốc lên trên hết, họ sẽ gỡ ra được. Nếu không, họ quay lại đối lập với dân, sợ dân biểu tình chống Trung Quốc lại quay ra chống mình.”?
Là người Việt Nam sống xa tổ quốc chúng tôi luôn theo dõi những biến động về chính trị, an ninh, kinh tế đối với quê hương, gần đây, trước những vấn đề nhạy cảm và phức tạp liên quan đến lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, lòng yêu nước và ý thức dân tộc trỗi dậy mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước. Một số “nhân sĩ, trí thức” đã kiến nghị nhà nước cho phép “biểu tình chống Trung Quốc”. Song các thế lực thù địch với Việt Nam và những phần tử chống cộng cực đoan ở hải ngoại nhất là tại Hoa Kỳ ra sức lợi dụng, kích động lôi kéo quần chúng “tham gia biểu tình để biểu thị lòng yêu nước”, vu cáo Nhà nước Việt Nam “thỏa hiệp”, truyền bá về sự đối lập “lòng yêu nước của quần chúng” với “lòng yêu nước của lãnh đạo”, mà thực chất là nhằm làm rạn vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động hằn thù, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước láng giềng, v.v.Trên thực tế cũng có một bộ phận người dân chân chính tham gia vào các hoạt động này với mong muốn thể hiện tình cảm, thái độ của mình đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy những người “đầu tàu” nhất trong việc kích động, kêu gọi và trực tiếp tham gia tuần hành, biểu tình đều là những nhân vật có những “tỳ vết” và bất mãn lý do cá nhân trong quá khứ . Họ luôn “thể hiện” ,”đánh bóng” tên tuổi khi cơ hội đến ,những nhân vật này khi họ luôn được một số trang mạng xã hội trong và ngoài nước tung hô, ca ngợi kiểu “đi tàu bay giấy”. Vì vậy chúng ta thật dễ hiểu khi họ luôn cho rằng, chỉ có những người tham gia biểu tình, tuần hành là những người có lòng yêu nước. Và trong thực tế, trên các trang mạng họ đã ra sức phỉ báng những người không “xuống đường” giống họ là hèn, là phản bội Tổ quốc. Với cách suy nghĩ như họ thì hóa ra 90 triệu người dân Việt Nam và gần 4 triệu người Việt ở hải ngoại không “xuống đường” cùng họ là không yêu nước? Sự ngộ nhận ấu trĩ đó khiến cho nhiều người dân yêu nước chân chính bị lôi kéo tham gia vào các hoạt động này đã nhanh chóng nhận ra bộ mặt thật của những người này

Theo tôi thì thực tế những gì đã và đang diễn ra trên thế giới cho thấy rằng, một quốc gia dân tộc sẽ mất ổn định về chính trị ,xung đột nội bộ xảy ra và lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng nếu bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan. Giáosư Michio Kaku đã có lý khi cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô là do “không có người cầm lái, không có một cương lĩnh hay một hệ tư tưởng chỉ đạo ngoài chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa bè phái …”

Thể hiện lòng yêu nước phải bắt đầu từ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc xây dựng, phát triển một nền kinh tế quốc dân hùng mạnh, giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc giàu bản sắc nhân văn, từ nền tảng, tinh thần yêu nước phải được nuôi dưỡng trên cái nền tảng văn hóa dân tộc và nền kinh tế vững chắc như cha ông ta thường nói “có thực mới vực được đạo”.
Bên cạnh đó, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi một số đối tượng bị kích động, lôi kéo, tập hợp tham gia các hoạt động này là người có những “vướng mắc” với chính quyền, với pháp luật . Tuần hành, biểu tình phản đối Trung Quốc chỉ là hình thức bên ngoài, còn thực chất bên trong là tạo ra những hoạt động tập hợp lực lượng đòi hỏi những điều như “dân chủ, nhân quyền…”chống phá chế độ, gây mất ổn định về đời sống chính trị được bọn phản động lưu vong giật dây. Chính vì vậy ta nhận diện không khó khi xâu chuỗi các sự kiện xảy ra từ cách “bày binh bố trận” cho đến kết quả cuối cùng là “lên án chế độ”. Hùa theo là một số cơ quan truyền thông “Mõ làng” cùng các diễn đàn CCCĐ ở hải ngoại đều cố đua nhau đưa tin kiểu xào nấu, thêm bớt và kèm theo là các gia vị “khách mời”, “bình luận gia” “phân tích, đánh giá” mang gam màu chủ đạo là kích động chống phá đất nước.Lòng yêu nước chân chính trên tinh thần yêu chuộng hòa bình, sự tôn trọng lẫn nhau dựa trên các giá trị mang tính chuẩn mực quốc tế sẽ giúp mỗi quốc gia, mỗi dân tộc giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời bảo đảm hòa bình và sự hưng thịnh của các quốc gia và của toàn nhân loại trong một thế giới toàn cầu hóa

Chính nhân tố đại đoàn kết dân tộc là hạt nhân tư tưởng, là cội nguồn sức mạnh trường tồn dân tộc và bản sắc riêng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam . Đây là chiếc nỏ thần bách chiến bách thắng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta . Một đất nước không thể mạnh lên nếu chúng ta không thuận theo xu thế của thời đại. Ở vào những thời điểm đầy thách thức, mỗi người dân cần thể hiện lòng yêu nước của mình bằng những công việc, hành động cụ thể nhằm góp phần xây dựng quốc gia hưng thịnh. Muốn vậy phải phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hơn 90 triệu người Việt Nam chung sức đồng lòng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời tỉnh táo, linh hoạt nhưng kiên quyết gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở những bằng chứng lịch sử, pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng không cho phép bất cứ cá nhân, thế lực nào lợi dụng để hành động đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, lợi ích của đất nước, phá hoại những thành quả cách mạng đã được các thế hệ cha ông dày công vun đắp bằng cả mồ hôi và xương máu. Đúng vậy ! Yêu nước luôn gắn liền với xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Hiểu rõ về kế sách “dĩ bất biến ứng vạn biến” kiên trì với chiến lược hòa bình của người Việt Nam trong việc giải quyết mọi tranh chấp quốc tế, kế thừa và thực hiện sáng tạo tư tưởng của cha ông “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo” để “mở nền thái bình muôn thuở” không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn vì hòa bình, ổn định, hợp tác và cùng phát triển trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.Trên bất kỳ phương diện nào, thời kỳ lịch sử nào thì lòng yêu nước phải là một giá trị văn hóa sâu sắc, phù hợp với đạo lý, văn minh chứ không thể là sự ngộ nhận, lạm dụng để đánh bóng tên tuổi hoặc bị lợi dụng.
Hoa kỳ 28-12-2012
Amari Tx
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Đám ma trơi VHRN trên đất Mỹ

Ba “nữ lưu”: Phạm Thanh Nghiêm ,Tạ Phong Tần ,Huỳnh Thục Vy
Vào thập niên 90 của thế kỷ trước cộng đồng người Việt định cư tại Hoa Kỳ đã chứng kiến sự ra đời của nhiều tổ chức hội, đoàn được núp dưới chiêu bài chống cộng , có tổ chức tập hợp thành lực lượng vũ trang lén lút về Việt Nam khủng bố , có tổ chức chỉ có một mạng cũng đứng ra hô hào “giải phóng quê hương” ? cái đích cuối cùng của các tổ chức cá nhân này là móc hầu bao của những người nhẹ dạ cả tin trong cộng đồng. Thật thế ! “nghề làm chính trị” quá dễ ăn, đã có rất nhiều băng, đảng, cá nhân giàu lên từ nghề này. Nó giống như nấm độc mọc rộ lên sau cơn mưa nhưng cũng tàn lụi ngay sau đó , nhưng cũng có những băng đảng, tổ chức được che đậy một cách mưu mô xảo quyệt hòng che mắt mọi người với những danh xưng mang tính “thời thượng” tiêu biểu là tổ chức mang danh cái được gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt nam” (tên tiếng Anh là Vietnam Human Rights Network – viết tắt là VHRN).

Tháng 11-1997, một nhóm người Việt trên đất Mỹ do Nguyễn Thanh Trang, Lê Minh Nguyên, Ngô Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lâm Thu Vân, Nguyễn Thị Hồng Liên, Nguyễn Quốc Khải, Đoàn Việt Trung v.v… cầm đầu đã tổ chức “hội nghị quốc tế” tại thành phố Santa Ana, thuộc quận Orange County bang California, Mỹ công bố thành lập “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”.Từ sau sự kiện khủng bố  ngày 11/9/2001”, tại Mỹ, tổ chức này nhận thấy phương thức vũ trang, khủng bố, bạo loạn lật đổ mà các nhóm chống cộng lưu vong người Việt, như “Việt Tân”, “Chính phủ Việt Nam tự do”, “Dân chủ nhân dân”, “Nhân dân hành động” v.v… sử dụng chống phá Nhà nước Việt Nam đã thất bại thảm hại khi bị lực lượng an ninh Việt Nam tiêu diệt từ khi đặt chân về nước và bị dư luận quốc tế lên án, nên cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã “điều chỉnh” phương thức hoạt động nếu không trước sau cũng nối gót các tổ chức “đàn anh”. Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đang là mốt thịnh hành trên thế giới. Để lừa bịp dư luận tại “đại hội ”, số đối tượng cầm đầu đề ra mục tiêu của VHRN là nhằm “gia tăng có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.? Sau khi ra đời, VHRN tìm mọi cách để phô trương, đánh bóng hòng gây thanh thế trong cộng đồng cũng là chiêu bài đè các đối thủ khác. Một trong những cách đó là mập mờ đánh lận con đen về danh xưng nhằm tạo cho cộng đồng người Việt hải ngoại tin rằng VNHR là một tổ chức “ngoại vi” của HRW (Human Right Watch – Tổ chức quan sát nhân quyền Liên Hiệp Quốc). Bản chất nô lệ đã ăn sâu vào não bộ của hạng người này, làm bất cứ chuyện gì phải kéo theo bằng được cá nhân hoặc tổ chức ngoại quốc vào để tăng thêm phần “tự tin”. Thật đúng với câu “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” VHRN đồng thời bắt tay với những nhóm người Việt chống cộng cực đoan khác như : “Báo tự do ngôn luận”, “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam”, “Tiếng dân kêu cứu”, “Diễn đàn dân chủ”, “Tập hợp Thanh niên dân chủ” “nhóm Thông luận” ,“Mạng ý kiến”, “Thông điệp xanh”, “Cánh én”, “Đàn chim Việt”, “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường”, “Liên minh Việt Nam tự do” (tổ chức ngoại vi của tổ chức khủng bố “Việt Tân”), “Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ” ,”Ủy ban cứu người vượt biển”, “Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam”, “Diễn đàn dân chủ liên minh Việt Nam”..vv…Qua hành động này, bộ mặt thật của “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã lộ rõ tổ chức này mục đích lập ra là để chống phá Việt Nam. Điểm mặt “nhân sự” gồm những kẻ đã có thâm niên chống phá xuyên tạc, v khống về Việt Nam như: Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Chí Thiện. Ngoài ra, VHRN còn móc nối quan hệ với một số tổ chức phi chính phủ đã có những hoạt động vu cáo, xuyên tạc chống phá Nhà nước Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền” – như: tổ chức “Ân xá quốc tế” (Amnesty International – AI), “Quan sát nhân quyền” (Human Rights Watch – HRW), “Nhà báo không biên giới” (Reporters Sans Frontieres – RSF), “Ủy ban bảo vệ ký giả” (Committee to Protect Journalists – CPJ)…
Từ khi thành lập đến nay, VHRN đã ra “Bản tin nhân quyền” phối hợp với các tổ chức chống cộng phản động lưu vong người Việt khác tổ chức “Ngày nhân quyền quốc tế” hàng năm tập hợp “những tiếng nói quốc nội đòi nhân quyền” để phổ biến ở Việt Nam và ở nước ngoài trao “giải thưởng nhân quyền” hàng năm hoặc trợ giúp về tài chính cho các “nhà hoạt động “xuất sắc” về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam bị ngược đãi”….? một trong những hành động bỉ ổi nhất của tổ chức VHRN là ngày 17/8/2009 đã gửi “thư thỉnh cầu” Tổng thống Mỹ Obama chỉ thị cho Bộ Ngoại giao đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC” với luận điệu xuyên tạc “Chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, gia tăng kìm kẹp báo chí, cản trở tự do thông tin và trấn áp hàng chục người bất đồng chính kiến gây bất lợi cho cuộc đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam…”? Đây là mưu đồ đen tối với cái đích chúng nhằm đến là để khuếch trương thanh thế tổ chức nhằn đánh động cho chính quyền Mỹ biết có sự “hiện diện” của tổ chức này.
Đến nay, VHRN đã qua 10 kỳ “đại hội”. “Đại hội” gần đây, bộ sậu cao nhất của VHRN là “Ban phối hợp”, được “đại hội” bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm. Nhiệm kỳ 2011-2013 gồm có Nguyễn bá Tùng- Nguyễn thanh Trang-Lê minh Nguyên- lâm thu vân-Nguyễn thị hồng Liên-Nguyễn mậu Trinh-Đoàn việt Trung- Đoàn thanh Liêm- Nguyễn kim Bình và ban “cố vấn” gồm có – Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Trần Thanh Hiệp,  Đoàn Viết Hoạt, Bà Jackie Bông Wright, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Hữu Thống, Nguyễn Văn Trần, Lâm Lễ Trinh. VHRN đã ra cái gọi là “nghị quyết” kêu gọi Việt Nam trả tự do cho các “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền đang bị giam cầm”, gia tăng các hoạt động phối hợp hành động hỗ trợ cho cuộc đấu tranh “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam, tăng giá trị “giải thưởng nhân quyền” hàng năm lên vài ngàn đôla Mỹ để “khích lệ” và “hỗ trợ kinh phí” cho các đối tượng phá rối trong nước.
Từ 2002 đến nay, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” trao “giải thưởng nhân quyền” theo kiểu “xếp hàng” mà bà con người Việt tại Hoa Kỳ gọi là “giải nhận tiền”, lần lượt trao cho nhiều phần tử chống đối,hô hào lật đổ chính quyền ở Việt Nam như: Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Phạm Hồng Sơn, Phạm Quế Dương, Nguyễn Đan Quế, Phan Văn Lợi, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Đoàn Huy Chương, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Anh Kim, Đỗ Minh Hạnh, Hoàng Minh Chính…Ngày 3-11-2012, VHRN ra thông cáo báo chí trao giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2012 cho ba “nữ lưu” ở quốc nội….Giải thưởng nhân quyền Việt Nam trao hàng năm cho những kẻ mù quáng có “thành tích” theo tiêu chí của VHRN đề ra là “chống đối, xuyên tạc, vu khống, kích động bạo loạn, bôi nhọ chính quyền Việt Nam” mỗi kẻ được trao giải sẽ được 3.000 đôla Mỹ. Năm 2012, VHRN loan tin về lễ trao giải nhân quyền Việt Nam diễn ra tại thành phố Montreal, Canada ngày 9-12-2012.
Ba “nữ lưu” đó là: Phạm Thanh Nghiêm (37 tuổi, quê Hải Phòng), Tạ Phong Tần (44 tuổi, quê Bạc Liêu) và Huỳnh Thục Vy (27 tuổi, quê Quảng Nam) luôn được các “mõ làng” như VOA,BBC,RFA,RFI…và các trang mạng điện tử tiếng Việt của các nhóm phản động lưu vong người Việt ở Mỹ, Canada đánh bóng,bơm, thổi, tâng bốc do dám “đối đầu” chống chính quyền Việt Nam? Tạ Phong Tần , Phạm Thanh Nghiêm,Huỳnh Thục Vy đều là những con rối để cho các tổ chức chống Việt Nam lợi dụng biến thành kẻ phản phúc đối với dân tộc, những kẻ này được dựng lên như”bù nhìn canh dưa” trên mảnh đất “dân chủ, nhân quyền” cho kẻ khác như VHRN trục lợi . Phạm Thanh Nghiêm và Tạ Phong Tần đều bị tòa kết tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tạ Phong Tần vừa bị Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh kết án 10 năm tù hôm 24-9-2012. Phạm Thanh Nghiêm bị Tòa án nhân dân TP.Hải Phòng kết án bốn năm tù ngày 21-1-2009 và đã chấp hành xong án phạt tù. Huỳnh Thục Vy được biết đến với “công trạng” chống và bôi nhọ chính quyền trên mạng Internet và kích động biểu tình ở TP.Hồ Chí Minh. Huỳnh Thục Vy đã nhiều lần bị cơ quan bảo vệ pháp luật triệu tập, tạm giữ.
Ta hãy nghe ông trưởng “Ban Phối Hợp MLNQVN”  Nguyễn Bá Tùng  Trả lời phỏng vấn “mõ làng RFA ngày 4 -11-2012 : “vấn đề dùng nhân quyền như là sức mạnh, áp lực trong vấn đề ngoại giao là khó khăn đối với các chính phủ. hiện nay có ít chính quyền xem vấn đề nhân quyền như là sách lược chính của vấn đề ngoại giao ,do đó chúng tôi ‘quay đến’ với những tổ chức phi chính phủ như Human Rights Watch, Tổ chức Ân Xá Quốc Tế… Cho đến nay Mạng Lưới Nhân quyền Việt Nam đã thiết lập những mối liên lạc rất chặt chẽ với những tổ chức đó”. Như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy rằng VHRN chỉ là loại “theo đóm ăn tàn” dựa hơi, hùa theo kiểu “té nước theo mưa” chứ hoàn toàn không phải là một tổ chức độc lập phản ảnh đúng những gì về Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền”. Còn khi nói về “giải nhận tiền” mà VHRN chi ra cho các cá nhân “đoạt giải” thì ông Nguyễn Bá Tùng nói: “những gia đình nhận được giải họ ‘lên tinh thần’”,Và đối với những người khác thấy đó là ‘an ủi’ cho những nhà đấu tranh “?. Vậy là những kẻ được VHRN “tôn vinh” chỉ là những kẻ vì một chút vật chất nhỏ bé mà đã đi ngược lại lợi ích của dân tộc chứ làm gì có lý tưởng cống hiến dám hy sinh cả cuộc đời mình cho lợi ích dân tộc, có tiền thì “lên tinh thần” không có tiền thì “xuống tinh thần”? thật đúng là những kẻ mù quáng, hạ đẳng về nhân cách . Còn nhận xét của bà con cộng đồng người Việt ở hải ngoại thì đây hành động của những kẻ “nối giáo cho giặc”,”rước voi về dày mả tổ” của những kẻ chống cộng cực đoan chống lại quê hương, đất nước một cách mù quáng . Việc VHRN lợi dụng và khai thác chiêu bài “bảo vệ nhân quyền” thông qua trao “giải thưởng nhân quyền Việt Nam” cho những kẻ chống đối, gây rối ở trong nước chỉ là màn hài kịch chính trị vụng về của những kẻ trong cái tổ chức MLNQVN ở hải ngoại. Một điều chắc chắn rằng: giống như số phận của các nhóm phản động cực đoan người Việt khác ở hải ngoại,với chiêu bài chống phá Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền” của tổ chức VHRN sẽ thật bại thảm hại khi mà chân tướng của họ bị bóc trần với kiểu kiếm tiền “nhận mười, nhả một” trơ trẽn này đã trở nên lỗi thời và không thể lừa mị được bà con trong cộng đồng người Việt chân chính ở hải ngoại.
AMARI TX
Hoa Kỳ 18-12-2012
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

CPJ đi ngược lại tiêu chí “khách quan, tôn trọng sự thật”

Bài được đăng trên báo nhân dân
Cập nhật lúc     22:38, Thứ hai, 17/12/2012 (GMT+7)
Như đã thành lệ, vài năm gần đây, hễ đến ngày Nhân quyền quốc tế (10-12-2012) là website của các cơ quan truyền thông như BBC, RFA, RFI, VOA… lại mở chiến dịch vu cáo Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Và như là hành động “theo đóm ăn tàn”, trong chiến dịch này còn thấy sự hùa theo của một số tổ chức quốc tế vốn thiếu thiện chí với Việt Nam. Ðặc biệt, qua cái gọi là “phúc trình” về tình hình tự do báo chí và tình trạng đàn áp ký giả diễn ra trên thế giới, Ủy ban bảo vệ nhà báo đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc tình hình báo chí, nhất là hoạt động internet, blog ở Việt Nam. Từ nước Mỹ, tác giả Amari TX đã gửi tới Báo Nhân Dân bài viết về sự kiện này, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Ngày 14-12-2012 “mõ làng” VOA việt ngữ đã có cuộc phỏng vấn ông Shawn Crispin – đại diện cấp cao của CPJ (Ủy ban bảo vệ nhà báo) ở Ðông – Nam Á. Ông này cũng chính là tác giả “phúc trình” về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Theo cái gọi là “phúc trình” đó, CPJ xếp Việt Nam vào nhóm các nước mà họ gọi là “tấn công, đàn áp báo giới”, kèm theo là một số kết luận có tính vu khống, như: “đàn áp nhiều ký giả, những người viết nhật ký trên mạng (tức blogger)”, “vô cớ bắt giam một số phóng viên”, “ngăn chặn mọi trang web và các tài liệu trên mạng”!? Theo ý kiến của tôi, đây là những đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan và có tính định kiến về tình hình báo chí, cũng như hoạt động của các nhà báo Việt Nam.

Như chúng ta đã biết, cùng với nghĩa vụ khi tham gia ký kết các công ước quốc tế, mỗi quốc gia đều có các quy định về hành nghề báo chí, hoặc dưới dạng đạo luật của quốc gia, hoặc các quy chế hoạt động do tổ chức nghề nghiệp đưa ra. Những quy định này luôn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội và chính trị của quốc gia đó. Trên thế giới hiện nay, hầu hết các quốc gia thể chế hóa quyền tự do thông tin và đưa thông tin qua những văn bản mang tính chất pháp lý cao nhất (hiến pháp) và văn bản luật thành văn, trong đó có Việt Nam. Một số quốc gia đưa các chế định về bảo vệ nhà báo, nghề báo vào trong Bộ luật Hình sự. Luật Báo chí của Việt Nam cũng khẳng định quyền của nhà báo khi thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp lợi ích đất nước và nhân dân, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Vì thế, việc Nhà nước Việt Nam quản lý báo chí bằng luật, hoàn toàn không phải là sự cản trở quyền tự do báo chí của người dân, cũng như hoạt động báo chí của các nhà báo.

Việc CPJ và một số phương tiện truyền thông kiểu “mõ làng” phương Tây cố tình thêu dệt bức tranh “u ám” về báo chí ở Việt Nam, một lần nữa thể hiện sự thiếu thiện chí và định kiến của họ về sự phát triển của báo chí Việt Nam. Chẳng lẽ các vị ở CPJ lại không biết hay cố tình “quên” những con số thống kê ở Việt Nam như: hơn 550 cơ quan báo chí, hơn 19 nghìn hội viên Hội Nhà báo, hơn 700 ấn phẩm báo chí với các loại hình từ báo viết, báo nói, báo hình đến internet, và hiện nay, mỗi người dân được thụ hưởng tới 7,5 tờ báo. Ðặc biệt, cần nhấn mạnh rằng, sự phát triển nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu được thông tin không gặp bất cứ một sự trở ngại nào, đó chính là biểu hiện sinh động của tự do báo chí ở Việt Nam, thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người dân. Nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động vì sự phát triển phồn vinh của đất nước, Luật Báo chí Việt Nam đã khẳng định, báo chí không chỉ phản ánh trung thực tình hình phát triển của đất nước, thế giới, mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân. Trong khi đó, trong môi trường bùng nổ thông tin như hiện nay, không phải mọi nguồn thông tin về những sự kiện quan trọng của xã hội đều là chính xác, nhất là lối “chụp giật” chưa kiểm chứng đã vội vàng đưa tin. Mới đây, Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử các bị cáo là blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần với tội danh “tuyên tryền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo khoản 2 Ðiều 88 của Bộ luật Hình sự chẳng hạn. Theo cáo trạng, trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010, những người chủ trương cái gọi là “câu lạc bộ nhà báo tự do” này đăng tải 327 bài lấy từ các blog, website của các tổ chức “chống cộng cực đoan” ở hải ngoại, có 26 bài chứa nội dung kích động lật đổ chế độ. Hiển nhiên, việc viết bài trên blog, mạng xã hội có nội dung xuyên tạc vu cáo, chống chính quyền là vi phạm luật pháp Việt Nam, và họ bị pháp luật xét xử. Theo dõi trên báo chí, được biết, qua tài liệu của cơ quan điều tra, các nhân vật mà CPJ đề cập đã có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia; họ hành động có tổ chức, có phân công nhiệm vụ cụ thể, thậm chí có sự cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Họ tàng trữ, tán phát tài liệu có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước Việt Nam rồi đưa lên internet nhằm kích động, gây nghi ngờ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước.

Ngay tại nước Mỹ, nơi được mệnh danh là “thiên đường tự do”, thì luật pháp của các tiểu bang quy định rất rõ về vấn đề này và đã không ít người đã bị bắt và xử lý. Ở Việt Nam, số người dùng mạng xã hội đang tăng lên nhanh chóng. Theo thống kê mới nhất, trong số đối tượng 18 tuổi trở lên có tài khoản mạng xã hội thì: 43% dân số có một tài khoản, 25% có hai tài khoản, 13% có bốn tài khoản trở lên. Theo số liệu từ DoubleClick Ad Planner, trong tháng 1-2012, lượng người dùng internet tại Việt Nam là 23 triệu (chiếm26% dân số), lượt xem là 18,4 tỷ. Về mạng xã hội ở Việt Nam, Zing Me (me.zing.vn) có lượng người dùng cao nhất (8,2 triệu), thời gian truy cập nhiều nhất (1 tỷ phút), lượt xem 540 triệu; thứ hai là Facebook với 5,6 triệu người dùng, thứ ba là yume.vn (2,2 triệu người dùng), thứ tư là tamtay.vn (1 triệu người dùng). Theo Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông – Việt Nam), công cụ tìm kiếm và mạng xã hội là hai dịch vụ được hàng chục triệu người dùng internet sử dụng rộng rãi nhất (100% sử dụng tìm kiếm, 80% sử dụng mạng xã hội). Tính đến tháng 3-2012, trong lĩnh vực thông tin điện tử, Việt Nam có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp. Sự tương tác giữa các loại hình thông tin này đang diễn ra vô cùng sôi động. Ðương nhiên, dù ở Việt Nam hay ở quốc gia khác trên thế giới, việc thông tin trên internet đều phải tuân thủ các quy định, nguyên tắc cụ thể, các thông tin đăng tải phải bảo đảm tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thóa mạ cá nhân và tổ chức là phạm pháp và đương nhiên người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Chẳng lẽ các vị ở CPJ lại không biết, mặc dù Hoa Kỳ không có một bộ thông tin, các hệ thống truyền thông và truyền hình tư chủ động làm công việc trên căn bản tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, theo mức độ tự kiểm, lương tâm nghề nghiệp. Người làm báo, truyền thông và truyền hình tại Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới khi có nhiều quyền hành và thế lợi thì cũng có nhiều trách nhiệm và bổn phận, nhất là về nghề nghiệp trọng hiến pháp, trọng pháp luật và về luân lý xã hội, tôn trọng công lý, lẽ phải và lý tưởng nhân đạo. Do đó, thế lực của báo chí truyền thông còn phải tương xứng với sứ mạng đăng tải tin tức xác thực, thông tin kiến thức và phổ biến những điều cần biết để người dân tìm hiểu, chọn lựa thái độ liên hệ. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, báo chí phải tuân theo hiến pháp và luật pháp hiện hành quy định tự do tin tức (Freedom of Information Act) để thi hành nghiệp vụ phóng sự, điều tra, phổ biến sự thật. Khi báo chí đưa tin tức thất thiệt với dụng ý khai thác, trục lợi sẽ mất quyền tự do ngôn luận (unprotected speech), sẽ bị chế tài; tòa soạn, phóng viên, và người đăng tin thất thiệt có thể bị liên đới về mặt trách nhiệm dân sự, nếu họ chủ tâm đăng tải hoặc tái đăng tin tức có tính cách mạ lỵ, phỉ báng, sai sự thật. Vì thế nhà báo cần thận trọng kiểm soát bài vở đăng tải, phải kiểm chứng tài liệu và nguồn gốc tin tức sử dụng.

Ngày nay ai cũng biết, internet chứa đựng vô số thông tin, có thể là thông tin hay, chính xác, có giá trị, nhưng cũng có thể là tin “rác”, hoặc chỉ là thông tin thất thiệt, thiếu kiểm chứng. Với Việt Nam, trong số đó có cả loại thông tin của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Nếu không tôn trọng hiến pháp, nếu không bênh vực, hướng tới tinh thần dân chủ và lý tưởng nhân đạo, báo chí sẽ đi ngược công lý và lẽ phải, sẽ lầm lẫn, gây ảnh hưởng xấu với quần chúng. Trên thực tế, bên cạnh một số trang mạng xã hội đã được cấp phép ở Việt Nam, các thế lực thù địch còn lợi dụng internet để xây dựng rất nhiều website, đặt máy chủ ở nước ngoài, đăng tải các thông tin, luận điệu phản động, sai trái, kích động, trái thuần phong mỹ tục,… nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Những thế lực này, với tư cách thành viên của các trang mạng xã hội, đã đưa lên mạng những bình luận thiếu khách quan hoặc thông tin sai sự thật, thậm chí bịa đặt, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, bôi nhọ hình ảnh, nói xấu chế độ.

Ở Hoa Kỳ, dù báo chí được mệnh danh là “đệ tứ quyền” (đứng sau lập pháp, hành pháp, tư pháp), song dù hoạt động dưới bất cứ hình thức nào, bất cứ ở đâu, do bất cứ lực lượng nào đảm trách thi hành thì “đệ tứ quyền” vẫn cần tôn trọng những tiêu chuẩn căn bản về tự do ngôn luận, phẩm giá nhân bản, công lý và nhân ái. Bởi vậy để hạn chế những thông tin xấu và tiêu cực, không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng cần có biện pháp để ngăn chặn. Ðiều này thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo vệ chế độ, bảo vệ các giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc. Phóng viên đưa tin sai sự thật, có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Luật Báo chí, thì phải chịu hình phạt của luật pháp. Ðó là việc làm thể hiện tính nghiêm minh của Nhà nước pháp quyền và sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam, điều đó hoàn toàn không phải là cản trở hoạt động báo chí của các nhà báo. Việc CPJ phê phán các biện pháp chính đáng và cần thiết đó là hoàn toàn sai trái, nếu không nói là tiếp tay cho cái xấu. Vì thế, cần khẳng định, với lời lẽ vu cáo và xuyên tạc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, CPJ đã đi ngược lại tiêu chí “khách quan, tôn trọng sự thật” vì sự phát triển của báo chí của Việt Nam cũng như của các nước trên thế giới.

    AMARI TX   Hoa Kỳ, 16-12-2012
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Quyền con người và giá trị truyền thống dân tộc

Là một người con Việt sống xa quê hương chúng tôi luôn dõi theo từng bước chuyển mình của đất nước, qua các phương tiện truyền thông tôi được biết ngày 18-11-2012 Các nhà lãnh đạo thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á( ASEAN) đã kết thúc cuộc thảo luận về bản “Tuyên bố nhân quyền ASEAN(AHRD). Đây là một tin vui khi Việt Nam hòa nhập góp phần xây dựng hợp tác nhân quyền ở khu vực trong tiến trình xây dựng cộng đồng ASE.

Văn bản tuyên bố chung về nhân quyền của các nước ASEAN trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Phnom Penh campuchia vào ngày 18 tháng 11 năm 2012 với sự chấp thuận và ký kết của lãnh đạo 10 nước thành viên ASEAN. Đây là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực.

Tuyên bố nhân quyền ASEAN bao gồm 07 phần với 40 Điều , khẳng định mọi công dân ASEAN có 4 nhóm quyền căn bản về dân sự,chính trị(14 quyền)- kinh tế ,xã hội, văn hóa(8 quyền) , quyền phát triển, và quyền hưởng hòa bình Các quyền này được xây dựng trên những nguyên tắc căn bản là bình đẳng, tôn trọng đặc thù khu vực và sự đa dạng của mỗi quốc gia..
“Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền” (trích đoạn mở đầu của Tuyên bố)

Khẳng định lại các mục đích, nguyên tắc trong hiến chương ASEAN, nhấn mạnh cam kết đối với Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR), hiến chương liên hợp quốc…. Tuyên bố này sẽ góp phần xây dựng khuôn khổ hợp tác nhân quyền ở khu vực và đóng góp vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.Trong phần Các Nguyên tắc chung, Tuyên ngôn nhấn mạnh: “Việc hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được cân bằng với việc thực hiện các nghĩa vụ tương ứng”; “Việc thực hiện các quyền con người phải được xem xét trong bối cảnh khu vực và quốc gia dựa trên sự thừa nhận sự khác nhau về chính trị, kinh tế, pháp lý, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo”; “Việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản phải chịu những giới hạn theo quy định của pháp luật chỉ nhằm mục đích bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của người khác và để đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia, trật tự công cộng”.

Tuyên bố này là là văn kiện chính trị đầu tiên phác thảo khuôn khổ tăng cường hợp tác và bảo vệ nhân quyền ở khu vực Đông Nam Á và được các nhà lãnh đạo của 10 nước ASEAN đã tán dương bản Tuyên Bố Nhân Quyền như một thỏa thuận lịch sử giúp bảo vệ 600 triệu người dân trong khu vực này và việc thông qua AHRD khẳng định ASEAN luôn cam kết tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của 600 triệu công dân trong khối này. Theo các nhà lãnh đạo ASEAN thì tuyên bố này đã thể hiện những ý nghĩa quan trọng và sâu sắc, cụ thể như sau:
-Thể hiện nguyện vọng, quyết tâm và nỗ lực trong việc xây dựng một Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân đồng thời khẳng định cam kết của ASEAN tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của con người cũng như phấn đấu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân khu vực như đã nêu trong Hiến chương ASEAN -Thể hiện cam kết của ASEAN trong việc thúc đẩy thực hiện Tuyên bố Nhân quyền ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trong hiến chương liên hợp quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Tuyên bố và chương trình hành động Viên và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác đã tham gia.- khẳng định lại các giá trị nhân quyền chung, đi đôi với coi trọng các giá trị và đặc thù của ASEAN và các quốc gia trong khu vực, quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng, đóng góp vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.

Tổng thư ký ASEAN ông Surin Pitsuwan đã ca ngợi thỏa thuận “Tôi nghĩ đây là một diễn biến trọng đại các nhà lãnh đạo vừa ký tên trong một bản tuyên ngôn, cam kết chính họ, mỗi chính phủ, mỗi quốc gia sẽ theo đuổi các chuẩn mực cao nhất, đang có hiện nay và đang có hiệu lực. Và chắc chắn văn bản này có thể được sử dụng để giám sát cách hành xử, bảo vệ và phát huy nhân quyền tại khu vực, trong các nước thuộc khối ASEAN.”

Về mặt pháp lý, Tuyên bố Nhân quyền là văn kiện không mang tính ràng buộc pháp lý, nó chỉ thể hiện nỗ lực cũng như sự đồng thuận của các nhà lãnh đạo ASEAN trong việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của người dân ASEAN, cũng như ngăn ngừa các hoạt động “lợi dụng chiêu bài nhân quyền” để chống phá các tổ chức, chính phủ trong khu vực và là lời hứa và cam kết của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ và thúc đẩy tiến bộ nhân quyền. Tuyên bố khẳng định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, và các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, người khuyết tật , người thiểu số và di dân có những quyền và tự do không thể bác bỏ.
Tuyên bố khẳng định mục tiêu tiến gần hơn tới một Cộng đồng kiểu liên minh châu âu trong bối cảnh quốc gia và khu vực và sự khác biệt từ nền tảng về chính trị-xã hội, kinh tế, pháp lý, văn hóa-lịch sử, và tôn giáo nhằm tạo dựng nên một hệ giá trị riêng cho khối để để tiến tới việc nhất thể hóa ASEAN.
Trong dịp công bố văn kiện này, Tiến sĩ Om Yentieng – người chủ trì nhiệm vụ chắp bút Tuyên ngôn nói: “Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN (AHRD) là văn kiện chính trị chứ không phải văn bản pháp luật”… “Tuyên ngôn bày tỏ ý chí và quyết tâm của chính phủ các nước ASEAN trong việc thực hiện nhân quyền của khối”… “Tiếp theo, chính phủ các nước ASEAN sẽ chuẩn bị và ký kết một số Công ước mang tính ràng buộc (về mặt pháp lý) đối với các chính phủ trong việc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của khoảng 600 triệu dân trong khu vực ASEAN”.
Tuy vậy, cũng có một số chỉ trích của các tổ chức nhắm đến tuyên bố này, cho rằng nó vẫn còn mang một số khiếm khuyết nhất định và thậm chí, một số tổ chức nhân quyền phê phán văn bản không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Vấn đề này hiện đang là vấn đề gây tranh luận của một số nước và một vài tổ chức về nhân quyền.Tuyên bố cũng không có tính bắt buộc này kêu gọi chấm dứt các hình thức tra tấn, bắt giữ vô lý cũng như các hình thức xâm phạm nhân quyền khác, một số điều khoản trong tuyên bố này nói nhân quyền có thể bị hạn chế vì những lý do an ninh, trật tự công cộng hoặc đạo đức, những điều khoản như vậy có thể bị lạm dụng để bào chữa cho sự vi phạm nhân quyền. Nó cũng có các điều khoản cho phép chính quyền nói mình không phải thi hành vì hoàn cảnh quốc gia và ngay từ đầu họ đã tạo ra lỗ hổng.

Tuy nhiên đã có những người chỉ trích nói rằng “bản tuyên bố này thiếu sót và sẽ mang lại cho các nước liên hệ lý do để làm ngơ, thay vì bảo vệ” ? và “nhân quyền là các phần trong bản dự thảo trước đây đề nghị rằng các quyền sẽ được cứu xét trong “bối cảnh quốc gia và khu vực”. Ông Phil Robertson thuộc tổ chức hoạt động cho nhân quyền Human Rights Watch có những phát biểu trên VOA Việt ngữ theo tôi đó là nhận định cực đoan và phiến diện ông ta nói :“Quý vị không thể có một ngoại lệ cho quốc gia và khu vực. Quý vị không thể đặt ra hàng loạt trường hợp cá biệt, như đạo đức xã hội chẳng hạn, mà tất cả các luật này sẽ không áp dụng. Tất cả những gì họ làm là đặt ra những kẽ hở và rồi tìm cách trau chuốt chúng.”

Trong phần Các Nguyên tắc chung, Tuyên ngôn đề cập đến sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người theo nguyên tắc tự do, bình đẳng; tất cả các quyền con người là phổ quát, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau, quyền của mọi thành viên được công nhận về pháp lý ở mọi nơi và được xét xử công bằng, đúng pháp luật bởi một tòa án hợp pháp. Trong phần này, Tuyên ngôn nhấn mạnh: “Việc hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được cân bằng với việc thực hiện các nghĩa vụ tương ứng”; “Việc thực hiện các quyền con người phải được xem xét trong bối cảnh khu vực và quốc gia dựa trên sự thừa nhận sự khác nhau về chính trị, kinh tế, pháp lý, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo”; “Việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản phải chịu những giới hạn theo quy định của pháp luật chỉ nhằm mục đích bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của người khác và để đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, an toàn công cộng, đạo đức công cộng, cũng như phúc lợi chung, trong một xã hội dân chủ”.Chúng ta thấy ngay như trong lòng xã hội Mỹ , một xã hội mà họ luôn giao giảng đó là “thiên đường dân chủ” nhưng thực tế có phải đúng như vậy ? Theo tôi nghĩ giữa lời nói và việc làm của họ không song hành. Qua tìm hiểu thì bản thân tôi thấy rằng: cốt lõi nền tảng của khái niệm “nhân quyền” là những giá trị như quyền tự do, giá trị cá nhân và trách nhiệm công dân . Sự trung thành với những giá trị như vậy đang và sẽ tạo điều kiện bảo vệ các quyền cơ bản và tự do của con người. Điều đó nói lên trong những giá trị truyền thống của mỗi quốc gia, Chỉ có như vậy mới có thể làm cho các chuẩn mực này hoạt động hiệu quả . Các nước trong khối ASEAN tham gia qúa trình thảo ra tiêu chí dân chủ đều đo thử khả năng sống theo chuẩn mực mà họ cho là phù hợp. Như vậy, các quốc gia đều có thể tuân theo các chuẩn mực đó và không sợ rằng “ai đó”́ ̉ lợi dụng tiêu chí này để can thiệp vào công việc nội bộ của họ, hoặc dùng thủ đoạn nào đó để gây sức ép vì lợi ích kinh tế và địa chính trị
Theo họ, Tuyên ngôn khẳng định “Việc hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được cân bằng với việc thực hiện các nghĩa vụ tương ứng”; “Việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản phải chịu những giới hạn theo quy định của pháp luật…” là “không phù hợp với chuẩn mực nhân quyền quốc tế”. Thật ra, những nguyên tắc trên đây không phải là sáng tạo của ASEAN. Những nguyên tắc này đã được quy định trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” năm 1966. Trong công ước nói trên, các quyền “tự do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo”; quyền “tự do ngôn luận”; quyền “ hội họp hòa bình”; quyền tự do “lập hội” đều là những quyền bị hạn chế ” vì “an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do của người khác” .
Lập trường của một số nước và một vài tổ chức về nhân quyền họ không ủng hộ Tuyên ngôn Nhân quyền cho khu vực ASEAN, viện dẫn rằng gắn quyền con người với giá trị truyền thống có thể lại thành cái cớ cho tình trạng phân biệt đối xử đối với phụ nữ hay kỳ thị người đồng tính..vv.. tại một số nước. Nhưng ở đây cần phân biệt rõ ràng khái niệm “giá trị truyền thống” và “giá trị thực tế”,trong đó cũng không nên chính trị hóa về nhân quyền.Tỷ dụ như sự khác biệt nào đó về quyền con người giữa các quốc gia đông nam á và Hoa Kỳ là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, con đường khắc phục và rút ngắn khoảng cách khác biệt đó phải dựa trên sự tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, đối thoại chân thành, cởi mở. Mỗi quốc gia, tùy theo những điều kiện của mình, cần có những đóng góp thiết thực vào việc giải quyết những vấn đề nhân quyền cụ thể ở mỗi quốc gia .Tôi có thể khẳng định một điều không nghi ngờ gì rằng: Việt Nam là một nước dân chủ. Ở Việt Nam có nền dân chủ. Nền dân chủ hiện tại của Việt Nam còn có những bất cập và chưa hoàn hảo và trước mắt còn có nhiều việc phải làm. Song, người dân Việt Nam là những người tự do.
Một điều mà tôi nhận thấy, nhà nước Việt Nam đã khẳng định từ ngay những ngày đầu lập nước là : Nhân quyền, hay quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị xóa bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ tổ chức, chính phủ hoặc xã hội nào. Quyền con người là thành quả phát triển của lịch sử lâu dài trong sự nghiệp đấu tranh sinh tồn, đấu tranh giải phóng dân tộc, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên của cả nhân loại. Quyền con người phát triển theo lịch sử của mỗi quốc gia và mang tính đặc thù của từng dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về chế độ chính trị, lịch sử, văn hóa . Phẩm giá, tự do và trách nhiệm là những giá trị truyền thống được toàn thể nhân loại chia sẻ từ lâu đời. Chú trọng mối liên hệ giữa các giá trị truyền thống và nhân quyền hiện đại sẽ cho phép đảm bảo sự thừa nhận toàn vẹn hơn về quyền của mỗi con người, tạo điều kiện hoàn chỉnh nhận thức xã hội, còn trên bình diện chung – sẽ củng cố sự tin cậy và thiết lập đối thoại ở tầm mức cộng đồng quốc tế. Quyền con người trên thế giới là một trong những vấn đề bức xúc nhất và cũng thường bị chính trị hóa. Hiển nhiên, nhận thức đúng đắn về nhân quyền, trong đó có mối liên hệ với những giá trị truyền thống là nội dung quan trọng, mà trước hết sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền pháp lý quốc tế. Và cuối cùng, sẽ dẫn đến khả năng giảm thiểu sự lạm dụng đề tài nhân quyền trong nền chính trị thế giới . Sự nghi ngờ của một số nước và một vài tổ chức nhân quyền là thiếu thuyết phục. Trong “Tuyên bố nhân quyền ASEAN”đã đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của toàn thể các quốc gia phải góp phần thúc đẩy tôn trọng, tuân thủ, bảo vệ tất cả các quyền của con người và tự do căn bản, tương ứng với chuẩn mực pháp lý quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc và các thỏa thuận khác liên quan tới nhân quyền. Và cũng bởi vậy, cần rất cố gắng để phát hiện mối đe dọa đến quyền con người chính từ những ngôn từ đạo đức giả ,nhất là khi phương Tây tự mình làm mất uy tín của tư tưởng tốt đẹp bằng việc thường xuyên can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác dưới cái cớ bảo vệ quyền con người. Theo tôi nghĩ lối tiếp cận của các nước ASEAN chính là một phương cách mới để tăng cường tôn trọng nhân quyền. Nếu tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế đều thừa nhận rằng các quyền lợi nhân văn phản ánh những giá trị truyền thống của nhân loại, vốn đã giúp toàn bộ mọi nền văn minh phát triển, thì sẽ triệt tiêu mâu thuẫn cơ bản giữa các dân tộc và tôn giáo . Tôi có thể lấy một dẫn chứng, như mọi người đều biết Hoa Kỳ đặt quyền của cá nhân cao hơn những quyền khác trong đó có quyền của một số nhóm, chẳng hạn như quyền bình đẳng giữa các tôn giáo thì ở Việt Nam, Nhà nước bảo vệ quyền bình đẳng của mọi tôn giáo. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm bất cứ cá nhân, tổ chức nào xúc phạm tôn giáo. Thực tế cho thấy ở Hoa Kỳ sự xúc phạm tôn giáo, như đối với Hồi giáo chẳng hạn lại được hiểu là “quyền tự do của công dân”. Sự kiện bạo động gần đây ở các quốc gia Hồi giáo chống Mỹ do bộ phim “Phiên tòa xét xử Mohammad”- bộ phim báng bổ đạo Hồi và nhà tiên tri Mô-ha-mét được sản xuất và lưu hành . Nhân quyền là giá trị cao quý, là tài sản chung của nhân loại mà mỗi quốc gia, dân tộc đều có quyền chia sẻ.Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang tồn tại không ít vấn đề nhân quyền, như sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng quan liêu, tham nhũng…. Nhưng giải quyết những vấn đề đó thuộc quyền và trách nhiệm của mỗi quốc gia .Tôi thấy quan điểm của khối ASEAN về quyền con người là rất rõ , quyền của cá nhân gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với người khác, với cộng đồng và xã hội, quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật và gắn liền với sự phát triển của thể chế chính trị . Ngày nay, mức độ bảo đảm quyền con người được xem là thước đo của một chế độ xã hội. Những nỗ lực của khối ASEAN trên lĩnh vực nhân quyền là không thể phủ nhận được.
Hoa Kỳ 14-12-2012
Amari TX
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Kẻ “ma đầu” nhân danh bảo vệ quyền con người !

AMARI TX
Trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại có những nhân vật “hành nghề chính trị” mà khi nhắc đến thì mọi người đều lắc đầu ngán ngẩm với những nhận xét đầy khinh bỉ . Đó là những kẻ cơ hội , trục lợi, trơ trẽn với những việc làm trong quá khứ và hiện tại của họ . Ở đây tôi muốn nói đến một nhân vật thuộc hạng có “máu mặt” đó là Võ văn Ái với hỗn danh là “ma đầu”, hiện đang là chủ tịch cơ sở Quê mẹ và “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” do chính Ái tự phong làm chủ tịch và điều hành. Qua việc theo dõi các thông tin trên báo chí thì tôi được biết vào tháng 3 đầu năm nay, 2012, dưới sự cầm đầu của Võ Văn Ái “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” đã đến Genève vận động can thiệp cho những người mà họ gọi là “những tù nhân chính trị và tù nhân vì lương thức Việt Nam”? Võ văn Ái gặp gỡ “Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ”(WGAD). Theo thủ tục WGAD đã chuyển đạt tin tức cùng hồ sở do Võ văn Ái cung cấp đến chính quyền Việt Nam ngày 15.3.2012. Việt Nam hồi đáp ngày 13.7.2012 bác bỏ mọi luận điểm của hồ sơ, rồi tuyên bố các người bị giam tù do họ vi phạm pháp luật Việt Nam. 29-8-2012 WGAD đã gởi bản Fax đến “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” với nội dung tuyên bố rằng,”Việt Nam vi phạm các điều 9, 19, và 21 của Công ước quốc tế khi giam giữ trái phép ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, và Lê Thăng”. Võ văn Ái vui mừng coi đây là một thành tích mà các “bề trên” ủng hộ, ngày 8-11-2012 vội vàng xuất xưởng với cái gọi là “Thông cáo báo chí” trên nguyệt san Quê mẹ.
Trong nội dung “Thông cáo báo chí” Võ Văn Ái lớn giọng “Phải trả tự do cho những người này và phải chấp nhận đền bù cho họ …”? Ông ta có cái quyền gì mà ra lệnh cho một nhà nước hợp pháp đang lãnh đạo 90 triệu dân ? chỉ có kẻ đầu óc hoang đường mới có những phát ngôn ngông cuồng như vậy.Theo sự tìm hiểu của bản thân tôi về việc thực hiện quyền con người và sự thúc đẩy nó đạt đỉnh thăng hoa nhất đó là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia , mỗi dân tộc. Việt Nam cũng như các quốc gia khác có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế mà đặc biệt là hiến chương liên hợp quốc. Nhưng do hoàn cảnh khác biệt về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người ở mỗi quốc gia có thể khác nhau. Hợp tác đối thoại giữa các quốc gia nhằm mục đích thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu thực tế, cần thiết khách quan chứ không phải là sự quy chụp võ đoán bất chấp thực tế.Thật khó mà kể hết những hoạt động của Võ Văn Ái chống phá đất nước và dân tộc Việt Nam mà đặc biệt là với bà con phật tử và Giáo hội Phật giáo Việt Nam . Võ Văn Ái là tên đầu cơ trục lợi chính trị một cách ma mãnh nhất, ông ta đã không từ một thủ đoạn nào với mục đích duy nhất là đánh bóng tên tuổi và kiếm chác tiền bạc từ các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và của bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một điều lẽ tất nhiên là khi nhận tiền của ngoại bang là phải chấp nhận những điều kiện, những hoạt động phục vụ cho đường lối chính sách của tổ chức đó thì đồng nghĩa với thân phận làm tay sai, điều này thì Võ văn Ái không thể phủ nhận được . Vậy thì những điều mà Võ Văn Ái lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, quyền làm người của dân tộc Việt Nam như ông ta đã cao giọng nhằm phục vụ cho đường lối sách lược nào? cho thế lực ngoại bang hay cho dân tộc Việt Nam? Đúng là con người gian manh , một tên “ma đầu” về chính trị tự khoác lên người tấm áo choàng “bảo vệ quyền làm người” nhưng mục tiêu của ông Ái là làm tay sai để được trả tiền. Những việc làm của Võ văn Ái đã để lại những hậu quả tai hại là Phật giáo Việt Nam bị chia rẽ, rối ren . Đồng thời với hoạt động báo chí, Ái còn lập tổ chức “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” như đã nói, do chính Ái làm chủ tịch và điều hành. Chúng ta thấy Võ văn Ái hay “mở sô” phỏng vấn trên các “mõ làng” như VOA, RFA, RFI… để Ái tự quảng cáo, đánh bóng, phô trương, phóng đại thành tích chống Cộng và tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam hay tự do tôn giáo bằng bất kỳ thủ đoạn nào .Võ Văn Ái chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử chống cộng cực đoan (CCCĐ) lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam. Đối với Võ Văn Ái, thì tất cả người dân trong nước đều là những “nạn nhân” của chế độ cộng sản cầm quyền ,không có “nạn nhân” cũng phải cố tạo, cố nặn ra để được lên tiếng đánh bóng cái mác “bảo vệ quyền làm người” với chức danh chủ tịch tự phong của mình .
Lật lý lịch của Võ Văn Ái, có quốc tịch Pháp, dân tộc Kinh, quê Thừa Thiên – Huế, là Phật tử. Ái là bác sĩ, viết văn, làm thơ, làm báo với các bút danh: Nguyễn Thái, Thi Vũ, Trần Phổ Minh…, và làm con rối chính trị . Là Phật tử, đúng ra ông ta phải có những việc làm ích đời đẹp đạo vậy mà tất cả những việc làm của Võ văn Ái chỉ có duy nhất một niềm đam mê như con thiêu thân là chống lại dân tộc Việt Nam và kiếm tiền. Chỉ đáng tiếc là một số người trong nước không hiểu được dã tâm của những người như Ái họ đã tự nguyện làm vật tế thần, nhằm phục vụ cho mưu đồ đen tối .1978- khi Bernard Kouchner, Chủ tịch tổ chức “Thầy thuốc không biên giới Pháp” dùng con tàu mang tên “Đảo ánh sáng” đi vớt người vượt biển, thì Võ Văn Ái đã tích cực tham gia cổ vũ cho tổ chức này. Ông ta dùng địa chỉ nhà mình làm nơi quyên tiền ủng hộ, và đã thu được hơn 200 triệu frăng (tiền Pháp). Tuy nhiên, số tiền thực tế đến tay “người vượt biển” lại không bao nhiêu, mà chủ yếu Võ Văn Ái tiêu xài cá nhân dưới danh nghĩa chi phí để đi nơi này, nơi kia, tuyên truyền vận động. Nắm được thông tin cụ thể, báo chí Pháp liên tiếp đăng nhiều bài tố cáo khiến kế hoạch “quyên góp” của Võ Văn Ái phải ngưng lại nửa chừng khi bị sở thuế sờ gáy.
Năm 1983 trong khoảng thời gian này đời sống nhân dân trong nước gặp nhiều khó khăn vì bị cấm vận cầm đầu là Hoa Kỳ thì ở hải ngoại mọc lên một số tổ chức chống phá nhà nước Việt Nam, lợi dụng cơ hội đó tổ chức của Hoàng Cơ Minh tiền thân của băng đảng khủng bố Việt Tân với các chiến dịch lừa bịp, hù dọa bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại quyên góp cho “kháng chiến quân” về “giải phóng quê hương” kiếm được rất nhiều tiền. Nắm bắt cơ hội “ngàn vàng” này Võ Văn Ái đẻ ra cái gọi là “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam “Theo tài liệu chính trên www.ned.org thì ông Ái nhận được sự tài trợ của NED, một tổ chức của Mỹ thành lập năm 1983 vào thời Tổng thống Reagan. Về hình thức, những hoạt động của NED không khác với những hoạt động của CIA nhưng được ngụy trang dưới danh nghĩa là tranh đấu của dân chủ. Khi được một thế lực nước ngoài đỡ đầu tài chính, thì ông ta lại càng tích cực gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam một cách điên cuồng . Võ văn Ái đứng ra thành lập “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam” tại Pháp như đã nói ở trên , rồi tự phong cho mình chức chủ tịch. Đồng thời lôi kéo một số người có tư tưởng hận thù chống cộng vào cuộc để khuếch trương và cho ra mắt tập san Quê Mẹ làm phương tiện chống phá Việt Nam mà nội dung không ngoài việc tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tôn giáo.
Ban đầu tập san có nội dung như văn nghệ, văn hóa, chính trị, thơ văn… do chính Ái viết dưới nhiều bút danh khác nhau và vài tác giả khác cộng tác. Quê Mẹ lúc ấy không gây được ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Chỉ đến khi nhận được sự tài trợ của National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức thuộc hạ viện Hoa Kỳ, từ đó Quê Mẹ bắt đầu “bẻ lái đổi hướng” sang mục tiêu chính là chính trị theo ý đồ của tổ chức tài trợ. Từ lập trường mang hơi hướng tinh thần hóa giải của Phật giáo Quê Mẹ chuyển sang lập trường chống Cộng một cách triệt để và cực đoan. Nội dung trọng tâm của tạp chí Quê mẹ là những tin tức liên quan đến “nhân quyền”, vi phạm “tự do tôn giáo” ở VN, sau khi được Võ văn Ái bóp méo xuyên tạc méo hoặc thổi phồng các tin tức này nhằm khuấy động dư luận quốc tế .
Sau đó Võ Văn Ái cho ra đời cái được gọi là “Phòng Thông tin Phật giáo hải ngoại” do Ái tự phong làm giám đốc. Đồng thời rủ rê một số tăng ni để hợp thức hóa thành lập “Văn phòng 2 Viện Hóa đạo” trực thuộc GHPGVNTN(giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất) hải ngoại . Cái “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” chỉ là một nhãn hiệu bịp bợm để lòe thiên hạ có như vậy mới vận động quyên góp tiền bạc của bà con phật tử. Sự thật thì đó chỉ là hang ổ cho ra lò những sản phẩm gọi là “Thông cáo báo chí” “kiến nghị” “điều trần” do Ái nghĩ ra chứa đựng nhiều thông tin bịa đặt đến mức thô thiển để chống Việt Nam chứ không dính dáng gì đến Phật giáo cả . Vì lập ra “Phòng Thông tin Phật giáo quốc tế” nên Võ Văn Ái cần có sự hậu thuẫn, ủng hộ của một số tu sĩ Phật giáo sống tại Việt Nam, đứng đầu là ông Quảng Độ. Giữa năm 2003, Võ Văn Ái sai tay chân của mình về Việt Nam, gặp ông Thích Quảng Độ, rồi đề nghị ông ta nhận lời làm người lãnh đạo GHPGVNTN . Và điều không ngoài dự đoán của nhiều người đối với ông thầy tu nhưng rất khoái chức tước, quyền lực, tháng 10/2003 ông Quảng Độ trao quyền quyết định cho Võ Văn Ái đứng ra tổ chức một đại hội bất thường của “GHPGVNTN hải ngoại” tại Mỹ. Mục đích đại hội này nhằm đưa ông Quảng Độ lên ghế “Tăng thống”. Đổi lại, ông Quảng Độ cho Võ Văn Ái toàn quyền sắp xếp nhân sự của Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo tại hải ngoại, đồng thời còn có quyền là “người phát ngôn của giáo hội” được ban hành “thông điệp” từ trong nước đến các GHPGVNTN ở nước ngoài . Cho nên Ái mô tả, thêm bớt, vẽ vời thế nào thì các “đệ tử” cứ theo đó mà làm. Ngược lại hầu hết các thông tin, thông điệp, giáo chỉ từ trong nước đến được với các GHPGVNTN ở hải ngoại cũng là qua Ái. Cho nên Ái đã mặc tình thao túng cả GHPGVNTN. Do vậy, Thượng Phối Sư Thông Trần từng nhận xét rằng: “Võ Văn Ái không khéo sẽ biến Thích Quảng Độ thành… nài ngựa!” là vậy. Bộ mặt thật của Võ Văn Ái là chỉ vì bạc tiền danh vọng mà trở thành tay sai đắc lực của ngoại bang nhằm thực hiện diễn biến hòa bình để rồi gây ra hận thù chia rẽ Phật giáo Việt Nam , Và tất nhiên cái vỏ bọc đấu tranh cho nhân quyền, tự do tôn giáo chỉ là phương tiện để Võ Văn Ái kiếm Fund(tiền tài trợ) của các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và moi tiền bà con người Việt ở hải ngoại .Trước đây dư luận trong cộng đồng khi đề cập đến vấn đề tài chánh thì bao giờ Võ Văn Ái cũng tìm đủ mọi cách tránh né , phủ nhận là ông ta không bao giờ ăn tiền của ai: “Tôi làm những chuyện không công, chẳng có lương bổng gì hết, do vậy mà chư tôn đức tăng ni, phật tử cho bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà không đòi hỏi, để lo cho cơ sở Quê Mẹ” ?. Ngày 26-9-2012 Võ văn Ái thể hiện là kẻ ôm chân ngoại bang một cách trơ trẽn nhất đó là viết thơ cho tổng thống Pháp Francois Hhollande yêu cầu Tổng Thống nhân danh nước Pháp lên tiếng can thiệp cho các bloggers vi phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam như Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và ký giả Hoàng Khương ?. Võ văn Ái đã lếu láo vu khống một cách trắng trợn rằng nhà nước Việt Nam đối xử với người dân trong nước “họ bị tù đày trên lãnh thổ họ như trong một nhà tù…” ? Xin hỏi ông Ái rằng hàng năm có trên nửa triệu người Việt từ hải ngoại về thăm cái mà ông gọi là “nhà tù” thì nhận xét của họ như thế nào ? kiều hối bà con gởi về “nhà tù” là 12 tỷ đô la trong năm qua thì ông có lý giải gì cho thỏa đáng với những lời vu khống vô căn cứ của ông ? Vẫn chưa hết ông Ái còn cao giọng : “Nhân danh Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, xin được nói lên mối âu lo trước muôn nghìn hành động đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong âm thầm nhưng thường trực.” ?. Khi đọc những cái gọi là “thông cáo” “kiến nghị”.. mà Võ Văn Ái nhào nặn thì những người Việt có tấm lòng với quê hương đất nước không khỏi phải phì cười về sự lố bịnh đến nham nhở của ông ta .Theo như tôi được biết Việt Nam hiện nay tôn giáo phát triển hơn bao giờ hết , đồng bào ở hải ngoại về thăm quê hương hàng năm đều nhận thấy sự đổi khác đang diễn ra từng ngày, nhà thờ, chùa chiềng được xây dựng mới khang trang lộng lẫy, vào các ngày lễ lớn nhà thờ, chùa chiềng, miếu mạo tấp nập vui như trẩy hội niềm vui hiên trên nét mặt của mọi người .Nhà nước Việt Nam hiểu rằng tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phượng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý với truyền thống văn hóa dân tộc là góp phần nâng cao đạo đức, nhân cách của con người chứ không chấp nhận những hành vi lợi dụng, hoặc đội lốt tôn giáo để làm những điều trái pháp luật, phản văn hóa đi ngược lại điều răn dạy của chúa, phật, thánh , thần và những yêu cầu chính đáng của đồng bào theo các tôn giáo.
Nói tóm lại những kẻ như Võ Văn Ái chỉ vì mục đích phô trương bản thân, trục lợi chính trị can tâm làm tay sai cho các thế lực thù địch chống Việt Nam để moi rút tiền bạc cho bản thân mình , những khẩu hiệu “dân chủ, nhân quyền” chỉ là tấm áo khoác để lừa bịp. Nhân bài viết này tôi cũng muốn nhắn gởi cho những ai ở trong nước cũng như bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại hãy cảnh giác với những kẻ “ma đầu” như Võ văn Ái đừng để cho bọn chúng lợi dụng trở thành công cụ chống phá đất nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình.
Ngày 6-12-2012
AMARI TX (Hoa Kỳ)
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Cuộc chiến không có máu chảy

AMARI TX
Экологическая война США Вьетнам США химическое оружие Вьетнам джунгли
Kể từ khi cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Việt Nam chấm dứt, tức là hơn 37 năm qua, chính phủ Hoa Kỳ đã liên tục lặp đi lặp lại thông điệp rằng không có mối liên hệ nào giữa việc người dân Việt Nam phải tiếp xúc với Chất độc Da cam / dioxin và các hậu quả về sức khỏe mà họ phải chịu… có nghĩa là, không tồn tại mối quan hệ nhân quả nào. Những nghiên cứu của Việt Nam đã bị chối bỏ, và bị phương Tây cho là không đủ thuyết phục, và do đó Hoa kỳ vẫn giữ tiêu chuẩn kép về phơi nhiễm và bồi thường. Hoa Kỳ đã bồi thường cho các ‘Cựu Chiến Binh Nước Mình’ về hậu quả sức khỏe họ phải chịu khi ‘tiếp xúc’ với Chất độc Da cam / dioxin trong thời gian làm nhiệm vụ tại Việt Nam, tuy nhiên, họ lại chối bỏ trách nhiệm đối với những vấn đề sức khỏe tương tự mà người dân Việt Nam đang phải chịu đựng. sự chối bỏ về mối quan hệ giữa phơi nhiễm và các vấn đề sức khỏe của “người dân Việt Nam” mối quan hệ đã kéo dài hàng thập kỷ. vào ngày 24-9-2012. Đại sứ quán Hoa kỳ tại Hà Nội đã đưa ra một thông cáo báo chí mang tên “ủy ban tư vấn hỗn hợp Việt- mỹ (JAC) hợp tác song phương về vấn đề chất độc da cam”- ủy ban này hoạt động từ năm 2006 tư vấn cho chính phủ Việt Nam và Mỹ về việc dọn sạch DIOXIN tại các căn cứ quân sự của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam- nghiên cứu về sức khỏe con người liên quan đến việc phơi nhiễm chất độc da cam.

Hai bài phát biểu do Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông David B. Shear, trình bày trong thông cáo báo chí, có nói đến khả năng về một sự thay đổi chính sách liên quan đến quan điểm phía Hoa Kỳ về mối quan hệ giữa Chất độc Da cam / dioxin và những hậu quả về sức khỏe mà những người Việt Nam tiếp xúc với chất độc này phải chịu.
Trong cuộc họp kéo dài hai ngày, Ngài Đại sứ đã nêu bật những tiến bộ trong mối quan hệ hợp tác song phương nhằm hỗ trợ Việt Nam đối mặt với những thách thức về môi trường và sức khỏe liên quan đến Chất độc Da cam … “. Ông cũng tuyên bố: “Dự án này là một dấu mốc quan trọng trong nỗ lực của chúng tôi nhằm giải quyết di chứng của Chất độc Da cam còn sót lại ở Việt Nam …”.
Tình trạng này cũng là một trong những nguyên nhân không có sự hỗ trợ nào cho Việt Nam từ phía Hoa Kỳ cho các vấn đề về sức khoẻ con người và dioxin. Điều gì đã thay đổi Hoa Kỳ từ việc từ chối và không hành động trong nhiều thập kỷ? chắc chắn chính phủ Hoa Kỳ không tự nhiên thay đổi điều họ từng phủ nhận trước đây. Về cơ bản, tại sao Hoa Kỳ ‘hiện nay’ hỗ trợ Việt Nam vấn đề Chất độc Da cam / dioxin, khi đã làm ngơ những kêu gọi phải có hành động có trách nhiệm đối với Việt Nam và cộng đồng quốc tế nói chung trong nhiều thập kỷ qua. Người Mỹ bắt đầu dọn lọc những vùng đất bị nhiễm dioxin tại Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh năm xưa, từng đoàn máy bay Mỹ đã đổ xuống rừng nhiệt đới của Việt Nam khoảng 72 triệu lít chất độc da cam khai quang làm rụng lá cây, trong đó có 44 triệu lít chứa dioxin. Đây là chất độc nguy hiểm nhất, đọng lại trong đất cho tới khi hủy hoại toàn bộ sự sống trên địa bàn. Có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên vẫn chưa ai biết rõ chính xác thời hạn phân giải hoàn toàn của thứ độc chất khủng khiếp này – thậm chí, theo một số người, dioxin có thể gây hại đến 500 năm.
Mệnh lệnh đầu tiên về việc sử dụng vũ khí hóa học ở Việt Nam đã do Tổng thống John Kennedy ký duyệt từ rất lâu trước khi quân Mỹ xâm lược Việt Nam năm 1965, – Những thí nghiệm tương ứng ở miền Nam Việt Nam đã khởi đầu hồi giữa năm 1961. Đến ngày 30 tháng 11 năm ấy, Tổng thống John F. Kennedy chấp thuận cho sử dụng chất độc khai quang trên địa bàn miền Nam Việt Nam. Những thùng da cam chứa chất độc tử thần trôi nổi tại Đà Nẵng. Đám mây độc lan tỏa dần dần trên vùng đất Việt Nam và bao trùm diện tích rộng lớn. “Cuộc chiến không có máu chảy” do người Mỹ tiến hành đã dẫn đến tác động ghê gớm dưới góc độ triệt hạ nhân lực và vùng lãnh thổ của đối phương, gấp hơn nhiều lần so với dội bom napalm, hơn cả hỏa lực của xe tăng và pháo binh hạng nặng. Đến những năm 70 chiến tranh hóa học đã chụp xuống 43% diện tích canh tác và 44% diện tích rừng cây miền Nam Việt Nam.
Dioxin thẩm thấu sâu vào lòng đất, tích tụ ở đó và khi nóng lên nó hóa hợp thành những chất độc hại mới. Trên mảnh đất bị nhiễm độc không cây cỏ gì có thể mọc được, dioxin đầu độc cả nước sông và các mạch ngầm. Khi thâm nhập và tích tụ trong cơ thể người, dioxin gây bệnh da liễu, làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường và ung thư, làm suy yếu hệ thống miễn dịch. Giống như chất phóng xạ, dioxin tích lũy trong cơ thể và khi đạt đến mức nhất định, nó bắt đầu hoành hành gây tác động tiêu cực. Người Mỹ giúp đỡ các nạn nhân dioxin tại Việt Nam thông qua những tổ chức phi chính phủ, hỗ trợ xây dựng trại trẻ mồ côi, nơi đến bây giờ vẫn còn những trẻ em bị dị tật bẩm sinh và bệnh bất thường nhiễm sắc thể. Tổng cộng ở Việt Nam cò khoảng 4,8 triệu nạn nhân dioxin, 3 triệu trong số đó mắc những căn bệnh nghiêm trọng. Thế nhưng chính quyền Hoa Kỳ vẫn không muốn thừa nhận những người này là nạn nhân của chiến tranh hoá học Khiếu kiện của những công dân Việt Nam bị tổn hại sức khỏe do việc chính quyền Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hóa học trong chiến tranh, đến nay vẫn chưa được đáp ứng. Trong khi đó có nghịch lý là những cựu binh Mỹ từng hiện diện trong khu vực diễn ra các cuộc tấn công hóa học, thì lại nhận được từ các nhà sản xuất chất khai quang độc hại khoản tiền đền bù 180 triệu dollar.Ngài Đại Sứ Shear, đã gọi cuộc họp JAC là một sự tiến bộ nổi bật về các thách thức đối với môi trường và sức khỏe do Chất độc Da cam gây ra.
Việc lọc sạch dioxin trên đất Việt bắt đầu từ khu vực phi trường Đà Nẵng. Đất cắt lên từ độ sâu 3 mét và đưa vào lò quay đặc biệt. Dưới tác động của môi trường nhiệt độ của 1000 độ C, dioxin dường như bị nung cháy hoàn toàn, hoặc là đánh mất tính năng giết chóc của nó và trở nên “sản phẩm sạch về sinh thái”. Như khẳng định của các tác giả đề án, mọi tro, xỉ từ lò nung này có thể sử dụng vào mục đích hòa bình như là vật liệu xây dựng hoặc phân bón. Chỉ từ nay đến năm 2016, theo lời viên đại sứ Mỹ tại Hà Nội David Shier, dự kiến trung hòa 73 nghìn mét khối đất. Với mục đích như vậy, ngân sách của chính quyền Obama đã phân bổ 41 triệu dollar. Thế nhưng tất cả những con số nêu trên chỉ là giọt nước trong biển cả.
Theo đánh giá của nhóm chuyên viên đối thoại Việt-Mỹ Agent Orange – Dioxin, công việc loại bỏ những ổ nhiễm độc lớn như trên địa bàn tỉnh Đà Nẵng đòi hỏi kinh phí không dưới 450 triệu dollar. Đã công bố quyên góp gây quĩ trên thế giới để ủng hộ. Một phần tiền nào đó thu được thông qua các quỹ từ thiện, các cơ quan Liên Hợp Quốc và tổ chức quốc tế, thêm vào số mà ông Obama đã duyệt chi. Tuy nhiên, đối với công việc tẩy độc quy mô lớn hơn, thì chừng ấy tiền rõ ràng chưa đủ. Đất đai Việt Nam trong thời gian dài lâu nữa vẫn còn phải gánh chịu hậu họa từ cuộc chiến tranh tàn bạo và phi nhân mà người Mỹ tiến hành những năm xưa.
Hoa kỳ 8-12-2012
AMARI TX
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Vì sao, vì mục đích gì?

Bài được đăng trên báo nhân dân

link gốc:http://nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/binh-luan-phe-phan/vi-sao-vi-m-c-ich-gi-1.376962

Cập nhật lúc     02:36, Thứ ba, 13/11/2012 (GMT+7)
Sau khi Báo Nhân Dân đăng bài Từ hải ngoại nhìn về “các nhà dân chủ” của tác giả Trần Mai gửi từ nước Mỹ, trên một số website và blog đã có ý kiến thực hiện theo lối cắt xén, suy diễn, để từ đó phản đối bài viết của Trần Mai và quy kết là “nhận định sai lầm nghiêm trọng… về quyền con người”, và lặp lại luận điệu cho rằng, Nhà nước đã đi ngược lại các tuyên ngôn, công ước quốc tế liên quan tới vấn đề nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết! Bình luận về sự kiện này, cũng từ nước Mỹ, bạn đọc Hữu Ðức mới gửi tới tòa soạn bài Tôi thật sự không hiểu tại sao, vì mục đích gì?, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Là một người Mỹ gốc Việt, tôi và một số bạn hữu  luôn mong muốn quê hương, đất nước phát triển ổn định bền vững, có như vậy mới dồn toàn lực vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh, đời sống, dân trí của nhân dân ngày càng được nâng cao. Vậy mà một số người lại tự phong là “nhà dân chủ” được các nhóm chống cộng cực đoan ở Hoa Kỳ tung hô, phối hợp “nội công, ngoại kích” để chống phá đất nước, mà đáng kể nhất là họ luôn lớn tiếng đưa ra các yêu sách phi lý như kêu gọi “Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự)” và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Ở hải ngoại, đọc các bài viết của họ, tôi thấy họ xuyên tạc vấn đề nhân quyền của Việt Nam một cách trắng trợn và lố bịch. Vì bức xúc trước tình trạng này, tôi muốn hỏi các “nhà dân chủ” ở quốc nội rằng, các vị căn cứ vào đâu mà “phán xét” Nhà nước Việt Nam về điều mà các vị gọi là “vi phạm quyền con người” qua các điều luật của Bộ luật Hình sự? Theo tôi, phải có một cái nhìn tổng thể và phải nhận thức rõ ràng về sự khác nhau giữa quyền con người và quyền công dân mới hiểu rõ sự lươn lẹo của các “nhà dân chủ” đang tung hỏa mù núp bóng “đấu tranh cho dân chủ” để trục lợi chính trị.

Không phải đến bây giờ con người mới đặt ra vấn đề quyền con người. Ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của mọi nhà nước trên hành tinh này. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945).

Qua việc đọc và nghiền ngẫm tôi thấy các bản tuyên ngôn đó đều khẳng định quyền con người và trách nhiệm của nhà nước trong khi thực thi quyền con người đối với mọi công dân của nước mình, cũng như cộng đồng quốc tế. Là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc, sự ra đời của khái niệm quyền con người gắn với các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ chế độ phong kiến. Cho nên ngày nay mọi người thường nói tới Luật về các quyền của Anh năm 1689, Tuyên ngôn độc lập năm 1776, Hiến pháp bổ sung năm 1787 của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp. Và vấn đề quyền con người đã được Nguyễn Ái Quốc nhắc tới từ năm 1919, trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến đại diện các nước Ðồng minh họp ở Versailles (Pháp).

Trong điều kiện một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là thách thức lớn đối với Việt Nam. Sự nghiệp phát triển của Việt Nam nói chung, chăm lo phát triển quyền con người nói riêng, được tiến hành trong bối cảnh đất nước còn vô vàn khó khăn, thiếu thốn, nên có thể còn có hạn chế, bất cập, song không thể vì thế mà phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng tiến bộ trong việc chăm lo quyền con người, điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Theo tiêu chí tổng quát về thực hiện quyền con người trong thế kỷ 21, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với tám mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra, là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân. Ðây chính là cơ sở quan trọng đủ sức chứng minh sự dối trá của những người đã và đang xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền. Trong Hiến pháp Việt Nam cũng như hiến pháp của nhiều quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, quyền con người thường luôn gắn liền với nghĩa vụ công dân, từ đó hình thành khái niệm “quyền và nghĩa vụ công dân”. Ở mỗi quốc gia, quyền công dân được xem là sự thể hiện cụ thể của quyền con người. Sự khác nhau giữa quyền con người với quyền công dân trước hết ở nguồn gốc. Quyền con người được xem là quyền tự nhiên của mọi thành viên của cộng đồng, là quyền của mỗi con người từ khi người đó sinh ra cho đến khi qua đời. Trái lại, quyền công dân lại là các quyền của người dân được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia. Quyền công dân có thể bị tước đoạt một phần hoặc hoàn toàn khi người đó vi phạm pháp luật, hoặc mất năng lực hành vi dân sự (như do mắc bệnh tâm thần chẳng hạn). Ngay tại Hoa Kỳ, quyền công dân buộc phải tuân thủ luật của chính phủ ban hành, cá nhân nào đó, mặc dù không phải là công dân Hoa Kỳ, nhưng đang sinh sống tại Hoa Kỳ vẫn có một số quyền công dân nhất định, hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định như mọi công dân của quốc gia mình đang cư trú.

Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Hình sự năm 1999 là minh chứng. Quyền và nghĩa vụ của công dân trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đương nhiên là công dân của nước Việt Nam phải tuân thủ như mọi công dân ở quốc gia khác. Một số người ở trong nước cùng với những người chống cộng ở hải ngoại thường gào thét xuyên tạc rằng: “Ðiều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999 về quyền tự do tư tưởng, báo chí là trái với Ðiều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia”? Xin thưa với các quý vị rằng sự thật không phải vậy. Ðiều 88 Bộ luật Hình sự của Việt Nam hoàn toàn không có gì trái với Ðiều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, khi dẫn lại Ðiều 19 của Công ước, các vị đã cố tình cắt xén một nội dung mà Công ước đề cập. Ðó là, khoản 3 Ðiều 19 của Công ước ghi rõ: “3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Theo đó, tự do báo chí phải có giới hạn, không có thứ “tự do báo chí tuyệt đối” để làm mất uy tín của người khác, vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Ðứng ra bảo vệ mấy cá nhân vi phạm Ðiều 88 là các vị bảo vệ những người vi phạm quyền con người của đại bộ phận nhân dân đang mong muốn xã hội ổn định để phát triển đất nước. Sống ở Hoa Kỳ đã nhiều năm, tôi biết thực chất vấn đề nhân quyền tại Hoa Kỳ. Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người, trong khi đó Tổ chức ân xá quốc tế lại cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền ở chính Hoa Kỳ khi cho rằng: “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Mỹ lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Bốn năm liền, Viện dân chủ và hợp tác ở New York công bố báo cáo về các hành vi thô bạo của cảnh sát chống người nhập cư, các vụ xâm phạm quyền tự do ngôn luận, bất bình đẳng về giai cấp ở Hoa Kỳ. Ông Andranik Migranyan – Giám đốc Viện này, từng nói: “Tất nhiên, Hoa Kỳ là một quốc gia với nhiều truyền thống dân chủ. Nhưng, nếu nhìn kỹ cách tổ chức đời sống xã hội, thì rất tiếc sẽ thấy rõ nhiều vấn đề không cho phép Hoa Kỳ coi mình như thầy giáo giới thiệu mô hình lý tưởng về việc bảo vệ quyền con người”.

Ðể chứng minh, có thể lấy thí dụ từ việc bầu cử tổng thống  ở Mỹ. Về hình thức, đây có vẻ là một biểu hiện của dân chủ với hình thức lý tưởng; nhưng trên thực tế lại có sự phân biệt đối xử về nguồn gốc xã hội, về dân tộc, thậm chí cả việc vi phạm quyền bầu cử. Trả lời phỏng vấn của đài Tiếng nói nước Nga, bà Cheri Honkala – ứng cử viên Phó Tổng thống Mỹ của đảng Xanh, đã nói: “Nguyên nhân vì sao Mỹ không cho phép các quan sát viên theo dõi bầu cử có thể ẩn sau khả năng sự lừa dối: chúng tôi có rất nhiều người dân hoặc không muốn hoặc không được đi bỏ phiếu. Còn bây giờ, ở một số bang lại xuất hiện cái gọi là hệ thống “cấp phép quyền bầu cử”. Một rào cản khiên cưỡng ngăn chặn các cử tri tiềm năng, đó là tầng lớp lao động và những người sống dưới mức nghèo khổ”. Và gần đây, ông Alexei Pushkov, người đứng đầu Ủy ban Duma Quốc gia Nga về các vấn đề ngoại giao, nói: “Ðã quá lâu, chúng ta chấp nhận quyền lên tiếng giáo huấn của cái gọi là đất nước dân chủ truyền thống. Tuy nhiên tồn tại hơn hai thập kỷ, nước Nga sau Liên Xô đã có nhận thức rõ nét rằng, những quốc gia giành vai trò người dạy dỗ tuyệt vời, trong thời gian này chứng tỏ thấy họ không hề hoàn hảo. Chúng ta nhận thấy, bản thân Hoa Kỳ cũng vi phạm không ít quyền con người ở trong và ngoài nước. Có thể kể ra ở đây trường hợp các nhà tù CIA bí mật ở Trung Ðông và Ðông Âu, trường hợp thiệt hại thường dân Afghanistan trong các hoạt động quân sự do Mỹ và NATO thực hiện ở nước này, cũng như nhiều khía cạnh khác. Trước hoàn cảnh này, tiếp tục giữ im lặng sẽ có nghĩa chấp thuận vào hùa với trò bao vây thông tin do các phương tiện truyền thông phương Tây tạo dựng để lấp liếm sự vi phạm nhân quyền của chính phương Tây”.

Vì sao các “nhà dân chủ” ở quốc nội lại không quan tâm tới các vấn đề này? Họ lấy Hoa Kỳ là “khuôn vàng, thước ngọc” để so sánh và phê phán Việt Nam. Họ tôn thờ cái gọi là “thiên đường dân chủ” nhưng hình như thực chất thì họ chẳng hiểu gì về nước Mỹ cùng các vấn đề của nó.  Vì sao, vì mục đích gì, họ lại có thể đi ngược lại nỗ lực của mọi người dân đang cố gắng xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, xã hội càng ngày càng dân chủ, công bằng, văn minh?

HỮU ÐỨC(Hoa Kỳ, ngày 4-11-2012)

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Từ hải ngoại nghĩ về các “nhà dân chủ”

Bài được đăng trên báo nhân dân

Link gốc:http://nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/binh-luan-phe-phan/t-h-i-ngo-i-ngh-v-cac-nha-dan-ch-1.374783

Cập nhật lúc     00:58, Thứ ba, 30/10/2012 (GMT+7)
Nhiều năm trở lại đây, một số tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, nấp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, thường đưa ra nhận xét, đánh giá xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; đáng tiếc là việc làm của các tổ chức, cá nhân này lại được một số nhân vật tự nhận là “nhà dân chủ” ở trong nước phụ họa theo. Bức xúc trước vấn đề này, từ Hoa Kỳ, tác giả Trần Mai gửi tới Báo Nhân Dân bài Từ hải ngoại nghĩ về các “nhà dân chủ”. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Tôi muốn bàn về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam khi một số tổ chức phản động cực đoan của người Việt ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội ở trong nước được sự “bảo kê” của một số cơ quan truyền thông, một số tổ chức nhân danh “dân chủ, nhân quyền” hỗ trợ tài chính qua các loại “giải thưởng”; từ đó xuyên tạc, bóp méo sự thật, rồi tung hô nhau là “nhà dân chủ” nhằm dễ bề lôi kéo dư luận khi bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Trước đây, tôi từng tranh luận với một người bạn là nhà báo tại Hoa Kỳ về đề tài dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Khi đó, người bạn tôi đang bị cái vòng “kim cô” chống cộng cực đoan (CCCÐ) siết chặt, dù các luận điểm anh đưa ra đều bị bẻ gãy, nhưng anh vẫn “không phục”. Tôi nói với anh: “Theo tôi, khi viết bằng tất cả niềm tin vào sự thật thì chắc chắn không ai buộc  tội mình được. Không chỉ nhà báo mới có cơ hội tiếp cận sự thật, nhà báo cũng không hẳn phải là người duy nhất vạch ra chân lý. Nhưng lương tâm của người cầm bút là biết hướng dư luận đi tới chân lý, sự thật”. Anh bạn tôi lắng nghe, không nói gì.

Tuy sinh sống ở nước ngoài, nhưng là người con của dân tộc Việt Nam nên tôi biết, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đôi khi có cá nhân, tổ chức đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, thậm chí có người cam tâm phản bội. Gần đây, có người vì bất mãn, hoặc mờ mắt khi được các thế lực thù địch tâng bốc, hứa hẹn, đã bị các tổ chức xấu ở hải ngoại lợi dụng để chống lại Nhà nước Việt Nam, v.v. Tiếc thay, trong đó lại có một vài người được coi là trí thức. Từ việc họ làm, từ lời lẽ họ đưa ra, tôi thấy dường như họ đã trút bỏ những thứ mà gần như cả cuộc đời họ theo đuổi, rồi sám hối về một số việc họ cho là “lỗi lầm”. Trong đó có người như là con kỳ nhông, sẵn sàng đổi màu để trở thành “nhà dân chủ”, để được các thế lực thù địch ngợi ca, đưa ảnh lên in-tơ-nét như là “anh hùng”, được nhắc tới tên trong thông báo hay lời kêu gọi của các tổ chức chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam. Theo dõi trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại, những người Việt luôn hướng về Tổ quốc như chúng tôi đã thấy họ chỉ là những con người cơ hội. Ðối với họ, quá khứ đau thương của dân tộc đã không còn ý nghĩa, mà tương lai cuộc “đấu tranh” của họ thì lại mơ hồ và ảo vọng; nếu thời thế đổi thay, có khi họ lại biến hình thành người khác!

Trước tiên, xin điểm qua mấy “nhà dân chủ, nhân quyền” ở hải ngoại, đó là người mà dân thường như chúng tôi vẫn gọi là các ông bà “mặt trơ trán bóng”. Họ là người có bề dày “thành tích bất hảo”, thành thạo trong việc vu khống, chống phá Nhà nước Việt Nam, trong đó có người mấy chục năm nay chỉ làm cái việc xấu xa là lập ra các “tổ chức ma” để lừa bịp và quyên góp tiền bạc của người Việt không có điều kiện tìm hiểu hiện tình đất nước. Có thể kể ra Nguyễn Ngọc Bích, Võ Văn Ái, Nguyễn Tường Bách, rồi Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân,… Những người này đã hợp bè kết đảng với nhau, tự xưng là “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”. Họ tiến hành vô số hoạt động CCCÐ, hằng năm trao “giải thưởng nhân quyền” cho các phần tử chống đối ở quốc nội. Các giải này được trao theo kiểu “anh trước em sau”, người nào rồi cũng có. Người nhận giải là  các nhân vật có hành vi vi phạm pháp luật đã bị Tòa án Nhân dân tuyên án, như Trần Anh Kim, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần,… Không phải bà con ở hải ngoại không biết họ là ai, chúng tôi biết họ chỉ là mấy “nhà dân chủ cuội” và đã có rất nhiều ý kiến vạch rõ bản chất của họ, cùng những lời phê phán họ trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại.

Theo chỗ tôi được biết, hiện nay trên thế giới có hai cách tiếp cận quyền con người: thứ nhất, nhân quyền là quyền tự nhiên, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào và không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người; thứ hai, quyền con người không phải là bẩm sinh và vốn có, mà phải do nhà nước quy định trong pháp luật; và đây là quan điểm đã được phần lớn các quốc gia trên thế giới vận dụng trong khi thực thi quyền con người. Ðiều này là đúng đắn, cần thiết, bởi đối với các chế độ chính trị – xã hội đề cao quyền con người, ngoài yêu cầu về tính văn hóa, mà trước hết và trực tiếp là các chuẩn mực đạo đức, việc mỗi người thực thi quyền của mình như thế nào để không làm ảnh hưởng tới quyền của người khác, việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, việc hạn chế các cơ quan hành pháp, cá nhân có trách nhiệm có thể vi phạm quyền con người,… phải được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật. Về vấn đề này, ngài Sérgio Vieira De Mello, nguyên Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc, người đã tử nạn khi đang làm việc tại Iraq năm 2003, từng phát biểu: “Văn hóa nhân quyền có được sức mạnh lớn nhất từ những mong muốn và hiểu biết của mỗi cá nhân. Trách nhiệm bảo vệ nhân quyền thuộc về các nhà nước. Nhưng chính những hiểu biết, tôn trọng, mong muốn về nhân quyền của mỗi cá nhân là điều mang lại kết cấu và sức bật hằng ngày cho nhân quyền”.

Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, nhân quyền luôn là vấn đề được các chế độ chính trị – xã hội quan tâm, song không phải chế độ chính trị – xã hội nào cũng thật sự quan tâm bảo đảm về nhân quyền. Các “nhà dân chủ” trong nước thử nhìn sang những nước khác, bên một số ít quốc gia ở Bắc Âu có sự quan tâm nhất định, thì tại nhiều nước khác, việc vi phạm nhân quyền, chà đạp lên quyền con người,… vẫn khá phổ biến. Ngay tại Mỹ, nơi chúng tôi đang sống, nhân quyền nhiều khi cũng chỉ là câu khẩu hiệu, bởi tình trạng phân biệt chủng tộc, tình trạng bạo lực trong trường học, việc xả súng bừa bãi,… vẫn tồn tại trong thời gian dài. Chẳng hạn theo số liệu của FBI, mỗi năm ở Mỹ có tới 30 nghìn người bị chết do các vụ bạo lực liên quan đến súng. Các “nhà dân chủ” ở quốc nội nên hiểu rằng, quốc gia có mô hình xã hội mà họ muốn mô phỏng và xây dựng ở Việt Nam, lúc nào cũng sử dụng trò chơi hai mặt, họ chỉ bảo vệ quyền lợi của họ mà thôi. Hình như các “nhà dân chủ” ở quốc nội không thật sự hiểu được những lời ban tặng từ hải ngoại, để rồi biến mình thành con rối đáng thương. Vâng, nếu đất nước không có dân chủ và nhân quyền, người gốc Việt từ khắp năm châu đã không trở về nước làm ăn, sinh sống. Bản thân tôi cũng vậy, vì công việc và gia đình nên tôi không thể như người khác, nhưng hằng năm tôi vẫn trở về, và được tận mắt chứng kiến bao sự đổi thay trên quê hương, đất nước. Ðể nhìn rõ tính khách quan của vấn đề, tôi dẫn lại kết quả nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế Harvard thuộc Ðại học Harvard (Hoa Kỳ) sau khi khảo sát Việt Nam, nhà nghiên cứu Dam Fforde đánh giá: “Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt, năm 1975, Ðảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ đấu tranh, Ðảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Ðảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, đảng viên của Ðảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa, đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng”.

Ðương nhiên, chúng tôi cũng hiểu rõ những thách thức mà Ðảng Cộng sản Việt Nam có thể gặp phải trong vai trò là đảng cầm quyền. Một vấn đề khách quan luôn có thể đặt ra với bất kỳ đảng cầm quyền nào, là khả năng bị tha hóa bởi lạm quyền và quan liêu hóa. Ở hải ngoại, theo dõi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), gần đây là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI), chúng tôi thấy Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục chứng tỏ sự nghiêm túc khi nhìn thẳng vào sự thật, không che giấu khuyết điểm và hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp cấp bách và cơ bản để khắc phục, đưa đất nước đi lên. Từ đầu năm đến nay, chúng tôi thấy rất rõ sự quan tâm, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước khi Ðảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm tiến hành các giải pháp cấp bách, cơ bản để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Nhiều hành động công khai và minh bạch đã được tiến hành, thể hiện quyết tâm lớn trong  chống tiêu cực,  tham nhũng, hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Ðó là thông điệp rõ ràng, báo hiệu sự chuyển mình mạnh mẽ vì quyền lực và lợi ích của nhân dân, vì một nền dân chủ rộng rãi cho mọi người. Chúng tôi hiểu, việc một số tổ chức, cá nhân đặt vấn đề Việt Nam vi phạm quyền con người và đàn áp người bất đồng chính kiến, cần thực hiện “tam quyền phân lập”,… thực chất là vu khống, xuyên tạc, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng đắn tình hình trong nước thời gian qua. Trước sự thật không thể bác bỏ ấy, chúng tôi nghĩ, nếu các “nhà dân chủ” ở trong nước thực tâm mong muốn xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước được giữ vững, mọi người đều được tạo điều kiện để phát triển,… thì nên làm những việc ích nước, lợi dân. Hãy cống hiến và cùng toàn dân xây dựng Tổ quốc Việt Nam hùng cường. Hãy là người Việt Nam chân chính để chúng tôi có thể học hỏi và noi theo.

TRẦN MAI (Hoa Kỳ)
Categories: Uncategorized | 5 phản hồi

Ý thức trách nhiêm đối với vấn đề nhân quyền

Bài được đăng trên báo nhân dân

Xem tại link gốc báo nhân dân điện tử.

http://nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/binh-luan-phe-phan/th-c-trach-nhi-m-i-v-i-v-n-nhan-quy-n-1.372900

Cập nhật lúc     21:16, Thứ năm, 18/10/2012 (GMT+7)
Ngày 28-2-2012, tại phiên họp của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam thông báo Việt Nam quyết định ứng cử vào cơ quan này trong nhiệm kỳ 2013 – 2016 và khẳng định, Việt Nam sẽ đảm nhiệm tốt vai trò của mình, sẽ có đóng góp tích cực vào công việc chung của Hội đồng Nhân quyền, vì một thế giới hòa bình, thịnh vượng, công bằng.

Quyết định của Việt Nam nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của các nước thuộc khối ASEAN, cùng nhiều nước khác. Ðiều này làm cho các thế lực thù địch với Việt Nam tức tối. Chúng lập tức mở một “chiến dịch” xuyên tạc, vu cáo nhằm ngăn cản Việt Nam, điển hình gần đây là trò hề gửi  “thỉnh nguyện thư”! Về sự kiện này, tác giả Amari TX đã có bài viết gửi Báo Nhân Dân, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Trong những ngày qua, một số trang mạng của những kẻ xưa nay vốn có thái độ thù địch với Nhà nước Việt Nam đang truyền tải thông tin về cái gọi là  “thỉnh nguyện thư” liên quan đến việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ). Lần này, họ sản xuất ra hai “thỉnh nguyện thư”: một bản gửi Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon và các lãnh đạo thế giới để kêu gọi ngăn chặn Việt Nam gia nhập Hội đồng Nhân quyền, một bản do Ðài truyền hình SBTN cùng Việt Tân phát động để  “lấy chữ ký”. Và một lần nữa, lại có sự xăng xái của  “mõ làng RFA”. Trong bài phỏng vấn của RFA ngày 16-10-2012 với Trúc Hồ – người quản lý SBTN nhưng thực chất là Việt Tân đứng sau điều khiển, người này đã đưa ra một số phát biểu xấc láo để thóa mạ Nhà nước Việt Nam. Trên thực tế, bà con người Mỹ gốc Việt đều biết rõ, Trúc Hồ chỉ là tay sai của Việt Tân. Khi SBTN bị khủng hoảng tài chính, bên bờ vực phá sản, Việt Tân đã ra tay tài trợ để cho SBTN sống sót và vì thế, SBTN trở thành công cụ cho tổ chức khủng bố này.

Cách đây không lâu, người Việt yêu nước ở Hoa Kỳ rất phẫn nộ trước những việc làm bỉ ổi của Trúc Hồ, Nguyễn Ðình Thắng cùng băng đảng khủng bố Việt Tân khi ôm “thỉnh nguyện thư” đòi gặp Tổng thống Hoa Kỳ vào ngày 5-3-2012. Sự kiện đó đã trở thành một trò hề vô tiền khoáng hậu với rất nhiều bài bình luận và lời đàm tiếu trên các trang mạng điện tử, cũng như báo giấy. Và bà con gọi đó là hành động nhục mạ người Việt. Nhưng những người này vẫn ngoan cố, nghĩ ra mọi thủ đoạn để chống phá quê hương. Vậy thì trong bài này, cũng xin nói rõ để các vị biết, ở  Việt Nam hiện nay, tính nhân văn trong quyền con người đã được nâng lên một tầm cao mới, được cô đúc một cách sâu sắc trong lao động, trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc; và ngày nay thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập, tính nhân văn ấy lại được chắt lọc từ những tinh hoa của nhân loại; từ đó làm cho những phẩm giá cao quý của người Việt Nam ngày càng được tôn trọng.

Trong thế giới ngày nay, chú trọng mối liên hệ giữa những giá trị nhân quyền truyền thống và nhân quyền hiện đại cho phép bảo đảm sự thừa nhận toàn vẹn hơn về quyền của mỗi con người, tạo điều kiện hoàn chỉnh nhận thức chung của xã hội. Trên phạm vi rộng hơn, điều này sẽ củng cố sự tin cậy, thiết lập sự đối thoại ở tầm mức cộng đồng quốc tế. Nói cách khác, sự tiếp cận của Việt Nam với tổ chức Nhân quyền LHQ là một phương cách mới để tăng cường tôn trọng nhân quyền. Bởi, các quyền lợi mang tính nhân văn phản ánh những giá trị truyền thống của mỗi dân tộc, của toàn nhân loại, vốn đã từng giúp mọi nền văn minh phát triển, luôn có khả năng làm dịu, tiến tới xóa bỏ mâu thuẫn giữa các dân tộc. Mọi nỗ lực góp phần làm cho nhân quyền ngày càng hoàn thiện, góp phần làm cho mối gắn kết nhân loại ngày càng thêm bền vững trên cơ sở các giá trị nhân văn, chính là thái độ nghiêm túc, là ý thức trách nhiệm với cộng đồng nhân loại mà Việt Nam đã và đang hướng tới. Ðặc biệt, một trong các thiếu sót của Ủy ban Nhân quyền LHQ trước đây là chính trị hóa vấn đề quyền con người; vì thế, Hội đồng Nhân quyền (HÐNQ) được thành lập năm 2006 với tư cách là sự thay thế Ủy ban Nhân quyền của LHQ, đã bước đầu đáp ứng được mong muốn không chính trị hóa vấn đề nhân quyền để các nước, thông qua HÐNQ, sẽ cùng nhau thúc đẩy và bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng các quyền của mình. Trong 5 năm qua, HÐNQ đã đáp ứng được một số đòi hỏi của các nước, đó là việc thúc đẩy thực hiện quyền của con người trên  các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị. Chúng tôi tin rằng, với ý nghĩa đó, Việt Nam đã ứng cử vào HÐNQ nhiệm kỳ 2013 – 2016. Và chúng tôi còn tin hơn, việc làm này là được bảo đảm bởi các thành tựu nhân quyền Việt Nam đạt được trong các năm qua, mà biểu hiện rõ nhất là sự tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, thành tựu xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế,  giải quyết việc làm ngày càng nhiều hơn,…

Năm năm trước, ngày 8-5-2009, tại Trụ sở LHQ ở Genève (Thụy Sĩ), Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia về việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm điểm định kỳ (Universal Periodic Review – UPR) trước Hội đồng Nhân quyền và đại diện của 192 quốc gia thành viên LHQ cùng nhiều tổ chức trực thuộc LHQ và các tổ chức phi chính phủ khác. Ðại diện 60 nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã trực tiếp đối thoại với Việt Nam. Các đại biểu đánh giá Báo cáo của Việt Nam được chuẩn bị công phu, cung cấp thông tin toàn diện về tình hình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, với sự tham gia có trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức quần chúng, và luôn nhận được đóng góp của người dân. Qua 35 năm kể từ ngày gia nhập LHQ – tổ chức quốc tế đa phương quan trọng bậc nhất này, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước về quyền con người, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một quốc gia thành viên. Trong dịp kỷ niệm 35 năm Ngày chính thức tham gia LHQ (20-9-1977 – 20-9-2012), khi được hỏi về các kết quả mà Việt Nam đạt được sau 35 năm tham gia tổ chức lớn nhất hành tinh, bà Pratibha Mehta – Ðiều phối viên Thường trú của LHQ tại Việt Nam, nói:  “Khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, LHQ đã mở ra một cánh cửa kết nối Việt Nam với những kiến thức, kinh nghiệm và trợ giúp kỹ thuật của quốc tế, đồng thời hỗ trợ Việt Nam đạt được  những tiến bộ trong phát triển, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người dân. Những tiến bộ quan trọng trong các lĩnh vực như xóa đói, giảm nghèo, giáo dục, bình đẳng giới và chăm sóc sức khỏe trẻ em tại Việt Nam cũng đã được ghi nhận. Việt Nam đã nỗ lực giảm một nửa tỷ lệ nghèo (từ hơn 58% năm 1993 xuống còn gần 29% năm 2002) và sau đó là hơn 12% năm 2008. Việt Nam là một trong số 50 quốc gia trên thế giới được lựa chọn để thực hiện các cuộc trưng cầu dân ý trên diện rộng về các mục tiêu phát triển toàn cầu mới. Ðây sẽ là một cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam nhìn nhận về những tiến bộ đạt được trong quá trình thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, cũng như những việc cần làm cả ở trong nước và quốc tế nhằm bảo đảm tất cả mọi người ở mọi làng quê và thành phố đều được hưởng một cuộc sống thịnh vượng”. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Ðiểm nổi bật trong phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo các nước là sự đánh giá cao đối với các thành tựu Việt Nam đạt được trong những năm qua, cũng như các cam kết rõ ràng của Việt Nam đối với việc thúc đẩy quyền con người. Dù còn một số ý kiến dựa trên thông tin sai lệch, phản ánh thiếu khách quan về tình hình dân chủ và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, thì với tinh thần đối thoại cởi mở và chân thành, Việt Nam đã khẳng định chính sách rõ ràng, nhất quán về quyền con người của Nhà nước Việt Nam được thể hiện rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp năm 1992, trong đó có Ðiều 2 xác định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Ðiều 50 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Ðó cũng là cơ sở pháp lý để Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và khẳng định quyền con người.

Qua thông tin trên báo chí, qua đánh giá của rất nhiều người Mỹ gốc Việt khi có dịp trở về thăm quê hương, đất nước, qua những gì  được tận mắt chứng kiến, chúng tôi muốn nhắn tới các tổ chức và những người đang có mưu đồ  cản trở tiến trình hội nhập của Việt Nam với thế giới rằng, quan điểm của Nhà nước Việt Nam về quyền con người là rất rõ ràng, đó là thành quả của một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ của nhiều thế hệ người Việt Nam, cũng là mục đích rất cao đẹp mà Nhà nước Việt Nam cùng nhân dân Việt Nam đã và đang phấn đấu đạt tới, để làm nên cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. Ðó là một sự thật mà những kẻ thiếu lương tri dù có bày ra mưu ma chước quỷ, cũng không thể phủ nhận.

Hoa Kỳ 16-10-2012
Amari TX

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Vạch trần âm mưu thâm độc

Thời gian gần đây ở hải ngoại bà con trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ thường nghe các tổ chức chống cộng cực đoan (CCCĐ), các đảng phái phản động người Việt ra rả tuyên truyền đòi tự do “dân chủ”, “nhân quyền” cho người dân trong nước thông qua các cuộc biểu tình, hội họp, trên vô số các trang mạng điện tử, và một điều mà chúng không bao giờ bỏ qua là luôn nhờ bàn tay của các tổ chức,cá nhân không có thiện cảm với Việt Nam ở phương tây và nhất là BU (Mỹ) can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam . Trong bài này ta tìm hiểu thêm một cụm từ mà thường nghe nói là Đảng và chính phủ Việt Nam lấy cớ chống”Diễn biến hòa bình” (DBHB) để thực hiện trấn áp các tổ chức, cá nhân trong nước khi họ có hành động, tư tưởng đối nghịch lại và suy diễn vu khống chính phủ Việt Nam “thổi phồng” điều mà gọi là “tưởng tượng một cách thái quá” ?.
Vậy thì nội dung và ý nghĩa của cụm từ DBHB là gì ? xuất xứ nguồn gốc từ khi nào và ở nơi đâu ? Thông thường thì các vị CCCĐ luôn làm cho những việc đơn giản thành phức tạp, những điều dễ hiểu thành khó hiểu, trong cái mập mờ rối tung như canh hẹ thì mới trộn lẫn nhập nhằng các khái niệm ,để thực hiện trò đánh lận con đen là nghề của các vị CCCĐ nhằm lôi kéo những người bị hạn chế về nhận thức chính trị cả trong và ngoài nước. Chúng ta có thể khái quát nét cơ bản nhất về cụm từ DBHB là: Được tiến hành với những nước đã bị các thế lực phương Tây tiến công về quân sự hoặc gây lật đổ nhưng không đạt mục tiêu, nay phải dùng chiêu tiến công tổng lực “Bất chiến tự nhiên thành” (không đánh mà thắng) làm cho đối phương tự từ bỏ chế độ đang cầm quyền.
Mục tiêu của các tổ chức CCCĐ ở hải ngoại cũng thay đổi theo từng giai đoạn biến động trên trường chính trị thế giới, cùng với các tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam , được BU hà hơi tiếp sức có thể nói âm mưu, thủ đoạn mới của các băng nhóm và thế lực thù địch Việt Nam trong chiến lược DBHB hiện nay chính là lợi dụng ngay các chủ trương, chính sách đổi mới để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Các tổ chức, đảng phái CCCĐ xuyên tạc nói rằng Đảng cộng sản rất “lo sợ” có sự chính biến trong nước nên lúc nào cũng tuyên truyền DBHB ? Diễn biến là do các nhà cầm quyền và đảng CS nghĩ ra, “suy diễn thái quá”, “tự mình sợ mình” “mắc bệnh tự kỷ” .v.v..? Nói như vậy thì chính họ này chẳng hiểu gì về cụm từ này, hoặc giả có hiểu thì xuyên tạc đánh lạc hướng nhận thức của người khác. Chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của cụm từ này để vạch mặt kẻ ”gắp lửa bỏ tay người” của bọn phản động chống phá đất nước.Khái niệm “diễn biến hòa bình” (DBHB) không phải là ”con đẻ” của các nhà tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, cũng không phải là “con quái vật” do người cộng sản dựng nên để hù dọa thiên hạ , mà là sản phẩm của G.Kainan – một trong những chiến lược gia chính trị xuất sắc nhất của Hoa Kỳ (thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai) đề xuất. Kainan đã viết rằng, “Hoa Kỳ không có khả năng tiêu diệt Liên Xô bằng vũ lực”, muốn chiến thắng Liên Xô cần phải tăng cường sử dụng các “thủ đoạn phi quân sự, thực hiện diễn biến hòa bình” làm “thay đổi tính chất chính quyền nhà nước XHCN”… Đến đây ta có thể hiểu một cách rõ ràng về khái niệm DBHB mà từ bấy lâu nay quần chúng đồng bào hải ngoại mà ngay cả những người dân ở trong nước nghe và hiểu mơ mơ,ảo ảo.Ta tìm hiểu tiếp vậy tính chất nguy hại của chiến lược DBHB hiện nay là ở chỗ nào ? hậu quả của nó nghiêm trọng đến đâu ? cái thuyết của ông G. Kainan được các “đệ tử” tiếp nhận và vận dụng ra sao ? Thì đây ta thấy ngay hậu quả của nó là: Một khi những quan điểm cực đoan của phương Tây về đa nguyên chính trị, dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền của các dân tộc thiểu số được kích động sẽ chuyển thành những hành động chính trị phá hoại  khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự ổn định xã hội, thậm chí có thể hủy hoại thành quả giành độc lập dân tộc trên một nửa thế kỷ qua của nhân dân ta, đã hy sinh hàng triệu người, máu người Việt Nam thấm đỏ từng thước đất sẽ tan tành mây khói, đưa nước ta, dân tộc ta sang con đường khác với mục tiêu hướng tới làm xa rời  người dân trong và ngoài nước với chính phủ và đảng CSVN và hậu quả là những kẻ trục lợi về chính trị có truyền thống ôm chân ngoại bang là kẻ hưởng lợi “đục nước béo cò”. Quan niệm của G.Kainan là cội nguồn, đồng thời là cốt lõi của khái niệm DBHB. Tư tưởng chiến lược này đã được vận dụng, phát triển không ngừng qua nhiều đời Tổng thống Mỹ và đã đạt được những kết quả nhất định như chúng ta đã thấy sự tan rã ở các nước liên xô cũ, bắc phi và khối ả rập.
Vậy điều gì đang diễn ra tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá này ? mối quan hệ ràng buộc giữa Việt Nam với các quốc gia khác về lợi ích ? điều đương nhiên là Việt Nam phải thay đổi tư duy chiến lược tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể , vậy điều đó đã diễn ra như thế nào ? chúng ta tìm hiểu tiếp:  Sự điều chỉnh thủ đoạn chiến lược của các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong người Việt kết hợp các phần tử có mầm mống phản loạn trong nước, chúng rất thâm độc và nguy hiểm hơn khi chuyển hướng từ tập trung bài xích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sang “có thể chấp nhận” về hình thức sự lãnh đạo của Đảng, nhưng tập trung làm cho Đảng bị tha hóa, biến chất, tự đánh mất vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Cùng với đẩy mạnh chống phá nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng CSVN, bọn chúng tăng cường tác động các tổ chức quốc tế nhất là BU (Mỹ) thúc đẩy ”dân chủ hóa” trong hệ thống chính trị, trong nội bộ Đảng và bộ máy lãnh đạo nhà nước Việt Nam, kích động sự bất đồng chính kiến về những quyết sách chiến lược, nhất là định hướng phát triển của xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới , kích động gây chia rẽ, tạo sự phân hóa giữa nhân dân và Đảng cộng sản, đồng thời tạo lập lực lượng chính trị đối lập, dẫn đến tình trạng trong Đảng có nhiều phe phái, trong xã hội có đa đảng, làm rối loạn xã hội, thủ tiêu hoàn toàn khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng CS lãnh đạo và sự đồng thuận trong xã hội. Đánh gãy mũi tên bách chiến bách thắng đó là sự đoàn kết toàn dân  được tôi luyện trong lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam .

Một số  tổ chức phản động CCCĐ ở hải ngoại móc nối, lôi kéo các phần tử cơ hội, ấu trĩ về nhận thức chính trị, một số người cả tin ở trong nước, lợi dụng chủ trương của nhà nước VN mở rộng dân chủ, cải cách hành chính, tự do tư tưởng, tự do báo chí, ngang nhiên đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực  hiện  nguyên tắc tam quyền phân lập. Các phần tử này viết bài tung lên mạng, hoặc được các đài báo phương Tây như BBC, VOA, RFA, RFI …vv.. móc nối, trả lời phỏng vấn, phát tán quan điểm cá nhân  xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách nhà nước Việt Nam, thậm chí còn trắng trợn vu cáo Chính phủ Việt Nam bán nước cho ngoại bang, có kẻ kết nối các phần tử chống đối mưu toan thành lập các tổ chức đảng chính trị phản động nhằm lật đổ thể chế chính quyền hiện hữu.Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bọn phản động CCCĐ và các thế lực thù địch với Việt Nam đã sử dụng các hình thức, biện pháp phi vũ trang “cách mạng nhung” “cách mạng hoa” để chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cả ở trong nước và ở nước ngoài .Đây là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, nhằm làm suy yếu nền kinh tế, rối loạn về xã hội, làm chệch hướng đường lối chính trị, làm giảm hoặc cao hơn là làm mất sức chiến đấu của quân đội , an ninh, cô lập và hạ thấp vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Muốn thay đổi một thể chế chính trị thì biện pháp áp dụng tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi quốc gia có khác nhau, ngòi nổ đó là  bạo loạn – gồm bạo loạn chính trị và bạo loạn quân sự “Diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ tuy khác nhau về phương thức, thủ đoạn, nhưng đều thống nhất về mục tiêu là lật đổ chế độ, giành chính quyền.Trong quá trình tiến hành “diễn biến hòa bình” chống tổ quốc Việt Nam các tổ chức phản động CCCĐ và thế lực ngoại bang thường kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ, trong đó DBHB giữ vai trò xung kích, đi trước, chuẩn bị lực lượng, điều kiện để tiến hành bạo loạn lật đổ khi có thời cơ ,đảng khủng bố Việt Tân đã và đang rắp tâm thực hiện mưu đồ này. Bạo loạn lật đổ là hệ quả tất yếu của các hoạt động DBHB xảy ra trong nội bộ quốc gia .

Kết hợp DBHB với bạo loạn lật đổ là sự kết hợp hai hình thức “hòa bình” và “không hòa bình” trong một chiến lược chống phá Việt Nam, có thể diễn ra đồng thời, trên một hay nhiều khu vực trong nước. Bạo loạn chính trị thường là đòn tiến công ban đầu đối với chính phủ, “châm ngòi” cho toàn bộ cuộc bạo loạn và áp lực toàn diện đối với chính phủ trong suốt quá trình diễn ra bạo loạn. Điều này chúng ta thấy rõ trong thời gian qua các trang báo, diễn đàn mạng, các giới truyền thông chống cộng ở hải ngoại ra sức tung hô những những việc như khiếu kiện về đất đai, những vụ án về tham nhũng, biểu tình chống trung quốc .v.v… Trong rối loạn thì “ngư ông đắc lợi”. Bọn phản động chống cộng cực đoan luôn cao giọng chuyện DBHB là chuyện “nội bộ trong nước”? Nếu nhìn qua về bề ngoài, “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của các thế lực bên ngoài, còn “tự diễn biến” là việc nội bộ của Việt Nam, phụ thuộc vào chính nội trạng của xã hội Việt Nam. Song, thực tế đã chứng minh đó là hệ quả của một chủ đề, một mục tiêu chiến lược.

Một mặt, thế giới tư bản không ngừng quảng cáo về sự thịnh vượng, sự tuyệt vời của thế giới tự do của mình, giấu nhẹm những khiếm khuyết những mâu thuẫn thường trực trong xã hội. Chính điều này đã làm loà mắt những kẻ trong nước có tư tưởng vọng ngoại, không ít vị mà bản thân họ có quá trình đóng góp đáng kể cho cách mạng, đã được  Nhà nước giao nhiều trọng trách lãnh đạo, nhưng vì chưa có quá trình tìm hiểu sâu chủ nghĩa tư bản, chỉ tìm hiểu trên các trang mạng bát nháo , bị các tổ chức ma trơi CCCĐ ở hải ngoại tâng bốc, phong cho những hỗn danh “nhà này nhà nọ” …  Họ quay đầu lại  xỉ vả quá khứ tự “phản tỉnh”, “kính nể” chủ nghĩa tư bản như “thần tượng” không tiếc lời khen ngợi, còn với “ta” thì cái gì cũng chê không tiếc lời .Đó chính là mầm mống của “tự diễn biến”.

Chiêu thức của bọn phản động CCCĐ và các thế lực chống Việt Nam là vậy, một khi đã hiểu thấu đáo vấn đề thì việc làm vô hiệu hoá nó cũng sẽ có “thuốc” trị. Cần tỉnh táo trước xu hướng thúc đẩy cải cách luật pháp mang màu sắc Cách mạng pháp luật của các thế lực đen tối bên ngoài, mục đích của nó là từng bước tách các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp khỏi sự lãnh đạo của Đảng CSVN. Kiên quyết bác bỏ quan điểm “Quốc gia hóa quân đội”, đòi “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội”, thực chất là nhằm bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng và “phi chính trị hóa quân đội”. Một khi thực hiện được vấn đề cốt yếu này thì việc xoá bỏ quyền lãnh đạo của Đảng CSVN với đất nước chỉ là vấn đề về thời gian mà thôi.

Kết hợp “diễn biến hòa bình” với “bạo loạn lật đổ” là một sách lược tinh vi áp dụng chống phá Việt Nam trong nhiều năm qua, rất nguy hiểm, tác động trực tiếp đến an ninh chính trị của quốc gia, sự tồn vong của cả dân tộc.Tăng tính “miễn dịch” cho toàn dân tộc là biện pháp tối ưu chống mọi sự xâm nhập của “vi rút DBHB”. Một khi cơ thể quốc gia khoẻ mạnh thì sẽ đối đầu với bất cứ nạn “Dịch” tấn công từ bên ngoài vào, tiêu diệt mầm mống bệnh từ bên trong. Tính phức tạp cuộc đấu tranh chống DBHB là ở chỗ, trong khi phải đương đầu với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thì đồng thời chúng ta cũng đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngày nay trước sự điều chỉnh chiến lược , thay đổi thủ đoạn không ít người chưa nhận rõ được chân tướng của DBHB , các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong người Việt có thực hiện được âm mưu đó hay không tất cả đều phụ thuộc vào chúng ta , phụ thuộc vào Đảng, nhà nước.Công tác tuyên truyền vạch rõ âm mưu thủ đoạn của bọn chúng để cho người dân trong và ngoài nước biết là một việc rất cần thiết. 

Những bài học rút ra từ sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô viết, từ làn sóng “Mùa xuân Ả Rập” và sự mất ổn định, lâm vào khủng hoảng của một số nước hiện nay, chúng ta ngày càng thấm thía sâu sắc một vấn đề có tính quy luật “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Để chủ động Giữ nước ngay từ thời bình phải kết hợp chặt chẽ, tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực cực đoan, khắc phục “tự diễn biến”,  trong nội bộ quốc gia.  Một khi có kế sách đúng đắn, có sức “miễn dịch” tốt thì chúng ta tự tin dù cho các thế lực phản động được các nước lớn hà hơi tiếp sức và tung ra bao nhiêu chiêu thức đánh phá vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước thì cũng như đánh vào khoảng không vô vọng.
Hoa kỳ  15-10-2012
Amari Tx
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Hòa giải, yêu thương triết lý sống của người việt

Mặt trời không bao giờ lặn trên đầu người Việt yêu nước ở hải ngoại ! vì họ rải rác khắp năm châu. Với 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống , lao động và học tập tại 103 nước và vùng lãnh thổ con số ngày càng tăng lên nhanh chóng .Theo đánh giá của UBNNVNVNONN ” vai trò quan trọng của kiều bào trong ngoại giao chính trị , ngoại giao kinh tế và đặc biệt trong ngoại giao văn hóa ngày càng được khẳng định. Nhưng vẫn còn một bộ phận nhỏ người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳ trong tâm trí của họ vẫn mang sự thù hận một cách “bất thường”. Đành rằng mỗi một dân tộc trên trái đất này cũng có những mặt tốt – xấu đan xen lẫn nhau nhưng có lẽ một bộ phận nhỏ người Việt ở hải ngoại chống cộng cực đoan (CCCĐ) là một trong những bộ phận người Việt chất chứa nhiều mâu thuẫn bên trong nhất. Họ đã để cho sự xung đột bên trong của mình tồn tại dai dẳng nhất , phi lý nhất . Các mâu thuẫn cứ liên tục xuất hiện, đấu tranh và giằng xé lẫn nhau, bất phân thắng bại . Một vết thương mà 37 năm đã trôi qua không lành miệng vì thái độ cực đoan đến mức phi lý của nhóm người này . Một dòng sông tuy rằng có sự hợp nhất của vô vàn dòng chảy trong hành trình chảy ra đại dương mênh mông , vậy mà dòng sông đó nó luôn có một bên lở và một bên bồi. Nhưng hai bờ đó không bao giờ ngăn cản con sông chảy ra biển. Một sự thật  đã và đang diễn ra mà càng ngày bộc lộ sự non kém về chính trị , ấu trĩ về tư duy của bộ phận người Việt CCCĐ này . Hiện tượng phe cánh xô bồ lộn xộn trong tổ chức ở hải ngoại, đã làm mất đi sức mạnh thật sự của đồng bào hải ngoại , mất đi tình đoàn kết quý báu của phần lớn người Việt còn có lòng với quê hương đất nước. Thật đáng tiếc, trong cộng đồng có một số người đã nhận thức lệch lạc , họ cố bám víu vào một quá khứ , chối bỏ những gì mà dân tộc Việt Nam đang nỗ lực cùng chính phủ làm nên bộ mặt mới của đất nước , họ vì mục đích cá nhân sẵn sàng chà đạp lên lợi ích cộng đồng . Còn đối với lợi ích quốc gia, phẩm giá của dân tộc thì chẳng khác gì câu tục ngữ “cha chung không ai khóc” hoặc “sống chết mặc bay”. Thậm chí, họ còn không tiếc lời xúc phạm, phỉ báng, miệt thị chế độ xã hội tại Việt Nam . Trên mặt trận truyền thông để phục vụ cho phe nhóm cờ vàng chống cộng thì sao ? Đa phần những diễn đàn trên mạng đều do tổ chức hoặc cá nhân điều hành . Xin mời những ai muốn có sự tìm hiểu về đời sống văn hoá , chính trị của người việt hải ngoại thì ôi thôi ! họ như lạc vào trận đồ bát quái của một lũ côn đồ  , vô nhân cách . Bằng những giọng điệu cực kỳ vô học, bằng những từ ngữ hạ đẳng , bẩn thỉu  chúng chửi bất kỳ ai mà chúng không ưa. Dù là cộng sản hay không cộng sản. Khi thấy nhà nước Việt  Nam rộng mở cửa đón tiếp người Việt từ hải ngoại về thăm quê hương,  làm kinh tế và đầu tư, mời chuyên viên đem tài năng về giúp nước hoặc khi thấy  con em từ trong nước sang Mỹ du học thì chúng nhân danh là “người việt quốc gia” đấu tranh cho dân chủ, tự do và vì lý do ấy chúng tự cho mình quyền mạt sát chính quyền Việt Nam lẫn bất cứ ai đóng góp công sức, trí tuệ, của cải để xây dựng đất nước . Những  ngôn ngữ mà bọn chống cộng hàng ngày , hàng giờ xả ra trên các trang mạng cực kỳ đốn mạt , nó đi đến tận cùng của thứ văn hoá lưu manh . Bọn chống cộng cực đoan rối loạn phương hướng thật, khi mà hễ thấy có ai phát biểu hay làm việc gì chưa giải thích được, thay vì cần suy xét kỹ càng, và không thèm kiểm chứng, chẳng cần tìm hiểu mục đích sâu xa của công việc mà người đó đang làm, họ kết luận ngay đó là hành vi tiếp tay cho  Cộng sản, và không ngần ngại quy kết họ là Việt Cộng nằm vùng ! Thiết nghĩ, lá cờ Vàng dù là vật quý trọng của nhiều người, nhưng  đến hôm nay nó chỉ còn là kỷ niệm, và là biểu tượng của Người Việt di tản mà thôi.  Nếu như (cứ giả sử việc đã xảy ra ) chắc gì nó đã được toàn thể hơn 90 triệu người Việt chọn làm quốc kỳ, một khi đất nước chuyển sang một thể chế chính trị khác.  Thực tế quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn lui vào lịch sử. Người Trung Quốc có câu: “Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa”.Có nghĩa, người quân tử vì họ có trình độ hiểu biết nên họ không tranh giành khi sống chung với nhau, họ hòa hoãn, hòa giải với nhau khi chung sống, nhưng vì có tư tưởng và cá tính rất khác nhau nên họ luôn bất đồng về chính kiến. Trái lại, những kẻ tiểu nhân vì không có kiến thức đủ, càng không có tư tưởng độc lập nên họ không bao giờ bất đồng cả, nào có tư tưởng gì đâu để bất đồng, nhưng do những va chạm lợi ích nhỏ bé nên những kẻ tiểu nhân luôn sống so đo, cạnh tranh, bất hòa với nhau . CCCĐ luôn núp bóng hai chữ  “cộng đồng” để thực hiện mưu đồ của cá nhân và phe nhóm. Đối với họ, cái gì tổn hại đến ” cộng đồng ” đều xấu và phải bị trấn áp.  cộng đồng là ai vậy? chẳng lẽ cộng đồng người VN hải ngoại chỉ bao gồm những người to tiếng hò hét nhất, có những hành động lời nói bỉ ổi nhất ? lúc nào cũng đòi hỏi mọi người phải nhìn nhận tổ chức băng đảng , hội đoàn họ là chuyện quan trọng nhất trên đời này ??

Các thế lực cực đoan trong cộng đồng người Việt ở đây đã phát động chiến dịch bao vây, khống chế các cơ quan truyền thông chân chính,vì các cơ quan truyền thông này đã không làm theo cái gậy chỉ huy của bọn CCCĐ, tức là không có những bài vở bôi nhọ ,xuyên tạc hình ảnh đất nước Việt Nam đang đổi mới từng ngày, không vu khống , la lối cái gọi là “chính sách độc tài, độc trị của cộng sản”, đã thế, lại còn ủng hộ và cổ súy cho mối bang giao Việt Nam với tất cả các đối tác trên thế giới trong mọi lãnh vực vv và vv… và một khi không nói theo ý của chúng thì lập tức các cơ quan truyền thông đó bị chửi rủa, bị khép tội, bị chụp mũ, bị vu vạ. Nói về chính phủ Việt Nam bọn CCCĐ nói: “Cả Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp chỉ là công cụ cai trị của Đảng Cộng sản”; “ Điều 4 Hiến pháp Việt Nam là hoàn toàn phi lý vì vậy dứt khoát phải xóa bỏ”. Còn hệ thống pháp luật Việt Nam thì họ dám gọi là “một quái trạng pháp luật”…(!) . CCCĐ Họ không thu phục được nhân tâm của đồng bào hải ngoại, đối phương không tâm phục và chấp nhận mình là việc vô cùng tệ hại, vì họ cứ nhắm mắt lao bừa vào bức tường chân lý của lẽ phải ,  như con Bò Tót trong trường đấu lao vào miếng vải đỏ .Chuyện đấu tranh của cờ vàng cực đoan ở hải ngoại có thể ví như trạng thái người bị mắc chứng rối loạn tiền đình , mất phương hướng , không xác định được vị trí , hướng đi , điều tất yếu dẫn đến sai lạc. Bọn CCCĐ sẵn sàng nổi giận có những phát ngôn văng mạng nếu ai đó nói ngược lại ý muốn những tiêu chí phi thực tế của phe nhóm họ. Có những thứ thực ra mọi người cùng chung một chí hướng, cùng đồng ý về một đích đến nhưng nếu không đồng tình về cách thức thực hiện thì mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, thậm chí là địa ngục . Điều hiển nhiên đó, tiếc thay lại không trở thành giá trị tất yếu, trái lại, đã từng có những tuyên ngôn thật cực đoan như thể “kẻ nào không giống ta -theo ta là kẻ thù của ta”. Tất nhiên, những con người chủ trương sống như vậy luôn muốn bóp chặt ý nghĩa đa dạng của đời sống, luôn muốn biến xã hội muôn mầu trở thành một mầu ảm đạm . Và khi đó xã hội thay vì đa sắc vận động đã trở thành một sưu tập sống bầy đàn .Cờ vàng chống cộng hầu như không kiểm soát hoặc không muốn kiểm soát những suy nghĩ hành động của chính mình. Có một câu chuyện kể lại, một người Mỹ đã nói với một nhóm người Việt biểu tình tại New York rằng: “Cộng Sản không cần phải đánh các anh, họ chỉ cần đợi ít năm nữa các anh chết già là hết chuyện”. Đau hay không đau nào ? thưa các vị cờ vàng chống Cộng chỉ nhìn phía trước mà chẳng thèm ngó hai bên, và không biết sau lưng mình có gì.
Do ấu trĩ về tư duy , sai lạc về nhận thức , cờ vàng chống cộng cứ mơ tưởng rằng dùng những lời lẽ mạt hạng đó sẽ lôi cuốn được một số người đứng về phe , nhóm của họ . Nhưng sự cuồng điên gào thét đó lại có phản ứng nghịch , càng hăng hái lăng mạ nhà nước VN và những người VN có tấm lòng vì quê hương bấy nhiêu thì với bản chất đê tiện như vậy dường như càng bộc lộ bản chất hạ đẳng của bon chống cộng cực đoan , để cho những người trong nước thấy rằng. Đó nhìn kìa , bọn dân chủ, bọn chống Cộng hải ngoại là vô học, là cay cú và cực đoan như vậy đó. Đồng bào trong nước thấy rõ bộ mặt của bọn chống Cộng Hải Ngoại chưa ? hãy nghe giọng điệu của chúng thì thấy ngay bản chất của chúng. Họ đã thành công thực hiện một màn minh họa cho đài báo trong nước tuyên truyền về hình ảnh một đám người hải ngoại hiếu chiến mù quáng, ngu dốt , lưu manh . Qua đó làm mất niềm tin giữa những người trong nước và đồng bào bên ngoài. Nhìn lại cuộc di tản của đoàn  người hốt hoảng bỏ nước ra đi năm 1975, mà một số người Mỹ hồi đó châm biếm  là bọn da vàng gồm những tướng tá thua trận, nhà giàu , gian  phi, ma cô và đĩ điếm – như Giáo sư Hưng đã dẫn chứng về những lời phỉ báng, cũng như nhìn lại  lớp người Việt trong các đợt vượt biên, vượt biển sau đó, thì ai  cũng thấy là ngày nay, họ chẳng còn lý do gì mà còn phải cảm thấy tủi nhục hận thù. Trái  lại họ còn có thể cảm thấy là trong cái rủi, có cái may, câu chuyện Tái ông thời xưa mất ngựa ,thì bây giờ, cộng đồng người Việt  hải ngoại đã tạo dựng lại đời mới cho mình và con cái mình tốt đẹp hơn xưa  nhiều, và cảm thấy hãnh diện hơn trong xã hội nơi  định cư.  Những  ngày kỷ niệm 30 tháng Tư, trước đây gọi là Ngày Quốc hận trong Tháng Tư Đen, lôi  kéo cả trăm, có nơi cả ngàn người dự mít tinh, biểu tình, thì nay không còn tổ  chức nữa hay chỉ có lác đác vài người tham dự, bởi vì họ không còn hận gì,  mà còn cảm thấy có phần may mắn và còn đem tiền bạc, của cải về giúp người trong nước.
Nếu không tha thứ, hoà giải dân tộc, thì nguời Việt hải ngoại theo  chủ trương hận thù mãi sao ? chẳng bao lâu sẽ gửi nắm xương tàn nơi xứ người lạnh lẽo, mà  chẳng bao giờ được cảm thấy niềm xúc động rạt rào khi trở về mảnh đất quê cha đất tổ thân yêu ,hay  những niềm vui tràn đầy thấy lại và hoà mình vào đám đông tại những phố phường,  thôn dã ở đó mình đã lớn lên, và gặp lại những bà con, bạn bè thân thương của  những năm trẻ tuổi sôi động xa xưa. Những người CCCĐ đó nên nhớ là khi ông  Jefferson thảo Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ vào năm 1776, ông đã soạn đi soạn  lại và, theo lời yêu cầu của các đại biểu Quốc hội Cách mạng đầu tiên, ông xóa  bỏ đoạn văn lúc đầu kết án cả dân tộc Anh và Nghị viện Anh, mà ghi trong văn bản  chung quyết là chỉ kết án hoàng gia anh mà thôi . Sau khi rút khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ đã cô lập hóa Việt Nam với chính  sách cấm vận hai chục năm trời, làm điêu đứng Việt Nam và khi hai nước tái lập  bang giao, Việt Nam lại là nước muốn và cần giao hảo tốt đẹp với Mỹ hơn là ngược  lại. CCCĐ họ chỉ là một phần của cộng đồng Việt hải ngoại, còn biết bao nhiêu người khác nữa, với biết bao nhiêu ý tưởng, cảm nhận,  cách nhìn cuộc sống khác. Những cách nhìn ấy như thế nào?  vì có ai nghe thấy những tiếng nói ấy đâu. Người Việt ai cũng sợ nói ra rồi sẽ bị sự hò hét phản đối của nhóm đang tự nhận danh nghĩa là ” cộng đồng “. Cho nên, chúng ta hãy loại trừ cái ung nhọt đeo bám đó suốt 37 năm qua .
Một đất nước không thể mạnh lên nếu chúng ta không thuận theo xu thế của thời đại. Ở vào những thời điểm đầy thách thức, mỗi người dân Việt cần thể hiện lòng yêu nước của mình bằng những công việc, hành động cụ thể nhằm góp phần xây dựng quốc gia hưng thịnh. Muốn vậy phải phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hơn 90 triệu người Việt Nam chung sức đồng lòng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời tỉnh táo, linh hoạt nhưng kiên quyết gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở những bằng chứng lịch sử, pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng không cho phép bất cứ cá nhân, thế lực nào lợi dụng để hành động đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, lợi ích của đất nước, phá hoại những thành quả cách mạng đã được các thế hệ cha ông dày công vun đắp bằng cả mồ hôi và xương máu . Có lẽ đến ngày hôm nay, trong cộng đồng những người Việt yêu nước đã phần nào thấy rõ được bộ mặt thật của nhóm người này, những người còn có tư tưởng của cờ vàng chống Cộng cực đoan, . Đấu tranh là quyền của mỗi người, họ có quyền tự chọn cho mình một cách nào đó để tìm kiếm chiến thắng. Nhưng có thể khẳng định rằng,  đấu tranh cực đoan không thể gặt hái thành công trong bối cảnh thế giới hòa nhập này.
Tuy vậy ngay cả trong chiến tranh, sự cực đoan trong tư tưởng sẽ dẫn đến chai cứng , mất cái mềm dẻo , mất bình tĩnh, dẫn đến hữu dũng vô mưu . Mà đã “vô mưu” thì thường là thất bại .Chỉ cần đặt một câu hỏi  thôi: Nếu như 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa, chế độ Cộng Sản mà các vị muốn đập tan nó vẫn chưa sụp đổ, các cụ  (vì tuổi trung bình của cờ vàng chống cộng hải ngoại hiện nay khoảng từ 60 đến 80 ) sẽ làm gì? Đố các cụ trả lời được! Nếu họ tiên liệu được điều này thì đâu có suy nghĩ và hành động ấu trĩ đến cùng cực như vậy . Biến thù thành bạn đã rõ trong lời tuyên bố trong bài thuyết  trình đầu năm 2005 của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là Marine. Theo ông, mặc dầu liên hệ  hai nước trong quá khứ không vui vẻ gì, “rõ ràng là bây giờ Việt Nam và Hoa Kỳ  không có bất đồng về chiến lược (no strategic differences)” và “Hoa Kỳ tôn trọng  chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dứt khoát chống mọi âm mưu phân  ly hay các đe dọa khác tại biên giới Việt Nam. Chúng ta có nhiều lãnh vực chung  quyền lợi về an ninh vùng và an ninh thế giới. Sự hợp tác về quốc phòng hiện nay  là bước đầu để cùng đương đầu với các thử thách về an ninh trong thế kỷ 21.”  ?
Kết thúc bài viết này, xin được nhắn gửi những ai còn đang nuôi trong lòng sự thù hận, vẫn quay lưng lại với đất nước và thời cuộc, để rồi từ đó nảy sinh những việc làm quá khích, vô lương tâm thì sớm muộn cũng bị đa số cộng đồng người Việt ở hải ngoại nhận rõ tim đen và sự thật

Sẽ là chưa muộn đối với những ai qua sự việc lố bịch này, có ý thức tự mình điều chỉnh hành vi, cách nhìn đối với đất nước của dân tộc mình đang chuyển động mạnh mẽ trên con đường đổi mới và hội nhập, ngày càng nhận được sự ủng hộ rộng rãi và sự đánh giá cao của bạn bè quốc tế.Với những phân tích trên về những hậu quả thật tệ hại , ngoài việc phá hoại tình đoàn kết của cộng đồng . dân tộc. đất nước, họ còn lợi dụng lòng yêu nước đã bị cờ vàng chống cộng bóp méo , xuyên tạc lợi dụng quyên tiền này kia móc túi đồng bào lấy tiền phục vụ cho nhu cầu cá nhân và phe nhóm
Hoa Kỳ   tháng 10- 12- 2012
Amari tx
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Bảo vệ quyền con người là tôn trọng phẩm giá dân tộc

Bài được đăng trên báo nhân dân
Cập nhật lúc     21:53, Thứ hai, 08/10/2012 (GMT+7)
Không ai có thể phủ nhận, nhân quyền là một thành quả của quá trình phát triển nhận thức lâu dài trong lịch sử nhân loại, là một giá trị mà mọi dân tộc văn minh đều hướng tới.

Tuy nhiên, khi nhân quyền được sử dụng như một chiêu bài để phục vụ mưu đồ thiếu lành mạnh, thì bản chất nhân quyền bị xâm phạm, và bóp méo. Bàn về một số sự kiện liên quan đến nhân quyền mà một số tổ chức, cá nhân đã dựng lên để vu cáo Việt Nam, từ nước Mỹ, tác giả Amari Tx gửi tới Báo Nhân Dân bài Bảo vệ quyền con người là tôn trọng phẩm giá dân tộc. Xin giới thiệu cùng bạn đọc…  

Ngày 24-9-2012, phiên tòa sơ thẩm xét xử Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải vì phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước đã diễn ra tại TP Hồ Chí Minh và ba người này đã phải chịu hình phạt thích đáng từ những việc làm sai trái của họ. Lập tức, một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài không có thiện cảm với Chính phủ Việt Nam và các nhóm CCCÐ (chống cộng cực đoan) là người Việt ở nước ngoài đã xuyên tạc, bóp méo, vu khống Nhà nước Việt Nam không tôn trọng “quyền làm người của người dân trong nước” và “quyền tự do ngôn luận”… Trên website của “mõ làng RFA” ngày 26-9-2012 còn đăng bài trả lời phỏng vấn ông Phil Robertson – Phó Giám đốc khu vực châu Á Tổ chức theo dõi nhân quyền, với nội dung rất thiếu khách quan: “Tình hình nhân quyền tại Việt Nam đang thụt lùi nhanh chóng và nó sẽ cản trở con đường tiến vào Hội đồng Nhân quyền LHQ”. Rồi với chiến thuật “nội công ngoại kích”, một số phần tử “có vấn đề” trong nước đã có các phát ngôn, bài viết phát tán trên các mạng điện tử hòa giọng cùng với các thế lực phản động ở nước ngoài để công kích, kêu gọi “cần có biện pháp cấp thời” đối với Việt Nam qua chiêu bài quen thuộc của họ là vấn đề nhân quyền!

Thực ra họ có hiểu thấu đáo vấn đề họ đang kêu gào, có hiểu nội hàm của quyền con người là gì, hay họ cố tình đánh lận con đen trong khái niệm này? Xin thưa với các vị, về mặt học thuật, cho đến nay nhân quyền vẫn được hiểu trên hai bình diện là giá trị đạo đức và giá trị pháp lý. Về đạo đức, nhân quyền là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Ðó là nhân phẩm, tự do, bình đẳng, và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng. Về pháp lý, các quy định của luật pháp để giữ vững an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ, tạo điều kiện để mọi người được phát triển, chính là cơ sở bảo đảm cho nhân quyền được thực thi. Rất tiếc, một số người lại cố tình không hiểu vấn đề này và họ đã vi phạm những quy định của pháp luật về quyền con người. Những vụ án vi phạm an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội được xét xử ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy tình trạng một số người đã lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để làm những việc phi pháp. Nhân đó, các thế lực CCCÐ đã kích động, lôi kéo một số phần tử không đặt quyền lợi của nhân dân lên trên quyền lợi của bản thân mình, để gây rối xã hội.

Trả lời câu hỏi của BBC trong buổi họp báo hôm 31-5-2012 tại Malaysia, nơi ông đến thăm trước khi sang Singapore dự Hội nghị thượng đỉnh An ninh châu Á, Thượng nghị sỹ McCain đã nói về bước tiến trong quan hệ Việt – Mỹ: “Thông điệp của tôi về Việt Nam là chúng ta đã đạt những tiến bộ lớn. Chúng tôi tự hào đã hàn gắn những vết thương của cuộc chiến ghê gớm nhất trong lịch sử Hoa Kỳ chỉ trừ cuộc nội chiến của chúng tôi… Quan hệ của chúng tôi với Việt Nam là tuyệt vời. Có nhiều đầu tư của Hoa Kỳ ở đó”. Về vấn đề nhân quyền, Thượng nghị sỹ John McCain cho rằng: “Chúng tôi mong đợi tiến bộ chứ không phải là thay đổi tức thì”. Cũng trong họp báo, ông McCain còn nói: “Thực tế là chúng tôi tin rằng quan hệ của chúng tôi là gần gũi và có thể gần gũi hơn”. Tuy nhiên, vì không hiểu rõ hay cố tình không hiểu rõ nội hàm của khái niệm quyền con người, nên những người thiếu thiện chí với Việt Nam đã đi tới thái độ cực đoan một cách mù quáng, làm mất đi ý nghĩa cao đẹp của nhân quyền, từ đó có phát ngôn và việc làm đối lập với nhân quyền, xâm hại nhân quyền, như vụ “ó đen” Lý Tống tấn công ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng, vụ biểu tình chống ca sĩ Hồng Vân… ở Mỹ gần đây.

Quyền con người là một khái niệm chính trị – pháp lý và dù đến nay vẫn còn tranh cãi, thì không có nghĩa ai muốn hiểu khái niệm này như thế nào cũng được, đặc biệt là không thể xuyên tạc. Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế cũng đã đồng thuận về khái niệm này dựa trên các văn kiện cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người. Ðó là Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; hai Công ước Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Tuyên bố Viên và Chương trình hành động – văn kiện của Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo), năm 1993. Về quyền của các quốc gia – dân tộc, Công ước trên quy định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa…”. Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo) năm 1993, khẳng định việc “khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện có hiệu quả quyền này”. Ðiều đó có nghĩa là các dân tộc có quyền tự do lựa chọn, xây dựng chế độ chính trị như thế nào là quyền của các quốc gia – dân tộc đó. Không có bất cứ một tổ chức, một quốc gia, thậm chí là Liên hợp quốc có quyền can thiệp. Ấy vậy mà các cá nhân và tổ chức thù địch với Việt Nam cùng những nhân vật CCCÐ ở nước ngoài lại tự cho mình cái quyền phán xét thể chế chính trị tại Việt Nam, điều đó tự nói lên sự ấu trĩ trong nhận thức của họ!

Chế độ dân chủ cộng hòa, nay là cộng hòa xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam ra đời từ sau Cách mạng Tháng 8-1945, do Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, giành lại độc lập dân tộc, xóa bỏ chế độ thuộc địa, phong kiến kéo dài hàng trăm năm. Chế độ đó được bảo vệ và củng cố bằng xương máu, sức lực của cả dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống lại những đế quốc hung bạo nhất thế kỷ. Thành quả của các cuộc đấu tranh với bao nhiêu hy sinh, mất mát kéo dài hơn một nửa thế kỷ đó được ghi nhận trong Hiến pháp. Ở Việt Nam hiện nay, còn có một số ít người nhận thức lệch lạc về quyền công dân và quyền con người, các tổ chức phản động lưu vong CCCÐ lợi dụng sự thiếu hiểu biết đó để xúc xiểm, thêm dầu vào lửa nhằm trục lợi mưu đồ chính trị. Thử hỏi, đối với lợi ích quốc gia, phẩm giá của dân tộc thì các vị đã làm được những gì? Hay là các vị vẫn “sống chết mặc bay”, không góp sức cùng dân tộc, mà trái lại là về hùa với ngoại bang “cõng rắn cắn gà nhà”? Ðể đạt mục đích xóa bỏ chế độ xã hội XHCN Việt Nam, các thế lực CCCÐ câu kết với các tổ chức thù hằn với Việt Nam luôn cố tình xuyên tạc vấn đề quyền con người, đồng thời áp đặt quan điểm dân chủ, nhân quyền của họ cho Việt Nam. Họ kêu gọi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “tự do ngôn luận, tự do báo chí”, “tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, lập hội đoàn trái pháp luật,… nghĩa là loại bỏ sự quản lý của Nhà nước, làm rối loạn xã hội. Không phủ nhận rằng xã hội Việt Nam hiện còn gặp nhiều vấn đề như nhiều quốc gia khác, thậm chí có vấn đề nhức nhối cần phải giải quyết, song để giải quyết những vấn đề đó, cần phải dựa trên các nguyên tắc chính trị, tư tưởng đúng đắn và nguyên tắc quản lý của nhà nước pháp quyền, chứ không là việc tuyên truyền các quan điểm cá nhân thực chất là phỉ báng, bôi nhọ, chống phá chế độ xã hội.

Về quan hệ giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, đến nay các công ước quốc tế về quyền con người không chỉ có những quyền tuyệt đối mà còn có những quyền bị hạn chế (trong đó có quyền tự do ngôn luận) đủ sự mềm dẻo để cho các quốc gia, dân tộc vận dụng vào hoàn cảnh đặc thù của mình. Luật quốc tế về quyền con người không phải là những quy định pháp luật trực tiếp áp đặt cho các quốc gia – dân tộc. Ðơn giản vì thế giới không phải một quốc gia, Liên hợp quốc không là “chính phủ trung ương”, và các quốc gia không phải là “chính quyền địa phương”. Tương tự như thế, pháp luật của mỗi quốc gia là ý chí của cả dân tộc. Tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền của quốc gia là nguyên tắc hàng đầu của Liên hợp quốc. Nền dân chủ Việt Nam vẫn đang trên đường phát triển và hoàn thiện. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và của toàn dân. Ðối với Việt Nam, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, gắn liền với chế độ xã hội là giá trị cao nhất của dân tộc. Từ nước ngoài nhìn về Tổ quốc, chúng tôi thấy ở Việt Nam, việc bảo vệ những nguyên tắc cơ bản về quyền con người đã trở thành mục đích và hành động của Ðảng và Nhà nước, và chúng tôi hiểu đó không chỉ là nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc mà còn là để bảo vệ phẩm giá của dân tộc.

AMARI TX Houston (Hoa Kỳ) – tháng 10-2012
Categories: Uncategorized | 3 phản hồi

Những kẻ “Ăn mày dĩ vãng”

Đến nay, chúng ta có hơn 4 triệu đồng bào ruột thịt định cư tại hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ. Dù bị các thế lực phản động luôn o ép, tuyên truyền xuyên tạc, thậm chí khủng bố, nhưng bà con Việt kiều nói chung, những người con ở Mỹ nói riêng luôn hướng về Tổ quốc.
Không giống như đại đa số người Việt đã định cư thành công tại Hoa Kỳ, những kẻ cuồng tín chống phá Việt Nam (CCCĐ) hình như không có ý định hội nhập vào xã hội MỸ. Thay vì hội nhập vào sinh hoạt địa phương, họ lập bè lập nhóm chính trị, lợi dụng danh nghĩa “cộng đồng” để bòn rút tiền của bà con làm ăn chân chính , tiền fund” của chính phủ BU . Họ muốn tái lập một Việt Nam Cộng hòa thu nhỏ tại mỹ với saigon little là thủ đô của cái gọi là “tiền đồn chống cộng”. Chính vì thế mà bọn CCCĐ yêu cầu chính quyền BU phải “công nhận” lá cờ vàng ba sọc đỏ đã chết từ 37 năm qua. Bọn CCCĐ ngang nhiên và trịch thượng yêu cầu chính quyền  BU không hợp tác kinh tế với việt nam và đưa Việt Nam vào sổ đen “các nước cần được quan tâm đặc biệt”.
Mặc dù những kẻ cuồng tín và cực đoan này lúc nào cũng tru tréo , vỗ ngực là công dân mỹ, nhưng trong hành động thực tế bọn chúng không bận tâm nhiều đến trách nhiệm của người là công dân BU, chúng chỉ chú trọng đến việc chống phá Việt Nam, hơn là góp phần vào việc tranh luận các vấn đề liên quan đến nước mỹ. Vì dồn tâm lực quá nhiều vào công việc chống phá Việt Nam, khi đối đầu với các vấn đề địa phương bọn CCCĐ hoàn toàn cứng họng, và trở thành những người câm điếc khi sống ngay trên đất BU được mệnh danh là thiên đường tự do. CCCĐ chẳng có gì để nói đến vấn đề mà các công dân hạng nhất của BU đang quan tâm , thất nghiệp, nghèo khổ tại đang gia tăng.vv..
   
Thay vào đó, CCCĐ liên tục hăng say ngụy tạo ra những thông tin về Việt Nam và tuyên truyền bôi nhọ hình ảnh Việt Nam với một số chính trị gia của BU không có thiện cảm với VN . Họ tô vẽ một Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu, vô luật pháp, khủng hoảng, thối nát, không có nhân quyền, không có tự do tôn giáo, v.v. và v.v.
Theo tiêu chí của chúng thì :“Thà nói láo còn hơn bỏ sót”, bất cứ Việt Nam làm điều gì cũng sai trái. Dù cho Việt Nam có chính sách đúng đắn thì dưới mắt CCCĐ vẫn là phục vụ cho mục tiêu sai trái ! Bởi vì họ chưa từng bước chân về Việt Nam suốt một thời gian dài mà thậm chí có thể là cả 37 năm , cho nên CCCĐ nhìn Việt Nam qua con mắt của những kẻ mù sờ voi hoặc cố tình bóp méo sự thật.
Nếu những ai đã từng nghe qua những ngụy tạo của nhóm người cuồng tín và cực đoan trong “cộng đồng” mà chưa lần ghé Việt Nam, thì một chuyến đi thực tế ở Việt Nam sẽ là một cú sốc. Sau gần 50 chiến tranh tàn khốc, người Việt nhanh chóng tự mình từng bước phát triển đất nước. Việt Nam ngày nay là một đất nước đa dạng, trẻ trung, sống động, phát triển với dân số trên 90 triệu người. Nói chung, trong bất cứ chỉ tiêu xã hội và kinh tế nào, Việt Nam đều đạt được những tiến bộ tích cực.
Đó là điều đã được khẳng định trong Nghị quyết 36-NQ/TW (ngày 26-3-2004) của Bộ Chính trị BCHTW Đảng CSVN và chương trình hành động của Chính phủ nước CHXHCNVN (ngày 23-6-2004), nhằm thực hiện tinh thần đại đoàn kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc, cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Khi chế độ VNCH sụp đổ vào 30-4-1975, đất nước được thống nhất, nền hòa bình mà hàng chục triệu người Việt Nam mong chờ suốt mấy mươi năm đã trở thành hiện thực. Một bộ phận trong hơn một triệu sĩ quan, công chức, binh lính của bộ máy chính quyền chế độ cũ đã ra đi theo những chuyến tàu di tản

Những năm tiếp theo, đất nước ta vừa phải dồn sức khắc phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại, vừa phải tiếp tục chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ Tổ quốc ở biên giới hai đầu đất nước trong điều kiện bị các thế lực quốc tế bao vây, cấm vận ngặt nghèo. Những khó khăn trong giai đoạn này bị bọn CCCĐ thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, kích động… nhằm lôi kéo một bộ phận người miền Nam ra đi bằng con đường vượt biên.

Sau đó, qua việc hai Chính phủ Việt Nam – Hoa Kỳ đã thống nhất cho xuất cảnh đoàn tụ nhân đạo  theo trương trình ra đi có trật tự, cộng đồng người Việt ở Mỹ có thêm nhóm “đoàn tụ”… Vậy là hình thành cộng đồng“di tản”, “vượt biên”, “đoàn tụ” , số người Việt ngày càng gia tăng theo thời gian. Trên thực tế tại nước sở tại BU có một bộ phận người Việt CCCĐ đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại và Việt Nam…

 

 

Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài hiện có gần 700 tổ chức, hội đoàn, hơn 400 tờ báo, tạp chí, 46 đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt, 74 nhà xuất bản… Để thực hiện âm mưu chống Việt Nam, nhiều năm qua các thế lực cực hữu ở các nước sở tại đã hà hơi tiếp sức cho bọn phản động cực đoan thâm nhập, lũng đoạn các tổ chức hội đoàn và hệ thống báo chí xuất bản này.
Bọn CCCĐ dùng phương tiện, lực lượng này để chống phá đất nước dưới chiêu bài đòi “tự do, dân chủ, nhân quyền”. Bọn “lưu manh chính trị” này sẵn sàng đàn áp, chụp mũ, hãm hại bất kỳ ai – nhất là giới cầm bút khi họ muốn hướng về Tổ quốc. Chúng gào thét chửi rủa những nhà báo như KBCHN.NET , VIETWEEKLY , PHỐ BOLSA TV khi họ về VN tìm hiểu thực tế . Để cho ép phê hơn bọn CCCĐ còn lôi cả vợ con những nhà báo dũng cảm này băm vằm trên mặt báo , một trò bỉ ổi của bọn quái vật đội lốt người CCCĐ.
Những văn nghệ sĩ, trí thức nổi tiếng khi có dịp về thăm quê hương, lập tức bị chúng “mở chiến dịch” tuyên truyền và vu khống đủ điều. Các nghệ sĩ ở VN sang BU biểu diễn một cách thuần túy về nghệ thuật cũng bị đám người “quái vật” này gào thét tẩy chay một cách điên cuồng , việc mới xảy ra đối với nghệ sĩ Hồng Vân, ca sĩ Đàm vĩnh Hưng ..vv..
Thêm vào đó là cuộc mưu sinh nơi đất khách quê người thấm đẫm những khó khăn cực nhọc bởi nạn kỳ thị màu da, bởi những ám ảnh thất nghiệp, bởi khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa… đã làm cho những nhà báo có tâm huyết với đât nước , dân tộc tại hải ngoại đã dùng ngòi bút nói lên sự thật , vạch trần những sai trái của bọn người thiếu nhân cách trong cộng đồng người Việt . Bên cạnh đó,  các thế lực CCCĐ đã lũng đoạn hầu hết các hội đoàn, báo chí – xuất bản để chống phá đất nước.
Chúng khống chế các cơ quan truyền thông hòng bóp nghẹt tự do ngôn luận bằng nhiều thủ đoạn đê hèn để người Việt hải ngoại suốt mấy chục năm toàn thấy những  những thông tin sai lệch về đất nước gây cho người đọc những ngộ nhận về chính sách hòa hợp dân tộc. Chính phủ Việt Nam đã tổ chức hai lần đại hội Việt kiều, tạo điều kiện cho bà con có dịp về hội tụ ở quê cha đất tổ , lần thứ nhất năm 2009 và mới đây nhất là ngày 26-9-2012 .
Tại hội nghị này đã cho chúng ta thấy phần lớn bà con người Việt ở hải ngoại đều có tấm lòng hướng về đất nước , nhìn nhận một cách rất khách quan về những thuận lợi cùng với những khó khăn và thách thức phía trước cho sự tồn vong của dân tộc. Không khí ấm áp của hội nghị đã nói lên những tình cảm của tất cả những người con gốc Việt trong và ngoài nước. Những lo lắng suy tư về công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước lúc nào cũng là vấn đề được bà con quan tâm nhất .
Trong các bài phát biểu , tham luận của các kiều bào đại diện cho các vùng và lãnh thổ có người Việt Nam cư trú trên khắp thế giới đã nói lên điều đó . Điều đặc biệt trong hội nghị lần này điều quan tâm nhất của bà con kiều bào là vấn đề bảo vệ biển đảo đã được Thiếu Tướng Nguyễn Thanh Tuấn cục trưởng cục tuyên huấn quân đội nhân dân Việt Nam gải tỏa bằng bài phát biểu và thông báo cho bà con hải ngoại những điều mà từ trước đến nay được coi là “vùng nhạy cảm” thì nay nó đã được khẳng định tính nhất quán trong vấn đề đối với Trung Quốc mà từ trước gọi là “nước lạ”, “tàu lạ” …vv..
Trong những năm gần đây, nhiều Việt kiều từng giữ những cương vị cao trong chính quyền Sài Gòn cũ, những doanh nhân , trí thức, văn nghệ sĩ đều trở về nước và được  Nhà nước tạo mọi điều kiện tốt nhất để sinh hoạt, làm ăn, hoạt động tôn giáo, nghệ thuật. Bà con trong nước cũng dành tình cảm chân thành của những người “cùng máu đỏ da vàng” cho những ai trở về đóng góp xây dựng và bảo vệ quê hương, không phân biệt đối xử hay có định kiến. Điều này thì cờ vàng CCCĐ không thể bịt mắt bà con trong cộng đồng được.
Các nhóm phản động lưu vong CCCĐ đã xúi giục, cưỡng ép một số người mang “cờ vàng”  ra biểu tình, la ó, thể hiện sự vô tri , vô giác , ngu xuẩn , đi ngược lại xu thế tất yếu của thời cuộc. Đây là những hành vi vừa kéo dài hận thù, chống lại hòa hợp, hòa giải dân tộc, vừa thể hiện tính cách côn đồ , quái thú “phi quân tử”, vô văn hóa..của bọn đội lốt người mà người ta thường gọi chúng là CCCĐ , bọn chúng chỉ là kẻ “ăn mày dĩ vãng” không hơn không kém .Chúng không cư xử đúng với truyền thống của người Việt. Dân tộc đã có hơn 4000 năm văn hiến trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn , đất nước ngày càng thịnh vượng , trong, ngoài đoàn kết . Những kẻ có dã tâm phá hoại nếu cần thì dân tộc này sẽ gạt họ qua một bên trên con đường tiến lên phía trước.
Houston tháng 10-6 -2012
Amari tx
Categories: Uncategorized | 3 phản hồi

Đảng cộng sản việt Nam và vai trò gánh vác lịch sử dân tộc

 

Bùi Tín cái tên không xa lạ gì với người dân trong nước và ở hải ngoại. Người trong nước gọi ông ta là kẻ “phản bội”, kẻ “đào tẩu”, kẻ “ngậm máu phun vào lịch sử”. Người Việt hải ngoại thì gọi là kẻ “phản tỉnh”, kẻ “sám hối” tên “đặc công đỏ”.v.v… Nói về Bùi Tín thì có rất nhiều bài viết về con người này, chúng ta không bàn luận về quá trình phản bội, nhân cách của ông ta. Trong bài này đề cập đến một vấn đề mà Bùi Tín mới viết bài đăng trên website đài VOA nói về “Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa XI họp lần thứ năm  để bàn về sửa đổi hiến pháp hiện hành”.

Đọc bài của ông Bùi Tín viết  cho ta một cái nhìn về con người ngoan cố, xảo trá, nguỵ biện, bản chất thâm căn cố đế của một kẻ “ngửa mặt phun nước bọt lên trời”. Bùi Tín cùng với các băng nhóm cờ vàng CCCĐ(chống cộng cực đoan) ở hải ngoại gào thét trên các diễn đàn đòi xoá bỏ quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng CSVN. Bùi Tín viết: “Đảng CS Việt Nam đã đến lúc cần nghe rõ mong muốn nóng bỏng của đông đảo nhân dân là thiết lập một nền dân chủ đa nguyên hiện đại, điều kiện tiên quyết để hòa nhập hoàn toàn với thế giới dân chủ hiện đại. Lúc này đã là quá chậm. Không thể làm mất thêm thời gian của nhân dân, của dân tộc. Hãy chuẩn bị một cuộc họp Quốc hội lịch sử theo hướng ấy. Cũng cần tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề cực kỳ hệ trọng này.”

Nghe Bùi Tín và cờ vàng CCCĐ hô hào về nền “dân chủ đa nguyên hiện đại” mà Đảng CSVN cần phải “thiết kế gấp rút” mà thấy nực cười, giọng lưỡi y hệt đám phường chèo ở hải ngoại cứ làm như họ yêu nước đến mức “ngày quên ăn, đêm quyên ngủ” lo cho vận mạng của dân tộc. Đảng chẳng có gì là bí hiểm, cao siêu đến mức mọi người khó hiểu. Rất đơn giản là :
Đảng CSVN là một tổ chức chính trị tập trung nhiều người có chung một mục tiêu, lý tưởng tồn tại trong một chế độ xã hội. Mục tiêu của đảng là tham chính. Mục tiêu tối thượng là giành và giữ quyền lực nhà nước.
Lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy, các cuộc cách mạng lật đổ chế độ xã hội hoặc thay đổi lực lượng cầm quyền. Đến lượt mình khi đã trở thành đảng cầm quyền, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, mà họ lựa chọn chế độ đa đảng hay độc đảng.

Trên các trang mạng của cờ vàng CCCĐ phản động vẫn có những giọng điệu đòi Đảng CSVN, nhân dân Việt Nam phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn. Để phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phủ nhận giá trị đích thực Cách mạng của 90 triệu dân Việt Nam đã đổ không biết bao nhiêu xương máu mới giành được, các tờ báo mạng cờ vàng CCCĐ viết xuyên tạc rằng: “Sau 66 năm gọi là độc lập, người dân đến nay vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ, vẫn chưa có quyền công dân, vẫn như bơ vơ lạc lõng trên chính quê hương mình” và CCCĐ lập luận rằng, nguyên nhân là từ chế độ chủ nghĩa xã hội theo hệ tư tưởng Mác – Lê Nin ?

Nếu chúng ta tìm hiểu mối quan hệ giữa một Đảng chính trị với chế độ xã hội, cờ vàng CCCĐ đã cố tình hoặc không hiểu biết về chính trị đã bỏ qua nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác, như bối cảnh lịch sử cụ thể của từng nước đến vấn đề an ninh quốc gia, xã hội. Theo họ, mối quan hệ giữa chế độ đảng lãnh đạo với dân chủ là mối quan hệ duy nhất. Đây là một sự lập luận ấu trĩ mang tính chủ quan phi thực tế.

Chúng ta đã biết ở nhiều quốc gia thường không có một chế độ đa đảng hoặc một lãnh đạo – cầm quyền thuần khiết. Trong chế độ đa đảng, bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặc lãnh đạo, có khi kéo dài nhiều thập kỷ. Trong chế độ một đảng cầm quyền thì thường được bổ sung bằng sự tham gia của nhiều tổ chức xã hội.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh đã có thời kỳ trên đất nước Việt Nam có nhiều đảng, nhưng những đảng khác không vượt qua được những thách thức của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam gánh vác sứ mệnh lịch sử của dân tộc. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, cứ mỗi lần vượt qua khó khăn, thách thức thì Đảng CSVN đã thể hiện bản lĩnh vững vàng và trách nhiệm lớn lao đối với vận mệnh của dân tộc.

Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam không có một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được những cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cờ vàng CCCĐ có biết rằng trong một xã hội, chế độ đa đảng tuy có những điểm giống nhau song không phải là một. Về mặt hình thức, sự tồn tại nhiều đảng và chế độ đa đảng giống nhau ở chỗ đều là số lượng các đảng, phái nhiều. Tuy nhiên, đa đảng chỉ phối hợp nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc do một đảng lãnh đạo, cầm quyền thì đó không phải là chế độ đa đảng, mà đơn giản chỉ là sự đa đạng của các tổ chức xã hội. Về bản chất, đó vẫn là chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền.

Chế độ đa đảng là một hình thái chính trị, là sự cạnh tranh về quyền lực lãnh đạo đất nước. Mỗi đảng thường là đại diện cho các lực lượng chính trị khác nhau, các nhóm lợi ích khác nhau lý tưởng, mục tiêu khác nhau, thường là đối lập với nhau về nhiều mặt. Đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Nói chung ở các nước tư bản, về hình thức, đa đảng chính trị trong cuộc đấu tranh nghị trường đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế chỉ có các đảng lớn, có thế lực mới có khả năng chiến thắng và bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặc lãnh đạo. Thí dụ như, hai đảng thay nhau cầm trịch là Cộng hoà và Dân chủ tại Mỹ.

Trên thực tế có những quốc gia sau sự thay đổi đảng cầm quyền đã làm đảo lộn chính trị được mệnh danh vì dân chủ đã trở thành đảng độc quyền của những lực lượng chính trị thắng thế. Đảng độc quyền đó có thể chiếm giữ tài sản xã hội thành tài sản của một đảng thắng thế, và đương nhiên nó sẽ phục vụ cho những người sở hữu nó. Đảng đó đã đi ngược lại lợi ích dân tộc.

Cờ vàng CCCĐ có biết được rằng đa đảng cũng có hai mặt của nó, chế độ đa đảng ở phương tây về thực chất, cũng là dựa trên cơ sở thống nhất một mục tiêu chính trị, vì tất cả các đảng đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Đa đảng đưa lại một số tác động tích cực nhất định cho các đảng tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ khả năng tránh nguy cơ độc quyền, độc đoán, thông qua cọ xát, kiềm chế, đối trọng lẫn nhau.

Tuy nhiên, thể chế đa đảng cũng kích thích các lực lượng đối lập vì lợi ích của phe nhóm phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền đưa ra, bất chấp phải – trái, đúng – sai, không tôn trọng những lợi ích chính đáng của nhân dân, cản trở mục tiêu mà đảng đang cầm quyền hướng tới.

Các tổ chức CCCĐ với những mưu đồ kêu gọi dân chủ cho Việt Nam thực chất đó là dân chủ giả hiệu, đây không chỉ là nhằm tuyên truyền lôi kéo các tổ chức chống Việt nam trong và ngoài nước, mà là tham vọng thay đổi thể chế chính trị Việt Nam, tạo tiền đề cho các đảng phái chính trị “ruồi bu” ở hải ngoại như Đảng Việt Tân, Liên minh dân chủ nhân quyền, Đảng Nhân dân hành động, Đảng Dân chủ Việt Nam.v.v… Những đảng này không chỉ là những tổ chức chính trị chống cộng mà còn là những tổ chức mang tính chất khủng bố, hoạt động nhằm lật đổ Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Điều này hoàn toàn đi ngược lại Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc của Luật quốc tế.

Đồng thời, việc tuyên truyền cho quan điểm đa đảng của họ còn nhằm tạo cơ hội cho những tổ chức đảng phái “ma quái” đang trong thời kỳ manh nha tại ở trong nước ra đời như Đảng Xã hội Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam do Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định chủ trương… Phần lớn những kẻ đang tuyên truyền cho đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập cho Việt Nam ở hải ngoại đều đang giữ hận thù với cách mạng hoặc xuyên tạc, phủ nhận thành quả cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, trong đó có cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau 37 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đây là lúc cả dân tộc tự hào và bày tỏ lòng biết ơn các anh hùng liệt sĩ, trong đó có hàng vạn cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã hy sinh thì Bùi Tín và bọn CCCĐ lại kêu gọi “Mọi người yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản thành khẩn xin lỗi toàn dân”! Có kẻ còn coi ngày đất nước được giải phóng là ngày “quốc hận”. Đó là chân dung của những kẻ đang đòi đa đảng ở hải ngoại.

Đa đảng không phải là không tốt, cũng như một đảng không phải là không tốt. Tình trạng quốc hội không thành lập được vì sự tranh dành các ghế trong quốc hội, đảng nào cũng muốn chiếm số lượng trội hơn các đảng khác hòng lợi thế trong các cuộc bỏ phiếu thông qua một vấn đề nào đó trong chính sách. Chúng ta chẳng cần nhìn đâu xa mà ngay bên cạnh đó là Thái Lan, cuộc xuống đường, xung đột giữa những người áo đỏ với Chính phủ đương nhiệm ở Thái Lan. Các xung đột tôn giáo xảy ra tại Miến điện  (10/6/2012) cho thấy những hệ quả của chính sách đa đảng khi mà trình độ nhận thức của người dân về dân chủ còn ở mức độ thấp.

Thiết tưởng giúp cho các vị CCCĐ có thêm các căn cứ để suy nghĩ về những khó khăn, phức tạp của chế độ dân chủ – đa đảng. Thực tế cho thấy, trong một xã hội, chế độ đa đảng với sự đối lập, cạnh tranh, đấu tranh giữa các đảng không phải bao giờ cũng đem lại dân chủ và phát triển cho xã hội.

Đảng CSVN không phải là cái gì đó quá “xa vời”, “siêu tưởng” như các vị cờ vàng CCCĐ gán ghép. Đảng chính là những con người cụ thể tồn tại trong xã hội, trong đó từng đảng viên là người đại diện của Đảng CSVN. Vì họ là những tế bào trong xã hội vì thế, trong quá trình phát triển của mình cũng có lúc, có nơi cán bộ, đảng viên còn vi phạm khuyết điểm, còn thể hiện sự non yếu về năng lực , yếu về tư duy. Khi phát hiện ra những hạn chế, khiếm khuyết cần sửa chữa thì sẵn sàng khắc phục sửa sai ngay. Và Đảng muốn mạnh, muốn giữ vững được vai trò lãnh đạo xã hội của mình, muốn có được lòng tin của nhân dân, không có cách nào khác là Đảng phải tự sửa mình, tự chấn chỉnh mình. Đó là lẽ thường tình và cũng là việc làm thường xuyên của một Đảng cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân.

Cần khẳng định cho  cờ vàng CCCĐ và nước, các tổ chức thù địch với Việt Nam rằng: nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là đi tiếp con đường cả dân tộc đã từng đi hơn tám thập kỷ qua là nối tiếp hiện thực – thực tiễn CNXH đã có, đang có ở Việt Nam, chứ không phải là một “lý tưởng mơ hồ”. Con đường cách mạng mà Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn thể hiện đầy đủ khát vọng của mọi tầng lớp nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là giải pháp tổng quát duy nhất đúng, tối ưu, nhanh nhất và hiệu quả nhất để xây dựng đất nước Việt Nam thực sự dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ta thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc và làm chủ thực sự cuộc sống và đất nước mình.

Đảng CSVN đã lãnh đạo toàn dân tộc vượt lên tất cả những giai đoạn lịch sử thăng trầm, những thành tựu về kinh tế – xã hội, lĩnh vực quân sự – quốc phòng đã có những bước tiến nổi bật và đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Thành tựu bao trùm nhất là: Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, các thành quả cách mạng, tăng cường thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc lớn mạnh hơn nhiều so với trước đây, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường củng cố vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Việt Nam luôn được các tổ chức quốc tế xếp trong tốp các nước có môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho đầu tư phát triển. Điều đó cũng nói lên định hướng đúng đắn trong việc điều hành đúng đắn của một đảng cầm quyền. Điều này các vị CCCĐ không thể phủ nhận được.

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược bảo vệ thành quả của cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng công cuộc đổi mới, hội nhập với cộng đồng quốc tế tạo nên vị thế mới của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Trong lịch sử Việt Nam, dân chủ, nhân quyền do nhân dân ta tự đứng lên mà giành lấy, chẳng có một kẻ nào chia sẻ cho chúng ta những giá trị đó cả. Xã hội Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề nhức nhối, như tình trạng quan liêu, tham nhũng, vi phạm dân chủ, nhân quyền, thì đó là điều Đảng CSVN và Nhà nước VN không mong muốn và đang cùng người dân Việt Nam đang nỗ lực xóa bỏ tình trạng đó.

Nhưng để giải quyết những vấn đề trên, nhất thiết không thể trông cậy vào những lực lượng chính trị đối lập như các đảng phái “ma trơi” ở hải ngoại của bọn cờ vàng CCCĐ dưới bất cứ hình thức nào. Chúng ta phải tự giải quyết lấy công việc của mình, cho dù đó là một công việc  khó khăn.

Như vậy các vị Bùi Tín và cờ vàng CCCĐ đã thấy, dân chủ hay không dân chủ không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa đảng đối lập. Trong từng thời điểm cụ thể, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo, dân chủ trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuôc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.

Đảng cầm quyền phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia. Trước tiên phải đặt lợi ích của cả dân tộc lên trên hết, phải lấy an ninh quốc gia, ổn định và phát triển bền vững làm tiền đề, đương nhiên lựa chọn chế độ nào đều phải được sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số nhân dân, thông qua những người đại diện của mình đó là Quốc hội.

Ngày nay, hơn 190 quốc gia trên thế giới đang tồn tại, với nhiều chế độ chính trị – thể chế quốc gia khác nhau . Ở mỗi quốc gia, việc lựa chọn hệ tư tưởng nào, chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội thể chế chính trị nào đa đảng hay một đảng lãnh đạo, cầm quyền tam quyền phân lập hay phân công phối hợp mô hình kinh tế nào chủ nghĩa tự do hay kinh tế thị trường xã hội, đều thuộc quyền của mỗi quốc gia – dân tộc mà không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vậy thì những tiếng kêu gào của Bùi Tín và các băng đảng “ma trơi” CCCĐ lấy tư cách gì mà đòi Việt Nam đa nguyên, đa đảng ? Thật nực cười cho những đầu óc điên rồ này.

Houston-thang 9-2012
Amari Tx

Categories: Uncategorized | 3 phản hồi

Những kẻ bán linh hồn cho qủy

Trong khi ĐCSVN triển khai nghị quyết trung ương 4 (khóa XI) thì cũng trong khoảng thời gian này xuất hiện nhiều bài viết , các bài phỏng vấn trên các phương tiện truyền thông nước ngoài  nhất là trên mạng điện tử đã xuất hiện những bài viết chống phá Việt Nam một cách dồn dập và quyết liệt . Các nhân vật được “mời hoặc tự nguyện” tham gia viết bài , trả lời là những người ở trong nước mà trước kia đã có một quá trình gắn bó trong tổ chức đảng CS với nhiều chức vụ vị trí xã hội khác nhau . Phải nhìn thẳng vào một sự thật là có những đảng viên CS  có những biểu hiện suy thoái này không chỉ ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đương chức mà còn diễn ra ở những cán bộ, đảng viên trước đây đã có quá trình đi theo Đảng, có cống hiến cho cách mạng nay đã nghỉ hưu nhưng do bất mãn cá nhân, thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thông tin nên ngộ nhận, lao vào “sân chơi” của các thế lực thù địch với Việt Nam, phụ họa theo các quan điểm sai trái, có người viết hồi ký cho rằng trước đây bản thân mắc sai lầm trong thực hiện nhiệm vụ nay “sám hối”, “phản tỉnh”…vv..
Đây là một loại “diễn biến” rất nguy hiểm cho xã hội , vì họ là người có trình độ, có vị thế xã hội và quá trình cống hiến cho cách mạng nên tư tưởng, hành động của họ tác động rất lớn đối với cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước. Đây phải nói là mảnh đất “màu mỡ” cho bọn chống cộng cực đoan (CCCĐ) người Việt ở nước ngoài và các tổ chức phản động khai thác triệt để . Có những cá nhân phát biểu bừa bãi, vô trách nhiệm về việc thực hiện nghị quyết TW4 của ĐCSVN trên các phương tiện truyền thông của các “Mõ làng” như BBC, VOA, RFA, RFI.. như :”Phê và tự phê trong đảng từ xưa đến giờ là một trò hề, chẳng có gì nghiêm chỉnh cả. Nó chỉ là hình thức chứ không phải thực tế”. Họ đã hoà giọng ca với các tổ chức có tư tưởng thù nghịch với Việt Nam thực hiện âm mưu diễn biết hoà bình nhằm loại bỏ quyền lãnh đạo tuyệt đối của ĐCSVN  đối với đất nước , đối với dân tộc .
Ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳ bọn CCCĐ và các tổ chức phản động lưu vong chúng xác định đòn tấn công mang lại hiệu quả mang tính “đột phá” sau khi đã rút kinh nghiệm trong mấy chục năm qua là đánh trực tiếp vào tư tưởng hòng tan rã niềm tin đối với ĐCSVN , gây ra sự ngộ nhận hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra trạng thái “hẫng hụt” mà một khi đối tượng đã “chơi vơi” thì chúng sẽ là người ném chiếc phao “hệ tư tưởng tư bản”, và rồi cuối cùng là xóa bỏ hoàn toàn hệ tư tưởng XHCN. Thực tế đã có một số người mà gần như cả một cuộc đời đi theo Đảng vậy mà đến gần cuối cuộc đời đã bẻ lái sang một hướng khác thể hiện sự tự nguyện “diễn biến” về tư tưởng, công khai xét lại vai trò của Đảng , hùa với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch bên ngoài phát biểu, nhận định một cách mơ hồ vô căn cứ tạo nên những bi quan hồ nghi,  gây chia rẽ mối liên kết hữu cơ giữa Đảng và quần chúng, làm yếu mối liên kết đó dẫn đến tạo môi trường cho sự xâm nhập dễ dàng của mầm bệnh chiến lược “diễn biến hòa bình”. Căn bệnh đó sẽ phát tán nhanh chóng .
Chúng ta hãy nghe một đoạn trả lời trong cuộc phỏng vấn của đài RFA với một cán bộ về hưu là đảng viên CS- khi được hỏi vì sao có người xin ra khỏi đảng thì vị này trả lời rằng : “Đây thực sự chỉ là một hình thức công khai mà thôi, nghĩa là khi có điều kiện thích hợp thì nó bộc lộ ra. Nhưng theo tôi hiểu bên trong có rất nhiều đảng viên chính thức thì chưa ra nhưng họ đã bỏ hoàn toàn những sinh hoạt vì họ mất hoàn toàn niềm tin. không còn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng có thể đưa đất nước đi lên. Cuối cùng thì tôi nghĩ những người có lương tri đều từ bỏ ĐCSVN hết thôi. Nó khác hẳn một thời khác”. Chúng ta thấy kẻ hỏi thì “mớm mồi” người trả lời thì vô trách nhiệm với những phát ngôn của mình , họ có biết rằng chỉ chờ có như vậy chúng hùa vào dựng chuyện , thêm thắt , tô vẽ rồng rắn cho thỏa chí thù hận và đưa ra những kết luận buộc tội  đường lối lãnh đạo của Đảng là sai lầm và độc đoán ?.
Bọn CCCĐ ở hải ngoại và các tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam coi đây những phát biểu đó là “ngòi nổ” cho những buổi phát thanh,youtube , bài viết tung lên các trang mạng internet với những giật tít làm cho bầu không khí “sôi sùng sục” kiểu như là “Thời cơ đã điểm”, cần tranh thủ tối đa cái gọi là “lực lượng cấp tiến” trong Đảng để buộc Đảng phải “chuyển hóa” theo ý đồ của chúng . Chúng đã và đang dồn dập tung ra các quan điểm sai trái, vu cáo, bịa đặt, hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng- Họ đã phát biểu ” chủ nghĩa cộng sản mà đẹp thì nó không phải đẹp về lý thuyết mà về sự không tưởng của nó, tức là một thế giới viễn mơ, một ước mong, một khát vọng, một sự tưởng tượng về tương lai..”.Với cách nói này nó đã làm cho ngay một số đảng viên và nhân dân ta trong nước mất phương hướng và đặt mối nghi ngờ chứ chưa nói đến đồng bào ở hải ngoại có tấm lòng hướng về đất nước và đang đặt niềm tin vào chế độ đang cầm quyền. Và chỉ chờ có vậy chúng nhanh chóng triển khai kế hoạch lôi kéo bà con tăng cường truyền bá tư tưởng cực đoan,  ra sức tuyên truyền về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng quần chúng vào những kế hoạch chống lại đất nước.
Để thực hiện âm mưu bọn CCCĐ ở hải ngoai mà đặc biệt là tại Mỹ cùng với các tổ chức phản động kết hợp với các thế lực không thiện cảm với Việt Nam chúng đã tập trung phê phán, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những luận điệu ngày càng thâm hiểm hơn , bọn chúng tập trung nghiên cứu đưa ra những luận điểm cái gọi là “tử huyệt”- từ chỗ bóp méo, xuyên tạc, đến công kích, quy kết học thuyết này “sai lầm từ gốc rễ”, gán cho CNXH những tội ác độc tài, diệt chủng , phê phán “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”…
Có vị với học vị tiến sĩ đã trả lời phóng vấn trên “Mõ làng” RFA rằng “..chúng ta càng phát triển cái nền kinh tế nói là kinh tế xã hội chủ nghĩa nhưng mà thực chất là kinh tế tư bản chủ nghĩa, có nghĩa là càng đổi mới thì càng phá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, thế mà cái chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn được ghi vào điều lệ là nền tảng tư tưởng” ?- phê phán và bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, đòi “đa nguyên”, “đa đảng”, “chia tay ý thức hệ”, sám hối, trở thành “kẻ ăn mày dĩ vãng”, từ bỏ CNXH, ca ngợi CNTB. Tệ hại hơn có người nói nếu đi theo con đường CNXH là có tội với dân tộc ? rồi bình luận lập lờ vòng vo hoặc suy diễn trực tiếp quy nguyên nhân về phía chủ trương quản lý của Nhà nước, làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Đảng, Nhà nước, với con đường mà toàn dân tộc đã lựa chọn.
Hàng ngày,hàng giờ chúng tung lên mạng, tán phát tài liệu, từ xuyên tạc về lý luận đến vu cáo trong thực tiễn nhằm làm xói mòn lòng tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; ra sức bịa đặt, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước với mưu toan chia rẽ, kích động lật đổ chính quyền.
Ngọn đòn tấn công của chúng được tăng cường về cường độ, kết hợp nhiều lực lượng trong ngoài, lợi dụng tối đa  Internet trên mạng xã hội và blog.Chúng ta cũng phải thấy rằng việc xử lý những sai trái về tư tưởng đặc biệt là những bài viết, phỏng vấn, hồi ký, phát ngôn… không kịp thời và nghiêm khắc, đã có tác dụng xấu khi nó phát tán ra ngoài cộng đồng xã hội mà đặc biệt là kiều bào ở nước ngoài bộ phận này sức “đề kháng” yếu vì nhiều lý do do công tác đầu tư tuyên truyền chưa tương xứng . Một số cán bộ, đảng viên trong nước biến chất về chính trị, công khai phê phán bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước .
Có cán bộ đảng viên biến chất về chính trị đã móc nối với  bọn phản động người Việt lưu vong CCCĐ để chống lại  dân tộc và chế độ XHCN ở Việt Nam . Số này ngoài việc công khai biểu hiện quan điểm chống lại Đảng, Nhà nước, còn viết bài, cung cấp tài liệu về tình hình trong nước cho các thế lực thù địch chống Việt Nam. Với khuynh hướng chính trị phản động, kích động đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam . Họ có những câu trả lời vô trách nhiệm và mơ hồ khi được phóng vấn rằng .”Tôi có thể khẳng định là ngay trong Bộ Chính Trị đã có sự phân rã nếu như chúng ta còn giữ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Chủ nghĩa Mác-Lênin này nó làm cho chúng ta nhầm lẫn giữa ý thức hệ và dân tộc, ý thức dân tộc và ý thức hệ tư tưởng” ?.
Sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước Việt Nam trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới đang đặt ra hàng loạt vấn đề phức tạp, tác động đến tư tưởng nhân dân trong và ngoài nước , đòi hỏi công tác tuyên truyền giáo dục với quần chúng là vô cùng quan trọng. Đồng thời phải cương quyết quét sạch những “tổ mối” đang ẩn nấp trong “thân đê” , hiểm họa là đây- một khi cơn lũ điên cuồng của bọn CCCĐ ở hải ngoại kết hợp với các thế lực thù địch đang ngày đêm rình rập chờ cơ hội thực hiện ý đồ đen tối với đất nước Việt Nam .
Houston : ngày 20-9-2012
Amari TX
Categories: Uncategorized | 4 phản hồi

Họ không phải là quan tòa!

Dân tộc Việt Nam có một bề dầy về lịch sử  và một nền văn hiến lâu đời . Trong hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước , mặc dù có hàng ngàn năm bị đô hộ của ngoại bang nhưng vẫn quyết đứng lên giành lại độc lập , đó là cách thể hiện nhân quyền cao nhất của một dân tộc . Và sau này cả dân tộc Việt Nam tuyên bố với thế giới bằng bản tuyên ngôn độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo. Đó là một tuyệt tác , nó nhắc lại một lần nữa bản tuyên ngôn độc lập của cường quốc Hoa Kỳ năm 1776. Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng là bản tuyên ngôn về nhân quyền cho dân tộc Việt Nam ,về ý nghĩa nó bao trùm tất cả những điều mà loài người tiến bộ trên toàn thế giới theo đuổi .
Một nguyên tắc cơ bản nhất bảo vệ quyền con người đó là các nước nhỏ chống lại tham vọng tước đoạt độc lập , chủ quyền của các nước lớn , chống lại áp bức , chống lại kiếp làm nô lệ , chống lại bạo quyền , chống độc tài . Bất cứ một sự can thiệp nào của nước lớn vào công việc nội bộ của một nước mà chính phủ đó do dân bầu ra , chính phủ đó vì dân thì sự can thiệp chỉ là một cái cớ áp đặt hòng thao túng theo ý đồ nước lớn . Dân tộc Việt Nam sẽ phản đối đến cùng sự áp đặt đó , quyền con người được tôn trọng và ngày càng thăng hoa khi chủ quyền quốc gia được giữ vững , đó là điều kiện tiên quyết .
Một dân tộc trải qua hai cuộc chiến tranh thần thánh được cả thế giới ngợi ca về lòng quả cảm , về nhân phẩm con người thì không có một lý do gì lại không bảo vệ thành quả xương máu đó mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ một quốc gia độc lập. Vậy mà , ngày 11-9-2012 hạ viện Hoa Kỳ thông qua hai cái gọi là dự luật về nhân quyền đối với Việt Nam là H.Res.484 và H.R.1410.
-Dự luật 484 do Bà dân biểu Loretta Sanchez khởi xướng kêu gọi Chính phủ Việt Nam tôn trọng các quyền con người cơ bản và chấm dứtt việc lạm dụng các điều luật về an ninh như điều 79 và điều 88 Bộ Luật Hình sự lấy chúng làm cớ để bắt bớ những người chỉ ủng hộ quyền tự do tôn giáo và chính trị một cách hòa bình ?
-nghị quyết H.R. 1410 do ông dân biểu Chris smith khởi xướng - đặt mục tiêu thúc đẩy tự do và dân chủ ở Việt Nam thông qua điều tiết các khoản tăng viện trợ phi nhân đạo của Mỹ cho chính quyền Việt Nam gắn với các cải thiện có thể chứng thực được trong hồ sơ nhân quyền của Việt Nam ?
Hai vị dân biểu này không lạ lẫm gì đối với người dân Việt Nam , đã nhiều lần họ đã cố gắng thúc đẩy lưỡng viện Hoa Kỳ thông qua những cái gọi là những dự luật để vu khống , áp đặt những điều bịa đặt đến phi lý lên một quốc gia có chủ quyền độc lập , một quốc gia đã ký kết tất cả các văn kiện về quyền con người và nỗ lực thực thi nội dung một cách đầy đủ nhất . Là những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp thì các vị dân biểu tại hạ viện Hoa Kỳ phải hiểu rằng , trật tự thế giới này được duy trì trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau , không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau , bình đẳng và cùng có lợi cho nhau , cùng chung sống hoà bình .
Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn cho mình một định chế xã hội và ý thức hệ , mỗi quốc gia độc lập thì tuỳ theo thực tế mỗi nước mà lựa chọn riêng cho mình . Nội dung quyền về con người là một vấn đề riêng của mỗi nước , nó cũng giống như chủ quyền quốc gia vậy , vấn đề về nhân quyền không thể nào tách riêng ra khỏi lịch sử của đất nước đó hoặc những nét đặc thù riêng của từng quốc gia .Vấn đề nhân quyền cho thấy nó đòi hỏi tất cả các nước phải chấp nhận một thực tế là những chuẩn mực của một nước hoặc là một nhóm các nước không thích hợp và thiếu thực tế để áp đặt những chuẩn mực đó lên một nước khác .
Việt Nam coi trọng quyền con người và kiên quyết chống lại sự can thiệp của các nước khác vào công việc nội bộ của đất nước mình . Ỉ là một nước lớn đi hoạnh hoẹ một nước nhỏ thì các vị phải hiểu được rằng giữa chúng ta có một điểm chung là đang sống trong một quốc gia độc lập , nói người khác phải nghĩ đến mình , hãy nhìn lại mình khi cất cao giọng dạy dỗ người khác . Đã là con người thì buộc phải tổ chức thành một xã hội có thể chế chính trị để sống và phát triển hết khả năng của bản thân con người đó , cống hiến nhiều nhất cho cộng đồng , thì dù ở bất cứ ở đâu thì quyền con người được bảo vệ khi người đó là công dân của một nước độc lập .
Thử hỏi có bao giờ Việt Nam lại đòi hỏi Hoa Kỳ phải như thế này , như thế kia trong các vấn đề thuộc về công việc nội bộ hay không ? câu trả lời là không bao giờ . Chỉ có kẻ mang tư tưởng nước lớn khi muốn áp đặt ý muốn của mình lên các nước nhỏ thì họ luôn khoác trên mình một chiếc áo ý thức hệ phổ quát , dùng chiêu bài này để xoá bỏ những đặc thù riêng của mỗi dân tộc , xoá nhoà văn hoá, biên giới lãnh thổ quốc gia , không thèm đếm xỉa đến quyền tự chủ của dân tộc đó , đem ý thức hệ của mình áp đặt lên dân tộc khác . Trong một thế giới có sự xáo trộn mạnh như ngày nay thì nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền là chìa khoá duy nhất để thực thi trật tự trên nguyên tắc cùng sống chung , chỉ có những quốc gia nào hành xử không theo những nguyên tắc chung mà hiến chương liên hợp quốc đề ra về quyền con người thì nhất định quốc gia đó cần có sự can thiệp một cách hợp lý nhất .
Một số vị dân biểu đã cố tình gạt bỏ một nguyên tắc cơ bản nhất đó là chủ quyền quốc gia của một dân tộc hơn 90 triệu con người , một dân tộc có những nét đặc trưng rất thú vị cho các dân tộc khác, một dân tộc trọng tình nghĩa , chia ngọt sẻ bùi với các dân tộc liên bang , một dân tộc đã lấy máu của mình để cứu cả một dân tộc khác , một dân tộc sẵn có lòng vị tha cho kẻ thù đã giết hại hàng triệu người cùng dòng máu , một dân tộc nén nỗi đau của di hoạ chiến tranh vì không muốn khơi lại hận thù , một  dân tộc đi lên từ đống tro tàn đổ nát của cuộc chiến đẫm máu ,
họ đã nuốt mước mắt vào trong để nở một nụ cười, chìa tay ra với các dân tộc khác để làm bạn bè cho dù đó là kẻ thù của ngày hôm qua .
Việt nam đã trải qua tất cả những gì đau thương nhất chỉ một mục tiêu cháy bỏng ” không có gì quý hơn độc lập tự do” , dù có thiêu cháy cả dãy trường sơn thì dân tộc tôi cũng sẵn lòng để thực thi mục tiêu đó . Có đât nước nào mà suốt chiều dài đi đâu cũng gặp những nghĩa trang của những người con Việt, họ đã nằm xuống ở tuổi thanh xuân vì một lý tưởng cao đẹp là độc lập mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ thực sự đất nước mình . Dân tộc Việt Nam đang là chủ nhân thực sự của đất nước mình , họ đang sống , làm việc và vun đắp cho hạnh phúc trường tồn của dân tộc , không một ai có thể tước đoạt hoặc áp đặt một giá trị lạ lẫm lên cuộc sống và văn hoá của dân tộc này , cho dù để bảo vệ phẩm giá thiêng liêng đó phải đối đầu không ít khó khăn , trở ngại nhưng với bản chất kiên trì và tâm hồn trong sáng dân tộc Việt Nam quyết không lùi bước , như cha ông đã dặn dò “chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo ” .
Houston ngày 12-9-2012
 
AMARI  TX
Categories: Uncategorized | 3 phản hồi

Những kẻ hoang tưởng

Ở đất BU(Mỹ) nếu nói không ngoa có vô số hội đoàn của người Việt Nam , thậm chí có hội đoàn chỉ có hai thành viên đó là chồng là “chủ tịch” vợ là “phó chủ tịch-kiêm thủ quỹ”…. , có những hội đoàn hoạt động theo tiêu chí và là những con người có tâm thật sự , nhưng phần lớn các “hội”-”đoàn” lập ra với mưu đồ trục lợi cá nhân về chính trị hoặc tiền bạc của đồng bào .
Có những hội lập ra ngoài chuyện kiếm chác tiền bạc nó lại còn mang hơi hướng “Tâm thần” mà nổi bật nhất có lẽ là hội có tên : “UỶ BAN TỐ CÁO TỘI ÁC CỘNG SẢN” do ông Liên Thành cầm đầu , bản thân ông ta là tên đồ tể giết người ở Huế . Hay trơ trẽn hơn đó là ông TS Nguyễn đình Thắng xúi bà con ôm thùng thuốc nổ TNT (đòi nhà) ở Việt Nam nhào vào nhà trắng hăm doạ BU đổi chác những lá phiếu bầu cử tổng thống.
Có các cuộc hội thảo do các hội đoàn tổ chức mà chủ đề của nó giống như những kẻ “siêu hoang tưởng”  các đạo diễn hollywood cũng không nghĩ ra , nhưng có lẽ cuộc hội thảo mang tên “Khôi phục đất nước VNCH” -do VNCH foundation tổ chức .truyền hình VHN, Fountai Valley, ngày 22-2-2012 , nói: ”Trên mặt pháp lý – VNCH vẫn tồn tại” !! là đứng hàng đầu .
Bốn diễn giả là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, cựu Thẩm Phán Phạm Ðình Hưng, Hòa Thượng Thích Giác Minh và Luật Sư Lâm Chấn Thọ đã thay nhau phân tích “ khía cạnh “ pháp lý của Hiệp Ðịnh Paris 1973 để khẳng định rằng quốc gia Việt Nam trong thể chế Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại cho dù Cộng Sản Việt Nam đã xé bỏ hiệp ước mà họ đã ký kết và được 12 quốc gia cả tự do lẫn cộng sản cùng ký.
Dàn đồng ca của những tên đầu óc “có vấn đề” khẳng định rằng- “Hiệp định Paris vẫn còn giá trị và vô thời hạn. Thời điểm hiện nay đã quá chín muồi trong việc dùng mặt trận pháp lý và ngoại giao để tạo ra những áp lực cần thiết…” Nghe tới đây các giáo sư về thần kinh học chắc té ngất xỉu.
 
Ông Luật Sư Lâm Chấn Thọ- luật sư siêu hoang tưởng nhất hành tinh
Các vị luôn mồm nào là bị “bức tử” ,”bắc Việt vi pham…” nhưng cái cốt lõi vấn đề thì các vị không thèm đếm xỉa tới đó là kế hoạch của BU , vì BU là người nuôi dưỡng cái chế độ này , sau đây là một vài khía cạnh đề cập đến vấn đề ”cai sữa” và quyết định vứt bỏ đứa con ghẻ báo hại BU là VNCH .
Cũng đã có dấu hiệu cho thấy ít nhất chính quyền Sài Gòn đã có lời gợi ý xa xôi về bản hiệp định. Bunker lo ngại về sự nhạy cảm của Kissinger, nên đã giục giã Polgar cảnh báo cơ quan đầu não CIA. Polgar lập tức làm theo với hy vọng ” ngăn chặn mọi sự nghi ngờ và tức giận” có thể xảy ra tại Nhà Trắng nếu thông tin bị rò rỉ ra từ phía Mỹ.
Ngày 16/1, Haig chuyển cho Thiệu một tối hậu thư nữa của Nixon, đe dọa sẽ tố cáo Thiệu là cản trở hòa bình nếu ông ta từ chối ký vào bản hiệp định. Thiệu tiếp tục giữ thái độ ngoan cố của mình, chỉ nói với Haig rằng ông ta sẽ trả lời vào ngày hôm sau.
15 phút sau khi Haig rời đi, Thiệu đến và đọc bức thư của Nixon cho quốc hội nghe. Cuộc thảo luận tiếp sau đó chỉ tập trung vào bàn các biện pháp thực thi, trên cơ sở chiến thuật “một mũi tên trúng nhiều đích” của Thiệu, nghĩa là việc ông ta thể hiện sự ngoan cố của mình là để nhằm bòn rút mọi thứ có thể từ Mỹ trước khi ông ta đặt bút ký vào bản hiệp định.
Những nguồn tin khác cũng cho CIA biết rằng ngày hôm đó Thiệu đã nhượng bộ trước những điều không thể tránh khỏi và sẽ đồng ý ký hiệp định. Haig nhẹ cả người và ông ta sẽ không phải lo lắng về những chiến thuật mà ông ta định sử dụng với Thiệu vào ngày 17.
Thiệu đã trao cho Haig một bức thư gửi Nixon đòi hỏi thêm sự thay đổi nhưng vấn đề đó giờ đã được quyết định. Thiệu chỉ còn mỗi việc là thông báo quyết định của mình cho chính phủ và quân đội của ông ta. Vào ngày 20/1, Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia. Phó Tổng thống Hương vừa khóc vừa mô tả lại phiên họp ảm đạm đó và tự coi mình là kẻ giơ đầu chịu báng.
Hương nói rằng ông ta so sánh Nam Việt Nam với một cỗ xe ngựa đang đứng trên một chiếc cầu đang sập, sẽ gặp nguy hiểm cho dù đi về bất cứ hướng nào và nói về việc ký vào hiệp định như một thứ đỡ tệ hại nhất trong số những thứ tệ hại. Sau khi để cho Phó tổng thống nổi tiếng về việc chống Cộng Hương cầm chịch, Thiệu tiếp tục để cho Hương công nhận cái thực tế mà họ không thể tránh khỏi.
Ngày 23/1, ám chỉ đến việc Mỹ đang gây sức ép đối với việc ký vào bản thỏa thuận, Thiệu nói trong một cuộc họp nội các rằng hiệp định Paris phản ánh một sự đồng thuận giữa Mỹ, Trung Quốc và Liên bang Xô Viết; sự chấp thuận của Nam Việt Nam là điều không thể tránh khỏi.
Khi BU nói thì phải nghe !
Nhưng ông ta tin rằng việc ông ta không chấp nhận thoả thuận hồi tháng 10/1972 đã giúp ngăn cản một kết quả bất lợi hơn; kết quả của đợt ném bom trong Lễ Giáng sinh, như Thiệu nói, là sẽ ngăn cản hoạt động quân đội miền Bắc ở miền Nam trong ít nhất là 3 tháng nữa.
Nhưng Thiệu không hề hiểu rằng ông ta đã thuận theo những áp lực mà Nhà Trắng đã áp đặt lên ông ta như thế nào. Haig đã nói với đại sứ Bunker sau lễ ký hiệp định rằng Thiệu không thể không chấp nhận hiệp định này được.
Tổng thống Nixon đã hứa sẽ đón tiếp Tổng thống Thiệu khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, và ông ta đã thực hiện lời hứa của mình khi ông mời Thiêụ tới thăm Nhà Trắng phía Tây ở San Clemente vào đầu tháng 4. Đại sứ Bunker và trưởng văn phòng CIA tại Sài Gòn đã có mặt trong đoàn của sứ quán. Ngày 31/3, Polgar đã tới sân bay sớm để đến San Clemente và ông ta gặp tướng Szuecs người Hungary.
Tướng Szuecs có mặt là bởi ông ta phải đón Tư lệnh quân đội của chính phủ cách mạng lâm thời. Khi họ chờ máy bay hạ cánh, Szuecs đã chỉ vào 2 sĩ quan Cộng sản dẫn một đội danh dự của quân đội miền Bắc từ Ủy ban quân đội liên hiệp Paris uỷ thác và hỏi Polgar: “Ngài có biết những người này không?”.
Polgar nói rằng, không biết và Szuecs đã giới thiệu Polgar với một chỉ huy người miền Bắc Việt Nam trẻ tuổi, Szuecs nói bằng tiếng Anh rằng Polgar là “một trong những nhân vật quan trọng nhất của sứ quán Mỹ, sau đại sứ Bunker”. Người chỉ huy Việt Nam này đáp lại một cách lịch sự: “Ngài có muốn duyệt đội ngũ không?” và Polgar đã nhận lời mời.
Ngay sau khi đến San Clemente, Bunker phàn nàn với Polgar rằng ông ta không được mời tới dự bữa tối duy nhất mà Nixon mời Thiệu. Ông ta nghĩ rằng Thiệu sẽ thấy điều này là khó hiểu. Polgar đương nhiên là đồng ý, và ông ta nói vấn đề này với Kissinger, người đã rất “tức giận” khi khám phá ra rằng người chiếm chiếc ghế cuối cùng của bữa tiệc là H.R.
Haldeman, Chánh văn phòng của Nixon. Haldeman đã từ chối đề nghị rút lui khỏi bữa tiệc của Kissinger và Ngoại trưởng đã đến gặp trực tiếp Tổng thống. Nixon cuối cùng đã quyết định để Bunker tham dự.
Những rắc rối không chỉ dừng lại ở giai thoại này. Kissinger rất thân thiện với Polgar và đã một lần mời ông cùng ăn sáng. Nhưng rút cục là nhà bếp do văn phòng Halderman điều hành đã không mang tới bất cứ thứ gì cho họ tại phòng của Kissinger ngày hôm đó. Họ không bàn gì nhiều về những việc đại sự nhưng ngay buổi chiều hôm đó, đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam vừa được bổ nhiệm Graham Martin đã gõ cửa phòng Polgar.
Ông ta đã nghe kể về bữa sáng, và theo như Polgar nhận thấy trong cách thức “bí ẩn và lôi cuốn” của Martin, thì Martin có vẻ lo lắng vì sợ rằng Polgar sẽ có thể bỏ qua ông ta mà bàn luận thẳng mọi việc với Kissinger. Nhưng Polgar đã đảm bảo với Martin rằng, là trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn, Polgar phải làm việc cho đại sứ và cho dù cuộc gặp đầu tiên giữa họ khá căng thẳng, họ đã có một mối quan hệ tốt đẹp ở Sài Gòn, sau khi Martin đến nhậm chức vào giữa mùa hè.
Polgar đã ngồi nghe khi Nixon hứa với Thiệu sẽ cung cấp 1 tỷ USD viện trợ quân sự và một tỷ nữa viện trợ kinh tế. Polgar cho rằng chính điều này đã giải thích tại sao Thiệu lại luôn tin rằng Nixon trung thành với chế độ Sài Gòn.
Ngày 4-9-2012
Amari TX
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Ai “bức tử” cờ vàng ?

Có một điều mà bấy lâu nay mấy anh cờ vàng không chịu hiểu hoặc cố tình đánh lận con đen về lịch sử , các anh không bao giờ muốn nhìn vào sự thật , xuyên tạc , bóp méo là căn bệnh ăn vào não trạng thâm căn cố đế , bao nhiêu cái gọi là “hội thảo” , bao nhiêu cái gọi là “tham luận” diễn đạt một cách rẻ rúng và ấu trĩ , chỉ những kẻ tâm thần mới gào lên “chúng ta không thua” ,”chúng ta chỉ tan hàng ” ? Không thua mà chạy tụt quần đến thế ư ? Không thua mà Việt Cộng chưa đến đã kéo nhau bỏ nhiệm sở chạy trốn ư ? Không thua mà để cho mấy anh dân quân du kích áp giải cả đoàn người là lính thiện chiến của quân lực VNCH ư ?- thật dối trá và nguỵ biện – đã nhục lại càng nhục thêm – có một điều chắc chắn rằng những luận cứ rác rưởi của sự nguỵ biện “bức tử” của các anh cờ vàng không còn lừa được cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại được nữa – thời ăn tục nói phét để móc hầu bao của đồng bào đã “Xưa rồi diễm” .

Thì đây – bằng chứng ai là người “cắt cổ” VNCH xin mời lược qua tài liệu sau của BU -Và kết thúc bằng cuộc tổng tấn công như vũ bão của quân giải phóng miền nam trong vòng 55 ngày đêm nó là cái đinh cuối cùng đóng nắp cỗ quan tài VNCH - nếu không các vị cứ muốn là “kẻ đào mộ”  và ôm xác chết 37 năm rên rỉ khóc thương một cách dối trá .
Theo băng ghi âm được Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ giải mật ngày 23/6, cựu Tổng thống Richard Nixon từng dọa cắt đầu lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu nếu ông này không ủng hộ hiệp định hòa bình với miền Bắc Việt Nam.
Tổng thống R.Nixon (phải) và Nguyễn Văn Thiệu. Nguồn: En.wikivisua.com
Khi thảo luận việc chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam tháng 1/1973, Tổng thống Nixon vấp phải rào cản chính trị: Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu không muốn ký Hiệp định Hòa bình Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vì lo sợ sẽ gây tổn thất cho chính mình và chính quyền miền Nam Việt Nam.
Ít giờ trước lễ tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ hai ngày 20/1/1973, Tổng thống Nixon điện thoại cho Cố vấn An ninh quốc gia Henry Kissinger, người sau đó trở thành Ngoại trưởng Mỹ, và yêu cầu ông này ép Nguyễn Văn Thiệu ủng hộ Hiệp đình Hòa bình Paris.
Sau khi nghe tin về việc ký kết hiệp định hòa bình, Tổng thống Nixon gọi cho vợ, bà Pat Nixon: “Kissinger đang trên đường trở về và chúng ta đã có được hiệp định. Tôi sẽ thông báo vào 10 giờ tối nay trên truyền hình”, Tổng thống Nixon nói với Đệ nhất Phu nhân. “Thật tuyệt vời, thật phi thường”, bà Pat Nixon trả lời.
Tổng thống Nixon cũng yêu cầu Kissinger nói với lãnh đạo VNCH rằng Quốc hội Mỹ sẽ cắt đứt viện trợ dành cho chính quyền Sài Gòn nếu họ không ủng hộ cho hiệp định hòa bình. Đây là một phần trong các cuộn băng ghi âm dài 150 tiếng cùng khoảng 30.000 trang tài liệu khác vừa được giải mật.
“Tôi không biết liệu lời đe dọa có đủ mạnh hay không, nhưng tôi sẽ làm bất kỳ điều gì, thậm chí cắt đầu ông ấy (Nguyễn Văn Thiệu) nếu cần thiết”, Tổng thống Nixon nói qua điện thoại.
Cố vấn An ninh Quốc gia Kissinger, người ký hiệp định tại Paris ba ngày sau đó, cho rằng vấn đề này sẽ dễ dàng hơn nếu mạnh tay với Ngoại trưởng VNCH Trần Văn Lắm, người đang có mặt ở Paris (Pháp) để tham dự đàm phán về hiệp định hòa bình.
“Ngoại trưởng (Lắm) là người ngu muội và ông ta không thể làm nên trò trống gì”, Kissinger trả lời Tổng thống Nixon.
Tuy nhiên, theo một cuộn băng khác, khi gặp Ngoại trưởng Lắm cuối tháng 1/1973 tại Nhà Trắng, Tổng thống Nixon lại hứa sẽ làm bất kỳ điều gì có thể để trợ giúp chính quyền VNCH. Sài Gòn được giải phóng tháng 4/1975 sau khi Tổng thống Nixon từ chức (tháng 8/1974) vì vụ bê bối Watergate.
Trong bài phát biểu cay đắng trước khi di tản, Nguyễn Văn Thiệu cáo buộc Mỹ không giữ lời hứa bảo vệ chính quyền VNCH và chỉ trích chính quyền Nixon ép ông ta ký Hiệp định Hòa bình Paris.
Băng ghi âm cũng cho biết Tổng thống Nixon muốn ông Kissinger ký được hiệp định để đưa Mỹ thoát khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam trong danh dự. Trong cuộc trò chuyện ngày 23/1/1973 với Kissinger, Tổng thống Nixon nhấn mạnh:
“Chúng ta được nghe rằng việc nước Mỹ dính líu ở Việt Nam làm tổn hại thế giới. Nếu chúng ta kết thúc cuộc chiến tranh này bằng sự thất bại, với việc đầu hàng, trao trả tù binh, Trung Quốc và Nga sẽ hạ thấp chúng ta trong các cuộc đàm phán và châu Âu cũng sẽ không còn xem chúng ta là đồng minh đáng tin cậy”.
Cựu Tổng thống Nixon qua đời năm 1994. Nguyễn Văn Thiệu qua đời năm 2001 tại Boston (Mỹ).
Amari TX Ngày 1-9-2012

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Blog at WordPress.com. Theme: Adventure Journal by Contexture International.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.