Hãy để “Mọi con sông đổ về biển cả”!

Tác Giả: Amari TX – VHN.NET

Hình ảnh

Tối 23 tháng Chạp (23/1), Chương trình nghệ thuật Xuân quê hương 2014
mừng kiều bào về quê ăn Tết đã diễn ra ấm cúng tại Hoàng thành Thăng Long.

Với 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động và học tập tại 103 nước và vùng lãnh thổ con số ngày càng tăng lên nhanh chóng. Theo đánh giá của UBNNVNVNONN ” vai trò quan trọng của kiều bào trong ngoại giao chính trị , ngoại giao kinh tế và đặc biệt trong ngoại giao văn hóa ngày càng được khẳng định. Nhưng vẫn còn một bộ phận nhỏ người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳ trong tâm trí của họ vẫn mang sự thù hận một cách “bất thường”. Đành rằng mỗi một dân tộc trên trái đất này cũng có những mặt tốt, xấu đan xen lẫn nhau nhưng có lẽ một bộ phận nhỏ người Việt ở hải ngoại chống cộng cực đoan (CCCĐ) là một trong những bộ phận người Việt chất chứa nhiều mâu thuẫn bên trong nhất. Họ đã để cho sự xung đột bên trong của mình tồn tại dai dẳng , phi lý  và cái giá chắc chắn đắt nhất đó là thời gian. Các mâu thuẫn cứ liên tục xuất hiện, đấu tranh và giằng xé lẫn nhau một cách “lạ lùng”. Một vết thương mà 39 năm đã trôi qua không lành miệng vì thái độ  cực đoan đến mức phi lý của một số nhóm người.

Một quy luật tự nhiên mà con người luôn chấp nhận và cùng chung sống và tôn trọng cái quy luật đó là: dòng sông tuy rằng có sự hợp nhất của vô vàn dòng chảy trong hành trình chảy ra đại dương mênh mông, vậy mà dòng sông đó nó luôn có một bên lở và một bên bồi. Nhưng hai bờ đó không bao giờ ngăn cản con sông chảy ra biển. Ấy vậy mà, một sự thật  đã và đang diễn ra mà càng ngày bộc lộ sự non kém về chính trị, ấu trĩ về tư duy của bộ phận người Việt ở hải ngoại cực đoan . Hiện tượng phe cánh xô bồ, đấu đá trong tổ chức ở hải ngoại đã làm mất đi sức mạnh thật sự của đồng bào, mất đi tình đoàn kết quý báu của phần lớn người Việt còn có lòng với quê hương đất nước. Thật đáng tiếc, trong cộng đồng có một số người đã nhận thức lệch lạc, họ cố bám víu vào một quá khứ thù hận do ngoại bang đem đến đất nước Việt Nam những cuộc chiến tranh tàn khốc, dai dẳng, họ chối bỏ những gì mà cả một dân tộc đang nỗ lực cùng chính phủ làm nên bộ mặt mới của đất nước, họ đã vì mục đích cá nhân, phe nhóm sẵn sàng chà đạp lên lợi ích cộng đồng. Còn đối với lợi ích quốc gia, phẩm giá của dân tộc thì họ dửng dưng xem nhẹ. Thậm chí, họ còn không tiếc lời xúc phạm, phỉ báng, miệt thị chế độ xã hội tại Việt Nam. Trên mặt trận truyền thông để phục vụ cho phe nhóm của họ thì sao ? Đa phần những diễn đàn trên mạng đều do tổ chức hoặc cá nhân điều hành, những ai muốn tìm hiểu về đời sống văn hoá, chính trị của người việt hải ngoại thì ôi thôi ! họ như lạc vào trận đồ bát quái. Bằng những giọng điệu xuyên tạc, bằng những từ ngữ hạ đẳng , bẩn thỉu họ chửi bất kỳ ai mà họ không ưa dù là cộng sản hay không cộng sản. Khi thấy nhà nước Việt  Nam rộng mở cửa đón tiếp người Việt từ hải ngoại về thăm quê hương,  làm kinh tế và đầu tư, mời chuyên viên đem tài năng về giúp nước hoặc khi thấy  con em từ trong nước sang Mỹ du học thì họ nhân danh là “người việt quốc gia” đấu tranh cho dân chủ, tự do và vì lý do ấy họ tự cho mình quyền mạt sát chính quyền Việt Nam lẫn bất cứ ai đóng góp công sức, trí tuệ, của cải để xây dựng đất nước. Những  ngôn ngữ mà họ sử dụng hàng ngày , hàng giờ xả ra trên các trang mạng cực kỳ đốn mạt, nó đi đến tận cùng của thứ văn hoá lưu manh. Một khi cực đoan thì làm cho nhóm người này rối loạn phương hướng, khi mà hễ thấy có ai phát biểu hay làm việc gì mà họ “gai mắt”, thay vì cần suy xét kỹ càng thì họ không thèm kiểm chứng, chẳng cần tìm hiểu mục đích sâu xa của công việc mà người đó đang làm, họ kết luận ngay đó là hành vi tiếp tay cho  “Cộng sản” và không ngần ngại quy kết họ là “Việt Cộng nằm vùng” !

Thiết nghĩ, bất cứ một con người nào cũng có một quá khứ, dù đó là một quá khứ đau buồn nhưng sau 39 năm  nó chỉ còn là kỷ niệm, một khi đất nước chuyển sang một thể chế chính trị khác. Thực tế quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn lui vào lịch sử. Không thể cứ luôn núp bóng dưới danh xưng “cộng đồng người Việt quốc gia” để thực hiện mưu đồ của cá nhân và phe nhóm. Đối với họ, cái gì “tổn hại” đến cái gọi là ”cộng đồng người việt quốc gia” đều xấu và phải bị trấn áp, vậy xin hỏi “cộng đồng” là ai vậy? chẳng lẽ cộng đồng người VN hải ngoại chỉ bao gồm những người to tiếng hò hét nhất, có những hành động lời nói lố bịch nhất? lúc nào cũng đòi hỏi mọi người phải nhìn nhận tổ chức băng đảng , hội đoàn họ là chuyện quan trọng nhất trên đời này!? Các thế lực cực đoan trong cộng đồng người Việt ở đây đã phát động chiến dịch bao vây, khống chế các cơ quan truyền thông, nhà báo chân chính, vì họ đã không làm theo cái gậy chỉ huy của bọn họ, tức là không có những bài vở bôi nhọ, xuyên tạc hình ảnh đất nước Việt Nam, không vu khống, la lối cái gọi là “chính sách độc tài, độc trị của cộng sản”, đã thế, lại còn phát động các cuộc biểu tình lôi kéo các vị nghị sĩ trong quốc hội Mỹ nhằm “Phong tỏa” mối bang giao của Việt Nam với nước sở tại và các đối tác trên thế giới trong mọi lãnh vực vv … và một khi không làm theo ý của họ thì lập tức các cơ quan truyền thông, nhà báo đó bị chửi rủa, bị khép tội, bị chụp mũ, bị vu vạ. Họ sẵn sàng nổi giận có những phát ngôn văng mạng nếu ai đó nói ngược lại ý muốn những tiêu chí phi thực tế của phe nhóm họ. Đã từng có những tuyên ngôn thật cực đoan như thể “kẻ nào không giống ta -theo ta là kẻ thù của ta”. Tất nhiên, những con người chủ trương sống như vậy luôn muốn bóp chặt ý nghĩa đa dạng của đời sống, luôn muốn biến xã hội muôn mầu trở  thành một mầu ảm đạm. Và khi đó xã hội thay vì đa sắc vận động đã trở thành một sưu tập sống bầy đàn.

Những  ngày kỷ niệm 30 tháng Tư, trước đây gọi là Ngày “Quốc hận”, “Tháng Tư Đen” lôi  kéo cả trăm, có nơi cả ngàn người dự mít tinh, biểu tình, thì nay không còn “Rầm rộ” như trước nữa, âu đó cũng là quy luật. Nếu không tha thứ, hoà giải dân tộc, thì nhóm “nguời Việt quốc gia” theo  chủ trương hận thù mãi sao? chẳng bao lâu sẽ gửi nắm xương tàn nơi xứ người lạnh lẽo, mà  chẳng bao giờ được cảm thấy niềm xúc động rạt rào khi trở về mảnh đất quê cha đất tổ thân yêu, hay  những niềm vui tràn đầy thấy lại và hoà mình vào đám đông tại những phố phường,  thôn dã ở đó mình đã lớn lên, và gặp lại những bà con, bạn bè thân thương của  những năm trẻ tuổi sôi động xa xưa. Những người cực đoan này nên nhớ là khi ông  Jefferson thảo Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ vào năm 1776, ông đã soạn đi soạn  lại và, theo lời yêu cầu của các đại biểu Quốc hội Cách mạng đầu tiên, ông xóa  bỏ đoạn văn lúc đầu kết án cả dân tộc Anh và Nghị viện Anh,mà ghitrong văn bản  chung quyết là chỉ kết án hoàng gia anh mà thôi.

Sau khi rút khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ đã cô lập hóa Việt Nam với chính  sách cấm vận hai chục năm trời, làm điêu đứng Việt Nam và khi hai nước tái lập  bang giao, Việt Nam lại là nước muốn và cần giao hảo tốt đẹp với Mỹ hơn là ngược  lại. Những người có tư tưởng hận thù dai dẳng, họ chỉ là một phần của cộng đồng Việt hải ngoại, còn biết bao nhiêu người khác nữa, với biết bao nhiêu ý tưởng, cảm nhận,  cách nhìn cuộc sống khác. Một đất nước không thể mạnh lên nếu chúng ta không thuận theo xu thế của thời đại. Ở vào những thời điểm đầy thách thức, mỗi người dân Việt cần thể hiện lòng yêu nước của mình bằng những công việc, hành động cụ thể nhằm góp phần xây dựng quốc gia hưng thịnh. Muốn vậy phải phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hơn 90 triệu người Việt Nam chung sức đồng lòng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời tỉnh táo, linh hoạt nhưng kiên quyết gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở những bằng chứng lịch sử, pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng không cho phép bất cứ cá nhân, thế lực nào lợi dụng để hành động đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, lợi ích của đất nước. Đấu tranh là quyền của mỗi người, họ có quyền tự chọn cho mình một cách nào đó để tìm kiếm chiến thắng. Nhưng có thể khẳng định rằng,  đấu tranh cực đoan không thể gặt hái thành công trong bối cảnh thế giới hòa nhập này.

Ngay cả trong chiến tranh, sự cực đoan trong tư tưởng sẽ dẫn đến chai cứng , mất cái mềm dẻo , mất bình tĩnh, dẫn đến hữu dũng vô mưu. Mà đã “vô mưu” thì thường là thất bại. Chỉ cần đặt một câu hỏi  thôi: Nếu như 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa, chế độ Cộng Sản mà các vị muốn đập tan nó vẫn chưa sụp đổ, các cụ  (vì tuổi trung bình của cờ vàng chống cộng hải ngoại hiện nay khoảng từ 60 đến 80 ) sẽ làm gì ? Đố các cụ trả lời được. Nếu họ tiên liệu được điều này thì đâu có suy nghĩ và hành động ấu trĩ đến cùng cực như vậy. Biến thù thành bạn đã rõ trong lời tuyên bố trong bài thuyết  trình đầu năm 2005 của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là Marine, theo ông:“rõ ràng là bây giờ Việt Nam và Hoa Kỳ  không có bất đồng về chiến lược (no strategic ifferences)” và “Hoa Kỳ tôn trọng  chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dứt khoát chống mọi âm mưu phân  ly hay các đe dọa khác tại biên giới Việt Nam. Chúng ta có nhiều lãnh vực chung  quyền lợi về an ninh vùng và an ninh thế giới. Sự hợp tác về quốc phòng hiện nay là bước đầu để cùng  đương đầu với các thử thách về an ninh trong thế kỷ 21.”  Sẽ là chưa muộn đối với những ai qua sự việc lố bịch này, có ý thức tự mình điều chỉnh hành vi, cách nhìn đối với đất nước của dân tộc  đang chuyển động mạnh mẽ trên con đường đổi mới và hội nhập, ngày càng nhận được sự ủng hộ rộng rãi và sự đánh giá cao của bạn bè quốc tế.


Hoa Kỳ   tháng 4-2014
Amari tx

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Khởi Thủy Từ Niềm Tin Yêu !

 

Tác Giả: John Lee (Amari tx) - VHN.NET 
 Hình ảnh
Tôi từng được nghe bài hát “Tấm áo mẹ vá năm xưa”, “Bộ đội về làng”… trên đài VTV4, chương trình dành cho kiều bào ở xa tổ quốc. Bài hát với ngôn từ sâu lắng, mộc mạc, da diết lột tả mối quan hệ gắn bó keo sơn tình quân dân: “Các anh về mái ấm nhà vui/  tiếng hát câu cười rộn ràng trong xóm nhỏ/ Các anh về tưng bừng trước ngõ / Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau/ mẹ già bịn rịn áo nâu/, vui đàn con ở rừng sâu mới về/…. Tên gọi “Anh bộ đội Cụ Hồ” đã trở nên thân quen với nhân dân Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay đó là nét độc đáo của Quân đội nhân dân Việt Nam, bởi vì trên thế giới hiếm có quân đội nước nào mà nhân dân lại lấy tên vị lãnh tụ kính yêu của họ để đặt tên cho quân đội như ở Việt Nam. Nó thể hiện tình cảm quý mến lãnh tụ và lòng tin yêu của Nhân dân đối với quân đội, đồng thời nói lên tình cảm gắn bó thiêng liêng, ruột thịt giữa người lính đối với lãnh tụ của mình. Chữ “nhân dân” trong tên gọi “Quân đội Nhân dân Việt Nam” xuất phát từ mục tiêu của nó: “Quân đội Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng một lòng với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, tuyệt đối trung thành với nhà nước, với dân tộc !Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Mối quan hệ ruột thịt đó không chỉ đơn thuần là nét đẹp văn hóa truyền thống, mà còn là bản chất của quân đội cách mạng được nhân dân sinh ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc. Từ khi thành lập đến ngày hôm nay Quân đội nhân dân ngày càng lớn mạnh, xây dựng thế trận quân sự vững chắc trong lòng dân. Nét đẹp văn hóa đoàn kết quân dân còn biểu hiện ở chỗ Quân đội luôn lấy dân làm điểm tựa. Trên khắp mọiền đất nước, ở đâu có dân là ở đó có Bộ đội bảo vệ. Thắm đượm tình quân dân cá nước. Tiếc thay, cũng có một số người ở trong nước đã đưa ra ý kiến lạc lõng đòi tách rời mối quan hệ keo sơn gắn bó đó, dường như đối với họ mọi thứ đều dễ dàng cởi bỏ. Như con kỳ nhông, họ sẵn sàng khoác bộ vỏ khác màu hòng thích nghi với môi trường mới mà theo họ là “Thức thời” !? Họ viết, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện truyền thông không có thiện cảm với tổ quốc ở nước ngoài một cách thống thiết, tưởng chừng như họ bóc hết ruột gan ra mà nói, nhưng thực tâm là họ che dấu những mưu đồ đen tối hòng phá hoại mối quan hệ Đảng- Quân đội và nhân dân. Những người này theo tôi nghĩ đúng như cụ Nguyễn Du đã viết họ thực sự là những kẻ “Nói lời rồi lại ăn lời được ngay”! Họ là những kẻ đích thực cơ hội, đối với họ thì quá khứ nhẹ tênh mà tương lai thì xa tít tắp, tất cả đều là những cái không làm họ bận tâm, họ chỉ là những kẻ mê sảng trong thế giới ảo mà các thế lực phản động tung hô với mưu đồ đen tối chống phá tổ quốc Việt Nam. Trong thời gian qua xuất hiện những cái gọi là “Kiến nghị”, “Góp ý” đóng góp vào bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, trong đó có những tư tưởng nguy hiểm, gây chia rẽ trong Đảng, giữa Đảng với nhân dân, đặc biệt là họ đưa ra những luận điểm nghe ra có vẻ rất logic đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Vậy thì thử hỏi những người này rằng: trên thế giới có ở đâu và bất cứ việc gì lại ít nhiều không mang tính chính trị ? Lịch sử ra đời và phát triển của các quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, quân đội trung lập. Quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra nó. V.I.Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…” với lập luận mà những người này đưa ra là: “Do phải “trung với Đảng , nên nhiệm vụ của QĐND VN do Đảng đề ra không phải chống giặc ngoại xâm, bảo vệ dân mà là chống diễn biến hòa bình và bảo vệ Đảng” ? hay như: “Quân đội là tử huyệt của Đảng cộng sản”!? Họ khoét sâu những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý đất nước hoặc những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ để gây phân tâm trong dư luận xã hội , làm xã hội trở nên bất ổn, hòng lôi kéo quần chúng để thực hiện ý đồ đen tối. Theo suy nghĩ của bản thân tôi thấy rằng: một số người lên tiếng đòi hỏi “Phi chính trị hóa” quân đội họ đã rơi vào chiếc bẫy đã giăng sẵn hoặc là họ cố tình hùa theo các thế lực ngoại bang để chống phá đất nước? thực chất đó là âm mưu, thủ đoạn chính trị nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” họ ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cho quân đội bị biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa, làm cho Đảng, nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.Trong thời gian qua theo dõi tôi thấy được là: Đã có nhiều cuộc đối thoại trong, ngoài nước và nhiều bài viết trên báo chí về chủ đề này. Một số hãng tin nước ngoài tận dụng triệt để chủ đề này như một phương tiện hữu hiệu để chuyển sự chú ý của dư luận theo hướng phục vụ cho ý đồ của họ. Có những trang mạng xã hội còn gây nghi ngờ trong nhân dân về chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thậm chí họ còn vu cáo, xuyên tạc rằng Đảng “bán rẻ đất nước” mà quân đội đứng ngoài làm ngơ? Những luận điệu kiểu đó rất nguy hiểm, cần phải cảnh giác bởi nếu không nó sẽ gieo những mầm mống độc hại. Không phải ai và lúc nào cũng phân biệt được sự phê bình xây dựng với sự phê bình phá hoại và trong những lúc trắng đen chưa rõ ràng, dư luận dễ bị lạc hướng, những thiện chí bị lợi dụng bởi những tư tưởng có hại, đầu độc bầu không khí chính trị của đất nước. Nếu chúng ta không ý thức đúng mức những lo lắng của cộng đồng và bị những tư tưởng độc hại chi phối sẽ bị dao động về ý chí, thậm chí bất mãn, ngả theo kẻ xấu, trở thành công cụ cho bất kỳ kẻ nào thừa cơ hội đứng lên khoác áo “nghĩa hiệp” và đưa đất nước đi đến chỗ hỗn loạn cùng với những áp lực xuất phát từ những khó khăn trước mắt về kinh tế và tư tưởng làm cho đất nước ta càng thêm khó khăn. Lịch sử đã để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc về vấn đề này. Như mọi người đã biết, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.

Hiện nay, với kinh nghiệm tác động, can dự vào đời sống chính trị và làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trước đây và một số nước Bắc Phi – Trung Đông vừa qua, họ đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu đó, họ coi quân đội là một đối tượng cần tập trung đột phá, đòi “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, làm mất sức chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, họ đã và đang sử dụng mọi chiêu thức để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, như: Tuyên truyền phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam”, đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, cùng với hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị trong quân đội, xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội cụ Hồ”, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội…vv. Với mục tiêu cao nhất là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những người đang lớn tiếng đòi hỏi những điều phi lý hãy đọc kỹ lời đánh giá sau đây của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra: “Thất bại của Mỹ ở Việt Nam phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa của dân tộc này”. Vậy tôi có thể nói rằng điều thiếu hiểu biết của người Mỹ về dân tộc này đó là: Các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện…”

Các cuộc chiến tranh chính nghĩa ấy là của toàn dân tộc chứ không chỉ riêng có quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong chiến tranh. Lịch sử của dân tộc cho chúng ta thấy khi đất nước có chiến tranh mọi người đều là người lính, cả nước là chiến trường với khí thế hừng hực tất cả cho tiền tuyến, ý chí quyết tâm của cả một dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã huy động sức mạnh tổng hợp cả nội lực và ngoại lực, quốc phòng toàn dân chính là phương châm của Đảng và quân đội nhân dân Việt Nam. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến thắng lợi trong sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định sắt đá rằng :Trung với Đảng, hiếu với dân là bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của người lính  bộ đội Cụ Hồ. Như lửa thử vàng, phẩm chất đó trong lúc vận mệnh đất nước bị đe dọa, vì sự tồn vong của Đảng, của dân tộc càng ngời sáng. Vậy những ai còn mơ hồ về Quân đội nhân dân Việt Nam với “kiến nghị” lạ lẫm rằng:”Phi chính trị hóa quân đội” sẽ là điều vô vọng mà thôi./.

Hoa Kỳ TX – một ngày xuân

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Thành tựu nhân quyền Việt Nam là một thực tế khách quan

Tác Giả: AMARI TX – VHN.NET

Hình ảnh

Dân tộc Việt Nam có một bề dầy về lịch sử  và một nền văn hiến lâu đời. Trong hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, mặc dù có hàng ngàn năm bị đô hộ của ngoại bang nhưng vẫn quyết đứng lên giành lại độc lập, đó là cách thể hiện nhân quyền cao nhất của một dân tộc. Và sau này cả dân tộc Việt Nam tuyên bố với thế giới bằng bản tuyên ngôn độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo. Đó là một tuyệt tác, nó nhắc lại một lần nữa bản tuyên ngôn độc lập của cường quốc Hoa Kỳ năm 1776. Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng là bản tuyên ngôn về nhân quyền cho dân tộc Việt Nam, về ý nghĩa nó bao trùm tất cả những điều mà loài người tiến bộ trên toàn thế giới theo đuổi. Thành tựu nhân quyền Việt Nam là một thực tế khách quan, được đông đảo các nước trên thế giới công nhận và điển hình là việc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tín nhiệm bầu Việt Nam là thành viên của hội đồng này, tại phiên họp diễn ra năm ngoái. Thế nhưng, việc bản ghi nhận về nhân quyền Việt Nam được khẳng định từ chính kiến trong Hạ viện Mỹ đã khiến dư luận chú ý bởi nhiều lẽ. Lâu nay, Việt Nam rất thiện chí trong việc tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức nước ngoài vào tìm hiểu tình hình nhân quyền, từ đó có cách nhìn khách quan, đúng đắn hơn, đồng thời sẵn sàng đối thoại để làm rõ những vấn đề còn khác biệt.
Một nguyên tắc cơ bản nhất bảo vệ quyền con người đó là các nước nhỏ chống lại tham vọng tước đoạt độc lập, chủ quyền của các nước lớn, chống lại áp bức, chống lại kiếp làm nô lệ, chống lại bạo quyền, chống độc tài. Bất cứ một sự can thiệp nào của nước lớn vào công việc nội bộ của một nước mà chính phủ đó do dân bầu ra , chính phủ đó vì dân thì sự can thiệp chỉ là một cái cớ áp đặt hòng thao túng theo ý đồ nước lớn. Dân tộc Việt Nam sẽ phản đối đến cùng sự áp đặt đó, quyền con người được tôn trọng và ngày càng thăng hoa khi chủ quyền quốc gia được giữ vững, đó là điều kiện tiên quyết.Vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại công bố Bản “Phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền thế giới” trong đó có Việt Nam mà các thông tin đó hoàn toàn phiến diện không như thực tế. Vẫn như hằng năm, văn bản này nói chung không có gì mới về quan điểm, về thông tin, nhất là cách tiếp cận có tính chất cường quyền mà nhiều quốc gia đã lập tức phản hồi kịch liệt.

Quyền con người là giá trị chung của các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, thể chế quốc gia và bản sắc văn hóa. Đó là giá trị cốt lõi, đặc trưng của nhân loại. Chính vì vậy, các quốc gia không chấp nhận bất cứ hành động nào nhằm chính trị hóa vấn đề nhân quyền. Một dân tộc trải qua hai cuộc chiến tranh thần thánh được cả thế giới ngợi ca về lòng quả cảm , về nhân phẩm con người thì không có một lý do gì lại không bảo vệ thành quả xương máu đó mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ một quốc gia độc lập. Vậy mà Dự luật HR 1897 lặp lại điệp khúc tố cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền” và đưa ra khuyến nghị nhằm cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam thông qua ràng buộc điều kiện nhân quyền và dân chủ vào các khoản viện trợ phi nhân đạo dành cho Chính phủ Việt Nam, đồng thời cổ súy thái độ cứng rắn hơn đối với Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền và tự do tôn giáo. Những bản đánh giá được nêu ra từ Hạ viện Mỹ, trong đó một số Hạ nghị sĩ có những đánh giá mang tính định kiến về nhân quyền Việt Nam. Chẳng hạn, năm 2013, cơ quan này ra dự luật Nhân quyền Việt Nam HR 1897 kêu gọi siết chặt chế tài với Hà Nội, được Hạ viện Hoa Kỳ thông qua trước hạn. Đây là dự luật do hai nghị sỹ Ed Royce, đảng Cộng hòa, bang California và Chris Smith, đảng Cộng hòa, bang New Jersey, khởi xướng. Mặc dù nhiều báo cáo và dự luật thiếu khách quan nói trên của Hạ viện sau đó bị Thượng viện Mỹ bác bỏ, nhưng sự lặp lại có tính thường niên của cơ quan này khiến dư luận đặt câu hỏi về những lý do, ý đồ đằng sau sự đánh giá có tính áp đặt và sai lạc đó. Hai vị dân biểu này không lạ lẫm gì đối với người dân Việt Nam, đã nhiều lần họ đã cố gắng thúc đẩy lưỡng viện Hoa Kỳ thông qua những cái gọi là những “dự luật” để vu khống, áp đặt những điều bịa đặt đến phi lý lên một quốc gia có chủ quyền độc lập, một quốc gia đã ký kết tất cả các văn kiện về quyền con người và nỗ lực thực thi nội dung một cách đầy đủ nhất. Là những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp thì các vị dân biểu tại hạ viện Hoa Kỳ phải hiểu rằng, trật tự thế giới này được duy trì trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi cho nhau, cùng chung sống hoà bình.

Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn cho mình một định chế xã hội và ý thức hệ, mỗi quốc gia độc lập thì tuỳ theo thực tế mỗi nước mà lựa chọn riêng cho mình. Nội dung quyền về con người là một vấn đề riêng của mỗi nước, nó cũng giống như chủ quyền quốc gia vậy, vấn đề về nhân quyền không thể nào tách riêng ra khỏi lịch sử của đất nước đó hoặc những nét đặc thù riêng của từng quốc gia.Vấn đề nhân quyền cho thấy nó đòi hỏi tất cả các nước phải chấp nhận một thực tế là những chuẩn mực của một nước hoặc là một nhóm các nước không thích hợp và thiếu thực tế để áp đặt những chuẩn mực đó lên một nước khác. Trong một thời gian dài nhiều thông tin về Việt Nam bị một số cá nhân, tổ chức không có thiện cảm  cố tình bôi nhọ,bóp méo,nên việc Chắt lọc thông tin,thái độ góp ý xây dựng,sự tìm hiểu khách quan những tiến bộ,những tồn tại sẽ giúp các bên xích lại gần hơn trong vấn đề này. Đây cũng là lý do mà nhiều năm qua, Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tổ chức có trách nhiệm của quốc tế và các nước vào tìm hiểu và đối thoại thẳng thắn, nắm bắt thông tin chính xác về nhân quyền. Một quan chức bộ ngoại giao đã nói:“Khi họ vào đây, chúng tôi cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho đi tìm hiểu các địa phương. Hôm chia tay đoàn nghị sĩ Nghị viện Châu Âu, khi được hỏi “các ngài thấy thế nào, họ trả lời, quả thực chứng kiến những tiến bộ về quyền con người ở Việt Nam, người ta có câu “trăm nghe không bằng một thấy”, các ngài nói câu ấy, giờ tôi mới hiểu, mới tâm đắc”. Năm 2013, đối thoại Nhân quyền Việt Nam – Hoa Kỳ lần thứ 17 đã diễn ra tại Hà Nội và tại cuộc đối thoại, hai bên đã thẳng thắn trao đổi thông tin về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm, trong đó có các vấn đề liên quan đến nhà nước pháp quyền, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền của người khuyết tật, người đồng tính, việc thực hiện khuyến nghị cơ chế báo cáo UPR, tình hình thực thi và bảo vệ các quyền con người ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong thời gian ở Việt Nam, đoàn Phó Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Baer đã được tạo điều kiện gặp một số cá nhân phía Hoa Kỳ quan tâm và người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Thanh Nghị nói.  “Chúng tôi tin rằng việc Việt Nam và Hoa Kỳ duy trì đối thoại thường xuyên về các vấn đề, trong đó có vấn đề quyền con người, trên tinh thần cởi mở, xây dựng, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau sẽ góp phần tăng cường hiểu biết, thúc đẩy hợp tác, vì lợi ích của nhân dân hai nước”. Bên cạnh đó, một vấn đề cũng hết sức quan trọng là bảo đảm nâng cao khả năng tiếp cận quyền của người dân. Hiến pháp, pháp luật đã ghi nhận các quyền cơ bản của con người, của công dân. Tuy nhiên, khả năng người dân có thể tiếp cận, sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền của mình phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau cũng như phụ thuộc vào mức độ hiểu biết, cơ chế, thủ tục bảo đảm thực thi các quyền. Vấn đề này đặt ra trách nhiệm đối với các cơ quan nhà nước, từ việc phổ biến, tuyên truyền các nội dung mới của Hiến pháp liên quan đến các quy định mới về quyền con người, quyền công dân, đến việc hoàn thiện pháp luật và thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy để bảo đảm thực thi. Trong tuyên bố của mình, Hạ nghị sỹ Faleomavaega hoan nghênh Báo cáo rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Việt Nam vừa được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua ngày 8/2/2014 tại Geneva.  Hôm 7/4/2014, Hạ nghị sỹ Eni Faleomavaega, thành viên cao cấp của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đã thiện chí trao cho Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Cường bản ghi nhận của Quốc hội Mỹ, trong đó ghi lại toàn văn tuyên bố của ông Faleomavaega về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Cũng theo Hạ nghị sỹ Faleomavaega, trong các chuyến thăm Việt Nam với tư cách là Chủ tịch và thành viên cao cấp của Tiểu ban châu Á – Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, ông đã có cơ hội tham dự nhiều buổi lễ tôn giáo tại các địa điểm thờ tự khác nhau, qua đó có thể khẳng định Việt Nam là một quốc gia tạo thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo và đang tích cực bảo vệ các tổ chức tôn giáo theo luật pháp. Bản ghi nhận này sẽ được sử dụng làm tài liệu chính thức của Hạ viện.

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ quy định rõ ràng, đúng đắn và đầy đủ về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước,đã bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người theo các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên. Hiến pháp đã tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992. Đồng thời, Hiến pháp cũng đã bổ sung một số quyền mới. Đó là thành tựu của gần 30 năm đổi mới đất nước, thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. Thử hỏi các vị dân biểu không khách quan khi phát biểu về tình hình thực tế những gì đang diễn ra ở Việt Nam là có bao giờ Việt Nam lại đòi hỏi Hoa Kỳ phải như thế này , như thế kia trong các vấn đề thuộc về công việc nội bộ hay không ? câu trả lời là không bao giờ. Chỉ có kẻ mang tư tưởng nước lớn khi muốn áp đặt ý muốn của mình lên các nước nhỏ thì họ luôn khoác trên mình một chiếc áo ý thức hệ phổ quát, dùng chiêu bài này để xoá bỏ những đặc thù riêng của mỗi dân tộc, xoá nhoà văn hoá, biên giới lãnh thổ quốc gia, không thèm đếm xỉa đến quyền tự chủ của dân tộc đó, đem ý thức hệ của mình áp đặt lên dân tộc khác.
Trong một thế giới có sự xáo trộn mạnh như ngày nay thì nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền là chìa khoá duy nhất để thực thi trật tự trên nguyên tắc cùng sống chung, chỉ có những quốc gia nào hành xử không theo những nguyên tắc chung mà hiến chương liên hợp quốc đề ra về quyền con người thì nhất định quốc gia đó cần có sự can thiệp một cách hợp lý nhất. Một số vị dân biểu đã cố tình gạt bỏ một nguyên tắc cơ bản nhất đó là chủ quyền quốc gia của một dân tộc hơn 90 triệu con người, một dân tộc có những nét đặc trưng rất thú vị cho các dân tộc khác, một dân tộc trọng tình nghĩa, chia ngọt sẻ bùi với các dân tộc láng giềng, một dân tộc đã lấy máu của mình để cứu cả một dân tộc khác, một dân tộc sẵn có lòng vị tha cho kẻ thù đã giết hại hàng triệu người cùng dòng máu, một dân tộc nén nỗi đau của di hoạ chiến tranh vì không muốn khơi lại hận thù, một  dân tộc đi lên từ đống tro tàn đổ nát của cuộc chiến đẫm máu,họ đã nuốt mước mắt vào trong để nở một nụ cười, chìa tay ra với các dân tộc khác để làm bạn bè cho dù đó là kẻ thù của ngày hôm qua. Việt nam đã trải qua tất cả những gì đau thương nhất chỉ một mục tiêu cháy bỏng ” không có gì quý hơn độc lập tự do”, dù có thiêu cháy cả dãy trường sơn thì dân tộc này cũng sẵn lòng để thực thi mục tiêu đó. Có đât nước nào mà suốt chiều dài đi đâu cũng gặp những nghĩa trang của những người con Việt, họ đã nằm xuống ở tuổi thanh xuân vì một lý tưởng cao đẹp là độc lập mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ thực sự đất nước mình. Dân tộc Việt Nam đang là chủ nhân thực sự của đất nước mình, họ đang sống, làm việc và vun đắp cho hạnh phúc trường tồn của dân tộc, không một ai có thể tước đoạt hoặc áp đặt một giá trị lạ lẫm lên cuộc sống và văn hoá của dân tộc này, cho dù để bảo vệ phẩm giá thiêng liêng đó phải đối đầu không ít khó khăn, trở ngại nhưng với bản chất kiên trì và tâm hồn trong sáng dân tộc Việt Nam quyết không lùi bước, như cha ông đã dặn dò “chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo ”./.

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Để Có Ngày Hôm Nay, Cả Một Dân Tộc Đã Đi Trên Con Đường “Máu Và Hoa” !

 Tác Giả:  AMARI TX – VHN.NET
Hình ảnh: Trẻ và lì xì ngày tết....
 Vì Tương Lai Con Em Chúng Ta !
Nhận thức về một vấn đề và suy nghĩ  như thế nào về vấn đề đó là quyền của mỗi người. Thế nhưng dù suy nghĩ như thế nào cũng nên gắn nó với  tình hình thực tế và muốn khách quan nhận thức đúng một vấn đề thì nhất quyết không cực đoan. Người chấp bút phải phân tích làm rõ những vấn đề thực tế khách quan đang diễn ra ngay trong xã hội mình đang sống và có những phép so sánh với khu vực và trên thế giới để đánh giá đúng bản chất của vấn đề chứ không thể suy diễn tuỳ tiện áp đặt. Đọc qua bài viết trên một số trang mạng mà họ hay gọi là “lề trái” của các nhà “Dân chủ” mà bản thân họ  là đảng viên đảng CSVN và trước đây đã có một quá trình trung thành với lý tưởng họ đã lựa chọn là đi theo Đảng, họ đã có những cống hiến cho cách mạng nhưng nay đã nghỉ hưu, nhưng vì một “lý do nào đó”? họ quay ngoắt lại tung hê tất cả và tỏ ra “Ngậm ngùi sám hối” về lý tưởng mình đã theo đuổi. Vậy thì, số người này vì lý do gì mà họ lại có những trò “Lội ngược dòng” khi thể xác và tinh thần đã theo quy luật của tự nhiên “xuống cấp” trong khi những người đồng đội, bạn bè của họ cùng một thời “hoa đỏ” vẫn âm thầm góp sức mình vào những công việc hợp với tuổi tác làm cho cuộc sống đẹp hơn, ý nghĩa hơn. Nhất định họ là những người mà trước đó đã có nhưng bất mãn về một vấn đề nào đó khi đang làm việc hoặc đảm nhiệm một vị trí nào đó trong chính  quyền. Khi đó chiến thuật sống của họ là “Im lặng là vàng”,”một câu nhịn chín câu lành”, “sống chết mặc bay ghế ông thì ông giữ”, khi mà cái chiến thuật sống đó bị quá trình đổi mới đào thải thì đương nhiên sẽ đụng chạm vào họ và đến khi lui về nhường chỗ cho thế hệ kế tiếp năng động hơn, quyết liệt hơn thì lúc đó họ mới mạnh miệng đến bất ngờ.
Các vị này thiếu thông tin nên ngộ nhận ư ? điều này không đúng vì họ vẫn cập nhật đều đặn hang ngày, không những thế còn “Đón đầu” suy diễn nhưng điều chưa xảy ra, lợi dụng các diễn đàn, hội thảo, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến, các phương tiện truyền thông, phụ  họa theo các quan điểm sai trái. Họ ngoài việc công khai biểu hiện quan điểm chống lại Đảng, Nhà nước, còn viết bài, cung cấp tài liệu cho các cơ quan truyền thông việt ngữ ở hải ngoại để các thế lực này xào, nấu, thêm thắt  bức tranh về xã hội Việt Nam một màu đen kịt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Với những luận điểm suy diễn mơ hồ họ nói rằng “Nếu dùng cụm từ “Đảng quang vinh” thì phải dành cho Đảng của thời kỳ ấy, chứ không phải cho bây giờ, vì Đảng bây giờ đã khác rồi”!? vậy thì theo các vị khác là khác ở chỗ nào ? sự thật có khác chăng đó là sự cải tổ mạnh mẽ của Đảng cho phù hợp với sự chuyển biến của thời cuộc đó là sự điều chỉnh tất yếu, xin nhớ rằng điều chỉnh chứ không phải là bẻ hướng. Trong các bài viết của các nhà “dân chủ”  họ luôn tìm cách lợi dụng sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng, đưa ra các quan điểm sai trái cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp, chế độ XHCN không còn thích hợp để làm suy giảm niềm tin của quần chúng đối với chế độ.
Xin khẳng định một điều mục đích của chủ nghĩa xã hội nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao  động”. Chẳng lẽ một điều tốt đẹp như vậy mà các vị lại muốn phủ nhận ư ? thật nực cười. Hiện nay, vấn đề dân chủ và nhân quyền đang được Mỹ và một số nước phương Tây triển khai, cách thức mà họ đang đẩy tới cuộc tấn công về dân chủ, nhân quyền làm cho không ít người cơ hội nghĩ rằng đã đến lúc “phất cờ” lội “ngược dòng” ghi dấu ấn lịch sử ! nhưng họ đâu có biết bản thân nó là một chiến lược để áp đặt các giá trị Mỹ, giá trị phương Tây cho toàn thể nhân loại. Không những thế các nhà “Dân chủ” còn quy kết ở Việt Nam ” Không có tự do, dân chủ: cấm tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, cấm tụ tập đông người (từ 5 người trở lên!), cấm biểu tình yêu nước…Phá, quấy rày, uy hiếp những chủ trang mạng mà nhiều người truy cập, nghị định 72 cấm thông tin trên các trang mạng internet, bắt bớ, bỏ tù các “bloggers” dám phê phán trái của chính quyền, dám đấu tranh đòi dân chủ, đòi đa đảng, đòi tam quyền phân lập, đòi bỏ Điều 4 “!?
Cần phải nói rõ cho các vị thấy rằng, dân chủ bao giờ cũng gắn liền với pháp luật và kỉ luật, kỉ cương. Bất cứ một nền dân chủ nào cũng vậy đều tồn tại trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ không có nghĩa là dân chủ vô nguyên tắc, càng không thể là vô chính phủ. Tự do ngôn luận, tự do báo chí không có nghĩa là tự do đảo lộn các giá trị, không phải cái lối “sám hối”, “dằn vặt” mặc sức phỉ báng những điều mà trước đây các vị thề sống chết với nó. Các vị rên rỉ, kể lể về những đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng dân tộc và sau này là xây dung đất nước ư ? xin thưa điều đó không có gì đáng kể, phải nói ngay thẳng là các vị đang ăn vạ dân tộc này. Trong chiến tranh cực kỳ gian khổ thì bản thân các vị vẫn được sự đãi ngộ gấp nhiều lần so với những người dân trần mình trong mưa bom bão đạn để làm ra những hạt gạo mà ngay bản thân họ không hề nghĩ là mình hưởng trọn nó. Những người lính đã ngã xuống hoặc bỏ lại một phần thân thể trên chiến trường họ có hiện hồn về đòi dân tộc này trả lại mạng sống hoặc phần thân thể đã vĩnh viễn rời bỏ  ? Những bà mẹ Việt Nam anh hùng vĩ đại đã đưa những người con cuối cùng của mình ra trận và các anh, các chị đã mãi mãi không về, liệu các mẹ có bắt đền dân tộc này về sự mất mát đó hay không ? còn rất nhiều….rất nhiều những sự hy sinh của những người chân chính, hồn của họ đã quện non sông đất nước này, họ là sự anh linh của dân tộc Việt.
Dù còn có những hạn chế nhất định trên con đường hoàn thiện, nhưng bản chất chế độ mà Đảng và cả dân tộc này đang theo đuổi là ưu việt, đó không phải tự nhiên mà có, mà đó là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả núi máu xương của nhiều thế hệ  người Việt Nam. Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn và phát huy trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Những luận điệu kiểu ăn vạ và vu khống chế độ, đất nước này khi mà dân trí ngày càng nâng cao thì người dân có những nhận thức, chính kiến riêng của họ thì những gì mà các vị đang “trình diễn” chỉ là trò hề mà thôi.
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

“Chém gió, Chụp Mũ, Kích động Lật Đổ” Đặc Sản Của Một Ông Nghị !

Tác Giả: Amari TX – VHN.NET
Thẩm phán Ngô Thanh Hải (DR)

 
Ngô Thanh Hải là một Thượng nghị sĩ thuộc đảng bảo thủ Canada đại diện cho tỉnh Ontario. Trước khi ông được bổ nhiệm vào Thượng viện Canada, ông ta là một thẩm phán quốc tịch tại thành phố Ottawa, Ontario, được bổ nhiệm vào thượng viện vào tháng 9 năm 2012. Ngô Thanh Hải là Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, một đảng phái chống Việt Nam ở hải ngoại một cách cực đoan. Chúng ta thử tìm hiểu nhân vật gốc Việt này đang là một Thượng nghĩ sĩ của quốc hội Canada có “Tầm cỡ” như thế nào mà có những ngôn từ thuộc loại “Chém gió” có hạng trên các phương tiện truyền thông của các “Mõ làng” việt ngữ ở hải ngoại thuộc loại có số má. Xin thưa rằng:Chức vụ Thương Nghị Sĩ ở Canada khác xa và không như tại Hoa Kỳ, cái chức vụ nghe “Khủng” như vậy nhưng không phải từ cuộc đua tranh quyết liệt giữa các đảng phái trong mỗi kỳ tranh cử, nó không do dân bầu ra mà do Thủ Tướng Canada (Hiện tại là ông Harper, thuộc đảng BảoTthủ) chỉ định, như một món quà trên trời rớt xuống. Đương nhiên ông thủ tướng thuộc đảng phái nào thì quyền lựa chọn “Cánh hẩu” của đảng mình.Thượng Viện của quốc gia này không phải là một cơ quan quan trọng trong việc lập pháp và hành pháp, nghĩa là không có nhiều quyền “sanh sát” như các nghị sĩ Hoa Kỳ. Sự việc mới đây, sau nhiều vụ tai tiếng xẩy ra do một vài ông Thượng nghĩ sĩ vung vít sử dụng công quỹ một cách bừa bãi dư luận phẫn nộ vì đó là tiền thuế của người dân phải è cổ ra đóng, tức nước thì vỡ bờ người dân Canada đề nghị cải tổ như: đòi TNS phải do dân bầu hay giải tán Thượng Nghị Viện vì không cần thiết và tốn kém cho người dân Canada. Trong kỳ Đại Hội đảng Tự Do để sửa soạn kỳ bầu cử sắp tới, lãnh tụ đảng Tự Do là ông Justin Trudeau (con trai cựu Thủ Tướng Canada P.E. Trudeau) còn không mời các ông nghị TNS thuộc đảng Tự Do họp, vì một nguyên cớ đó là để tránh các tai tiếng vì những “vết chàm” gây bất lợi cho đảng này. Tiêu chuẩn để trở thành một nghị viên cũng không có gì là “Ghê gớm” như chúng ta tưởng, nghị viện gồm đủ mọi thành phần trong xã hộ, từ một ông huấn luyện viên khúc côn cầu đến một ông ca sĩ, kịch sĩ hay một cá nhân thuộc thổ dân Da Đỏ…v.v.

Ngày 12 tháng 3 vừa qua. Thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn và đại sứ Việt Nam tại Canada có cuộc gặp gỡ riêng với Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải. Sau đó, trong một cuộc trả lời phỏng vấn với đài Phố Bolsa TV, và theo sự suy diễn tăng thêm phần “Hoành tráng” các “mõ làng” tung tẩy cứ như là ông Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn phải “Cầu khẩn” để “Xin” được gặp ông Ngô Thanh Hải vậy. Và để tránh sự Ngờ vực “Đi đêm” với Cộng sản nên Ngô Thanh Hải phải vời “Mõ RFA” dàn dựng một “Điều trần” trước bàn dân thiên hạ về lòng “Thủy chung” trên con đường chống lại đất nước, dân tộc Việt Nam. Trong buổi “điều trần” lấy lòng các vị CCCĐ ở hải ngoại Ngô Thanh Hải đã có những phát biểu đi ngược lại lợi ích của chính phủ và nhân dân Canada, nó bôi nhọ tất cả những nỗ lực suốt 40 năm mà hai chính phủ, hai dân tộc đã nỗ lực không ngừng. Và một điều đặc biệt là chính phủ Canada đã  thiết lập quan hệ với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi đất nước Việt Nam còn bị chia cắt từ (21/8/1973). Không những thế Canada là thành viên của Ủy ban Giám sát Quốc tế trong gần 20 năm, bắt đầu từ năm 1954, sau khi chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp kết thúc. khi chính phủ Canada có quan hệ “Mật thiết” với cái gọi như Ngô Thanh Hải nói “nhà cầm quyền cộng sản” thì sao ông ta không gào lên phản đối ?
Trong bản tuyên bố gồm 5 điểm chính của Ngô Thanh Hải tại Toronto ngày 24-8-2013 sặc mùi chống cộng, sặc mùi “Khủng bố” ông ta đòi lật đổ “Chế độ cộng sản” tại Việt Nam, ra những yêu sách như những kẻ “Tâm thần hoang tưởng”. Một điều rất lố bịch và ngây ngô trong vai trò một ông nghị: “CSVN đã chiếm trọn Việt Nam gần 40 năm qua, họ đã làm được những gì cho Việt Nam”?! Xin thưa: Chỉ riêng chính phủ Canada  đã làm những việc sau đây với nhà nước “Cộng sản” Việt Nam mà ông “không đội trời chung” như ông đã nói: Canada thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1973, mở Đại sứ quán tại Hà Nội vào năm 1994 và Tổng lãnh sự quán tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1997. Tại Việt Nam, Đại diện cho Canada là Đại sứ quán Canada tại Hà Nội. Canada cũng có cơ quan đại diện là Tổng lãnh sự quán Canada tại thành phố Hồ Chí Minh.Tại Canada, Đại diện cho Việt Nam là Đại sứ quán Việt Nam ở Ottawa. Việt Nam cũng sắp mở cơ quan Tổng lãnh sự tại Vancouver. Canada và Việt Nam đều là thành viên của các diễn đàn đa phương bao gồm ASEAN, trong đó Canada là Đối tác Đối thoại. Việt Nam là nước điều phối hoạt động của Canada trong giai đoạn 2006 – 2009. Canada và Việt Nam cũng là thành viên của Tổ chức hợp tác Kinh tế Châu Á–Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới(WTO), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp và Liên Hiệp Quốc.

Năm 2013, Việt Nam và Canada đã kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (21/8/1973-21/8/2013). Quan hệ hai nước gần đây có những bước phát triển mới với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2012 đạt 1,6 tỷ USD, gấp 20 lần kể từ khi Hiệp định thương mại song phương được ký năm 1995. Đầu tư từ Canada vào Việt Nam đã vươn lên từ vị trị thứ 23 năm 2006 lên tốp 15 nước năm 2012. Cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Canada (CIDA) đã xác định Việt Nam là 1 trong số 20 quốc gia sẽ được Chính phủ Canada ưu tiên hỗ trợ, thông qua nguồn vốn ODA.Về giáo dục, số lượng học sinh Việt Nam du học tại Canada hiện đã tăng gấp 4 lần so với năm 2007. Ngày 14/08/2012, Bộ trưởng Thương mại Quốc tế Fast công bố báo cáo của Hội đồng cố vấn chiến lược giáo dục quốc tế Canada (IES). Báo cáo kiến nghị tập trung vào các thị trường đang tăng, trong đó có Việt Nam. Chính phủ Canada sẽ xem xét các kiến nghị của Hội đồng cố vấn trước khi có phản hồi chính thức và có kế hoạch triển khai chiến lược IES của Canada. Hiện có khoảng 250.000 Việt kiều đang sinh sống ổn định tại Canada.Chưa hết ông Ngô Thanh Hải còn xúc xiểm gây chia rẽ cộng đồng người Việt tại Canada bằng những lời lẽ như một kẻ cực đoan võ biền không xứng là một người làm chính khách:”Đối với Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, một Cộng Đồng chống cộng, đảng CSVN vẫn âm mưu phân hóa và dùng quỷ kế: tiếp xúc với một thiểu số người thân cộng và du sinh không đại diện cho Cộng Đồng, rồi tuyên truyền khống chế được Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Hãy nhìn xem lá cờ đảng CSVN xuất hiện ở những nơi nào ngoài các khuôn viên cơ sở ngoại giao của họ? Nhu cầu của chúng ta ở hải ngoại là đoàn kết gây sức mạnh để thực hiện công tác yểm trợ quốc nội một cách hữu hiệu.”!? Nói về tình quê hương quê cha đất tổ thì khi nghe Ngô Thanh Hải nói thì đến ngay những kẻ thiểu năng trí tuệ cũng “Ngất ngây” cười :”Ông Nguyễn Thanh Sơn cũng ráng thuyết phục tôi về thăm Việt Nam. Tôi khẳng định từ chối. Tôi nói rằng như một người Canada gốc Việt, tôi không về thăm Việt Nam, tôi không về thăm một quốc gia Cộng sản. Tôi ra điều kiện với ông Nguyễn Thanh Sơn rằng nếu mà tôi về thì các ông phải thả những người tù nhân chính trị mà tôi đã đưa danh sách 10 người, đó là Cha Lý, như là Nguyễn văn Hải Điếu Cày, Võ Minh Trí tức là Việt Khang, rồi Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ rồi (Đinh) Nguyên Kha đó…”!?

Từ trước đến nay nhiều người hay thắc mắc cụm từ “thế lực thù địch” chống phá Việt Nam, họ tưởng rằng chính phủ Việt Nam cứ “tưởng tượng” ra điều này thì nhân đây cũng chỉ ra một phần để mọi người “soi” cho rõ: Ngô Thanh Hải là Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, trong cương lĩnh của cái ủy ban này và phương hướng hoạt động của nó với tiêu chí hàng đầu là:”Giải thế chính phủ cộng sản Việt Nam” ông ta nói:”với tư cách là Thượng Nghị sĩ Canada tôi có bổn phận và trách nhiệm đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thả tất cả những người đấu tranh trong nước vì Cộng sản Việt Nam đã vi phạm nhân quyền. Đồng bào hải ngoại là hậu phương của đồng bào quốc nội. Hậu phương ổn định thì tiền tuyến mới yên tâm chiến đấu. Nhiều tổ chức chánh trị ở hải ngoại đã hỗ trợ cho công cuộc tranh đấu ở quốc nội bằng những phương cách khác nhau. Tôi nghĩ các tổ chức chánh trị tiếp tục làm những gì những tổ chức nầy đang làm để nuôi dưỡng những phong trào dân chủ ở quê nhà” và “Trong vòng 4 năm qua tức là thời gian tôi được tín nhiệm vào vai trò lãnh đạo tức là Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương, chúng tôi đã củng cố và kiện toàn 3 mặt trận tranh đấu của chúng tôi. Thứ nhứt là kiện toàn tổ chức tại các cơ sở, đồng thời huấn luyện đoàn viên để tạo ra một sức mạnh tập thể. Cũng ở hải ngoại, chúng tôi đã phát triển Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ VN Tự Do, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Tại quốc nội, chúng tôi đã củng cố lại Ủy Ban Quốc Nội để theo sát những biến chuyển bên nhà hầu có phản ứng chính xác và hữu hiệu. Quý báo chắc đã theo dõi sự lên tiếng và hỗ trợ của LMDCVN đối với những nhân vật bất đồng chánh kiến bên Việt Nam như LM Nguyễn Văn Lý, Việt Khang, Phương Uyên…Tôi quan niệm mặt trận chánh của chúng ta là ở quốc nội, hải ngoại dù muốn dù không vẫn là hậu phương yểm trợ mà thôi”. Vậy là bộ mặt Ngô Thanh Hải đã rõ, tất cả những kẻ quấy rối trong nước, những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam đang chịu án phạt đều do cái “Ủy ban LMDCVN” hậu thuẫn, Ngô Thanh Hải sẽ trả lời ra sao nếu chính phủ và nhân dân Việt Nam kiện chính phủ Canada đang chứa chấp một kẻ “Khủng bố” đòi lật đổ một thể chế nhà nước là thành viên của liên hợp quốc, là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều nước trên thế giới và đang nâng tầm lên đối tác toàn diện với nước sở tại ?
Ấu trĩ về nhận thức xu thế thời đại, cực đoan về chính trị một người như Ngô Thanh Hải liệu có “ngây thơ” như vậy không ? Có thể ông ta chỉ muốn trục lợi cho đường hướng “Làm chính trị” với chức danh chủ tịch LMDCVN tại hải ngoại khi khoác trên mình bộ áo TNS ? Ở hải ngoại biết bao đảng phái, hội hè ra đời nổ vang trời khí thế “Ngùn ngụt” cờ xí bay loạn xạ về để “Giải phóng quê hương”! cuối cùng chỉ là đám hề lừa bịp bà con nhẹ dạ để móc hầu bao cho có vẻ ‘sạch”. Ngô Thanh Hải đừng có “Mộng mơ” như các vị mà chồng làm “chủ tịch” vợ làm “thủ quỹ” nhé.

Bạn đọc tham khảo 2 links dưới đây

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-sen-n-t-hai-about-meet-w-n-t-son-ta-04062014073657.html

http://www.google.com/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=1&ved=0CCkQFjAA&url=http%3A%2F%2Fcaotraonhanban.org%2Findex.php%3Foption%3Dcom_content%26view%3Darticle%26id%3D8098%3Ali-phat-biu-ca-thng-ngh-s-ngo-thanh-hi%26catid%3D23%3Athi-s%26Itemid%3D26&ei=mkVCU6_fKOOg2gXCtYCgBQ&usg=AFQjCNGkkTU-Cc_NI4hce5e2iMrkAcBtXg&sig2=BcFy-ONGLTUsDHxXjxhfjg&bvm=bv.64367178,d.b2I&cad=rja

Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Thói “Bịt Mắt Chém Gió” Của Các “Nhà Dân Chủ”

 

 Tác Giả: John Lee VHN.NET
“Nhà dân chủ” TS Nguyễn Quang A trong một cuộc biểu tình
Thông thường, trí thức được hiểu một cách nôm na là người có một trình độ học vấn ở bậc cao, những đóng góp trí lực của họ là động lực quan trọng trong sự chuyển hóa xã hội. Chính vì vậy nên, các thế lực thù địch cũng đang cố gắng lợi dụng điều này để thực hiện mưu toan của họ đối với Việt Nam. Trách nhiệm xã hội đang đòi hỏi người trí thức có trách nhiệm luôn cẩn trọng trước khi đưa ra quan điểm, ý kiến riêng, bởi vì, không chỉ đơn thuần trên danh nghĩa “tự do ngôn luận” hay có sự “bất đồng quan điểm” để “nói lấy được,” mà muốn đánh giá hay phê phán về một vấn đề, một con người hoặc một luận thuyết, phải nhìn nhận khách quan từ nhiều phía, đặc biệt là từ góc độ giá trị lịch sử, nhân văn, đạo đức, phải dựa trên những giá trị chuẩn mực truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ngày 4-5-2014 trên website của “Mõ làng” RFA có bài với giật Tít “Làm thến nào công lý không bị phỉ báng” có cuộc phỏng vấn TS. Nguyễn Quang A một nhân vật không lạ lẫm gì trên thế giới mạng của các “nhà dân chủ”, được sự “Mớm mồi” của người phỏng vấn vị này đã đưa ra những nhận xét một cách hồ đồ, vô trách nhiệm và đầy ác ý rằng: “Đây là cái bi kịch của ông Hồ Chí Minh, vì ông là người hết sức bất bình trong sự bất công và phân biệt đối xử của thực dân Pháp. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc ông ta phát động một phong trào cách mạng để xóa bỏ sự bất công đó” và “Đáng tiếc là ông Hồ Chí Minh đã áp dụng một phương pháp, một hệ thống mà cái hệ thống đấy đã tạo ra một chính quyền thực sự đã lặp lại những bất công của thực dân Pháp. Thậm chí không chỉ lặp lại mà còn làm trầm trọng thêm, đấy là chế độ độc tài. Rất đáng tiếc là như vậy.” !?. Với những kiểu “phán” như trên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những nhận định, lập luận mang nặng tư duy suy luận chủ quan, vô căn cứ và thiếu khoa học. Vậy họ là ai và những gì là sự thật đằng sau lời nói của họ? Không cần nói cũng có thể biết tác giả của những bài viết xuyên tạc về tình hình đất nước, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ, kích động, phá hoại đường lối của Đảng, đa phần là những người bất mãn về chính trị, trong tâm trí của họ luôn đặt cái “Tôi” lên hàng đầu, họ ảo vọng rằng “Trong biến sẽ làm nên chuyện”  Những điều họ nói rất dễ mê hoặc một bộ phận công chúng còn thiếu cái nhìn phê phán và tỉnh táo.
Thông qua Internet, các blogger, các “nhà dân chủ” trong và ngoài nước cấu kết với nhau, tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước, chia rẽ Đảng với nhân dân, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, vu cáo, bôi đen chế độ Việt Nam. Họ tung ra các quan điểm, nhận định sai trái,hòng đánh vào nền tảng tư tưởng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Họ phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, cho rằng chủ nghĩa Marx-Lenin đã lỗi thời, chỉ thích hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX !? Là người Việt Nam,những con người thuộc đủ mọi thế hệ, nguồn gốc học vấn, biết vượt qua những định kiến để đặt trọn niềm tin vào Ðảng Cộng sản, tận hiến với dân tộc trên con đường đấu tranh vì nền độc lập của đất nước. Tấm gương của các trí thức đó là minh chứng thuyết phục nhất về một ý thức dân tộc chân chính, tuyệt đối vô tư, biết nhận ra và đứng về phía lẽ phải. Cũng thời gian gần đây, trên một số trang mạng có đăng tải những bài viết với nội dung luận bàn về “Những ảo tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng Hồ Chí Minh”; hoặc: “Đảng Cộng sản Việt Nam giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng chỉ nói mà không làm”… Đây là suy nghĩ của những người thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nhưng lại núp dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận, dân chủ, xây dựng, góp ý!? Và Sự thật không thể đảo ngược đó là: Với tư cách là người đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào quá trình “phi thực dân hóa”, làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát khao giải phóng đồng bào mình, dân tộc mình thoát khỏi áp bức bất công, đồng thời đấu tranh để giải phóng tất cả các dân tộc khác trên thế giới thoát khỏi chế độ áp bức của chủ nghĩa thực dân. Xin thưa với “nhà dân chủ” Nguyễn Quang A rằng: Ngài không thể cứ cao đạo cho rằng, mình là người yêu Tổ quốc!  trong khi hành động và lời nói đi ngược lại lợi ích của nhân dân khi nói ngược ngạo rằng: “Tôi nghĩ đó là quá trình tương tác giữa người dân và chính quyền, đây là cách có thể tốn thời gian hơn. Nhưng phải có cả một quá trình mà cả dân tộc này vận động như thế thì mới tránh được sai lầm của ông Hồ Chí Minh, đó là thay một hệ thống áp bức bằng một hệ thống áp bức khác” !?  Ô hay ! sai lầm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đối với đối với dân tộc Việt Nam và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới là ở chỗ nào ? Xin nói cho rõ là: việc đánh giá chuẩn mực đạo đức của một cá nhân, hay giá trị của một luận thuyết, không phải xuất phát từ tiêu chuẩn bên trong của nó, mà xuất phát từ lợi ích của Tổ quốc: “Học thuyết nào cứu được nước, giúp được dân thì sẽ được ưa thích, lựa chọn” Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, bằng ý chí, quyết tâm giữ gìn sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập, tự do trường tồn của dân tộc, đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh để giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và nhân đây cũng xin trích dẫn những nhận xét công minh của một số nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu trên thế giới để xem những “đánh giá” của “nhà dân chủ” Quang A đúng hay sai.
Nói về giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và những cống hiến của Người đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của Việt Nam và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), đã khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.
Nhà báo, nhà sử học Pháp J.Lacuture đánh giá: “Hồ Chí Minh đã làm hồi sinh một dân tộc, thiết lập nên một quốc gia, tiến hành hai cuộc chiến tranh mà căn bản là chiến tranh của nhân dân bị áp bức”.
Tiến sỹ Ahmed – Nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã nhận xét: “Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại khi còn sống và rõ ràng cụ Hồ Chí Minh là một trong số đó; Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”
Nhà báo, nhà hoạt động chính trị Mexico Ignacio Gonzalez Janzen khẳng định rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ xuất chúng của dân tộc mình, một yếu nhân của quá trình phi thực dân hóa trong thế kỉ XX, mà đặc biệt còn là một người thầy vĩ đại trong môn học giành tự do cho các dân tộc,… chủ đề chính của tất cả các nền văn hóa và là mục tiêu hàng đầu của nhân loại”. Còn rất nhiều ý kiến đánh giá của các chính khách, các nhà nghiên cứu, thậm chí của những “đối thủ một thời” của Hồ Chí Minh, họ đều thống nhất nhận định về giá trị lý luận và cống hiến xuất sắc của Người đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.
Giáo sư Paul Mus – Đại diện của Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Trưởng đoàn đàm phán của Pháp với Chính phủ Việt Nam ở Thái Nguyên (5/1947), đã viết: “Cụ Hồ là một trong những người đã đem lại sự kiêu hãnh và sức mạnh cho lục địa châu Á”.
Học giả David Halberstam cho rằng: “Lúc sinh thời, ông Hồ Chí Minh không những đã giải phóng đất nước của ông, mà thay đổi chiều hướng của chế độ thuộc địa ở cả châu Phi lẫn châu Á…”
Học giả Wiliam J. Duiker, người đã dành 20 năm để nghiên cứu về Hồ Chí Minh đưa ra ý kiến: “…người ta cũng không phủ nhận được rằng, sự nghiệp mà ông thúc đẩy và chỉ đạo tạo ra những thời khắc có một không hai trong thế kỷ 20, là đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc ở thế giới thứ ba”
Không chỉ là ý kiến của những học giả chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh, giá trị tư tưởng và những cống hiến của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, còn được một tổ chức bình chọn gồm 300 nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, đưa vào cuốn Từ điển tiểu sử các nhà văn hóa thế kỷ 20 (XX Century culture), do Alan Bullock và R.B.Wodinger (đồng chủ biên), nhà xuất bản Harper and Row ấn hành năm 1983. Trong quá trình xây dựng cuốn sách này, khi thảo luận về Hồ Chí Minh, 300 nhà khoa học đều thống nhất cho rằng: “Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và thế giới thứ ba”
Thưa ngài “tiến sĩ dân chủ” Quang A ! chắc những đánh giá, khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc của UNESCO, của các tổ chức khoa học và những nhà hoạt động chính trị, những học giả có uy tín trên thế giới như trên, ngài có thể phản bác được không ? và một điều khẳng định rằng những đánh giá đó không dựa vào cảm tính, nói mò kiểu “Bịt mắt chém gió” như ngài và các vị “Đồng hội” trên con thuyền “Bauxit” của ngài ! Thực chất đây là suy nghĩ của người thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nhưng lại núp dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận, dân chủ, xây dựng, góp ý!? Với tư cách là người đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào quá trình “phi thực dân hóa”, làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Hồ Chí Minh thể hiện khát khao giải phóng đồng bào mình, dân tộc mình thoát khỏi áp bức bất công, đồng thời đấu tranh để giải phóng tất cả các dân tộc khác trên thế giới thoát khỏi chế độ áp bức của chủ nghĩa thực dân. Mới đây, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN, bà Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, đã có những nhận xét và đánh giá “Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người. Quyền con người có ảnh hưởng tới từng thành viên trong xã hội, chính vì vậy từng thành viên trong xã hội cũng phải tham gia vào việc thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của con người. Chúng ta cần phải tuyên truyền cho mọi người biết về quyền và tự do cơ bản của con người, vì vậy vấn đề chia sẻ thông tin rất quan trọng. Chính phủ Việt Nam cũng cần tiếp tục xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật để hiện thực hóa các cam kết đối với các khuôn khổ pháp lý và thể chế quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan tới nhân quyền”.
Đừng biến mình trở thành những “cái loa” phát ngôn cho lực lượng chống đối chế độ, đi ngược lại lợi ích dân tộc, đất nước. Là người Việt Nam yêu nước chân chính biết vượt qua những định kiến, tận hiến với dân tộc trên con đường đấu tranh vì nền độc lập của đất nước. Là trí thức chân chính phải tuyệt đối vô tư, không tách rời sự tỉnh táo trí tuệ và tỉnh táo chính trị, biết nhận ra và đứng về phía lẽ phải chứ đừng núp dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận, dân chủ, xây dựng, góp ý để trục lợi chính trị cho bản thân mình. Những ý đồ bất minh sẽ bị chính người dân yêu nước chân chính lên án và vạch mặt.

Hoa Kỳ -4-2014
Amari TX

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Sự Lộng Ngôn Của Nhóm Người Gọi Là “Cựu Tù Nhân Lương Tâm”

Tác Giả : Amari tx   (Bài đăng trên tạp chí Nhân Quyền việt Nam tháng 3-2014)

 Hình ảnh

Gần đây, một số người tự xưng khơi khơi là những “Nhà này, nhà nọ” chém vè, chém gió ào ào trên các mạng xã hội, kêu gọi lập hội, kéo bè… để thể hiện cái ta đây là những “Nhân sĩ”, “Ái quốc” theo cái gọi là “Trào lưu tự sướng” đã có những bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, thóa mạ những thành tựu mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã đạt được kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành.

Không những thế họ còn kết bè kiểu “Mèo mả, gà đồng” thành lập hội này nọ, ra những cái gọi là như “Tuyên ngôn”, “Thông cáo” nghe như là một tổ chức có tiếng nói trọng lượng ở trong nước, là đối trọng với Đảng cầm quyền trong nước hòng lừa bịp những người thiếu cập nhật thông tin, và lừa bịp bà con kiều bào ở xa tổ quốc hòng kiếm sự tài trợ, đó là những kẻ có tư tưởng ảo vọng, cấu kết với các phần tử ở nước ngoài chống đối lại Nhà nước Việt Nam. Làm như vậy là ảnh hưởng đến hình ảnh của người Việt Nam ở nước ngoài đồng thời đi ngược lại sự phát triển của đất nước và chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc giữa người Việt Nam đang sống ở nước ngoài với người Việt Nam ở trong nước. Hành vi bất minh đó đáng bị lên án và vạch mặt đó là “Tuyên cáo” được đưa ra tại Việt Nam ngày 18 tháng 02 năm 2014 của một nhóm người với cái nhân xưng rất chi là cải lương, trong lời “tuyên cáo” có viết: “Chúng tôi trân trọng tuyên bố chính thức thành lập Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam” !?  Nói bộc toạc ra thực ra đó là hội “68 tên tội phạm” thì đúng nhất bởi vì đó là nơi tập hợp những kẻ vi phạm pháp luật đã và đang thi hành án. Danh sách “68 Hội viên” ký tên kêu gào  đồng bào ở hải ngoại và các tổ chức ngoại bang can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thì nó đã sặc mùi “Cõng rắn cắn gà nhà” của băng, nhóm này. Một điều nực cười là những tên “Tội phạm” này lấy tư cách gì mà đòi “Đại diện” cho dân tộc Việt Nam, lấy tư cách gì mà yêu cầu nhà cầm quyền phải làm thế này, phải làm thế kia theo yêu sách mang hơi hướng “Tâm thần” như: “Mọi tù nhân phảiđược đối xử như những con người, phải được các tổ chức nhân quyền trong và ngoài nước theo dõi chế độ giam giữ họ” hay như  “Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam đấu tranh cho một nền pháp chế biết đề cao nhân phẩm, tôn trọng nhân quyền, thăng tiến tự do, xây dựng dân chủ theo các chuẩn mực quốc tế, văn minh của nhân loại, được biểu đạt trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và hai Công ước Quốc tế về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội”….v..v đại loại là như vậy. Một số cơ quan, tổ chức nước ngoài và blogger cố tình “té nước theo mưa” xuyên tạc Nhà nước Việt Nam đã “tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia để hạn chế các quyền dân sự, chính trị, quyền tự do ngôn luận,tự do.Trước đó, các phương tiện truyền thông Việt ngữ ở phương Tây và nhiều bloger “lề dân” đã từng bênh vực cho các tội phạm mà họ cho là người “yêu nước”, “tranh đấu cho nhân quyền” là những “Người hùng” dám đương đầu với chế độ!?… Nhưng oái ăm thay những kẻ được tung hứng đó chính là những kẻ phạm pháp bị pháp luật Việt Nam trừng phạt, trong đó nhiều kẻ mang dáng dấp của kẻ rối loạn tâm thần. Trong các bản luận tội khi đứng trước vành móng ngựa thì những tài liệu, chứng cứ thu thập được lại có không ít bài xuyên tạc, bôi xấu, kích động lật đổ chế độ.Tất nhiên, Bộ luật Hình sự chỉ nói những nét cơ bản, không thể ghi hết những hành vi làm tổn hại đến uy tín, sự bền vững của chế độ xã hội qua những ngôn từ kiểu “bóng gió” nhằm trốn tránh pháp luật mà những kẻ chống đối, bài xích chế độ đã cân nhắc, tính toán khi chấp bút. Nhưng dù những người nào đó có thật sự là “Khôn ngoan” đến cỡ nào thì cũng không thể “Bịt mắt”được hết mọi người, và càng không thể trốn tránh được sự phán xét dư luận và sự nghiêm minh của pháp luật. Chúng ta đều biết, bất cứ một nền dân chủ nào cũng gắn với kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Bất cứ sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nào của mỗi công dân trong một xã hội tự do, dân chủ đều không được làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị – xã hội và quyền tự do, dân chủ của những công dân khác cũng như của cộng đồng. Do đó, mọi người phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tất cả những hành động vi phạm pháp luật đều phải bị xét xử. Trong những nơi lưu giữ phạm nhân ở nước ta hiện nay, có người nguyên là tu sĩ, chức sắc tôn giáo và cũng có những người vốn không phải là tu sĩ, tín đồ nào, thậm chí có những người trước đây là cán bộ, đảng viên, nhưng tất cả đều bị xử lý theo pháp luật, vì họ là những người phạm pháp, chứ không phải vì lý do nào khác.

Vậy họ là ai? 68 vị “Hảo hán” đồng ký tên thề thốt ở cái nơi gọi là “Sơn bạc”?  ta phải nói ngay đó là một nhóm người đã có một quá trình ngồi “Bóc lịch” trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhà tù. Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó là: Ở họ có tham vọng chính trị theo kiểu “Đục nước thả câu” “Cháy nhà hôi của” muốn trục lợi cá nhân, đánh bóng tên tuổi,trong đó có cả những người có chức sắc tôn giáo, một số người bất mãn, một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường lầm lạc, chống phá, gây bất ổn xã hội.Nhìn vào các cáo trạng của họ ta có thể thấy rằng, nói chung, mục tiêu chủ yếu của họ  vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công trực diện vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng.Họ  ngộ nhận rằng mình là tài giỏi, xuất chúng, có thể xoay chuyển được thời thế, lật đổ được chế độ, để khi  “cách mạng dân chủ mới” thành công sẽ  làm ông này, bà nọ…, tha hồ hưởng vinh hoa phú quý “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ. Chúng ta thử làm một cuộc khảo sát tên vài vị có danh sách “Hảo hán” trong cái gọi là hội “Cựu tù nhân lương tâm” và hãy thử nhìn vào “tài năng”, “đức độ” của các vị này như thế nào?

Nguyễn Văn Đài bị tuyên phạt 4 năm tù giam,4 năm quản chế.  Lê Thị Công Nhân bị án phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế (2007)-Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên toà, từ năm 2006 đến ngày bị bắt, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã sử dụng Văn phòng luật sư Thiên Ân ở số 10 phố Đoàn Trần Nghiệp (quận Hai  Bà Trưng, Hà Nội) do Nguyễn Văn Đài làm trưởng văn phòng để thực hiện hành vi tuyên truyền, đả kích chính quyền nhân dân và làm ra, tàng trữ, lưu hành nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc nhằm chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Lê Công Định bị tuyên phạt 3,5 năm tù giam,3 năm quản chế (2009), Ngày 20/1, TAND TP HCM đã mở phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm đối với 4 đối tượng Trần Huỳnh Duy Thức (44 tuổi), Nguyễn Tiến Trung (27 tuổi), Lê Công Định (42 tuổi) và Lê Thăng Long (43 tuổi) phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Định thừa nhận mình đã làm ra 33 tài liệu, tàng trữ 24 tài liệu và 32 quyển sách có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 3/2009, Định có tham gia khóa huấn luyện về phương pháp đấu tranh “Bất bạo động” lật đổ chính quyền nhân dân do tổ chức khủng bố có tên gọi “Việt Tân” tổ chức tại Thái Lan. Tương tự như Định, tại tòa, Nguyễn Tiến Trung nói: “Rất ăn năn, hối hận vì những việc làm vi phạm pháp luật của mình trong thời gian vừa qua. Do nhận thức sai, hành vi của bị cáo giờ đây không chỉ ảnh hưởng đến gia đình, cha mẹ, bạn bè mà còn chống lại Nhà nước và nhân dân Việt Nam…” Trái với Trung và Định, tại tòa Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long chưa tỏ ra thành khẩn nhưng vẫn thừa nhận: Do có sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan về các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội, Thức nảy sinh tư tưởng bất mãn với chế độ… Vì vậy, từ cuối năm 2005, Thức thành lập tổ chức chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tên gọi “Nhóm nghiên cứu Chấn” và viết bài tuyên truyền lôi kéo một số đối tượng tham gia tổ chức này hoạt động, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.Thức đã liên hệ chặt chẽ với tổ chức phản động có tên “Đảng dân chủ Việt Nam” cùng Nguyễn Sỹ Bình, Lê Công Định bàn bạc, thống nhất phương thức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như: xây dựng kế hoạch tổng thể dưới dạng cuốn sách có tên gọi “Con đường Việt Nam” nhằm thay đổi thể chế chính trị, đề ra kế hoạch 5 người, nhận trách nhiệm thành lập tổ chức “Đảng xã hội Việt Nam” chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để phát triển lực lượng cho tổ chức “Đảng dân chủ Việt Nam”Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, ngoài việc thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Trần Huỳnh Duy Thức, viết: “Tôi thực sự ân hận về việc làm của mình, tôi xin Nhà nước rộng lượng khoan hồng, miễn giảm hình phạt cho tôi để sớm được về với gia đình…”Nguyễn Tiến Trung, viết: “Tôi đã thấy được các hành vi của tôi là vi phạm pháp luật nghiêm trọng… nay tôi xin được hưởng sự khoan hồng”. Lê Công Định: “Tôi đã tham gia tổ chức Đảng dân chủ Việt Nam nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân… Tôi nhận thức những việc làm nói trên đã vi phạm Điều 79 Bộ Luật Hình sự… Tôi mong các cơ quan pháp luật xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để cho tôi được hưởng sự khoan hồng”. Theo khai báo và thú nhận của họ sau khi bị bắt giam, mọi hoạt động chống phá, bôi nhọ chế độ đều được bọn phản động lưu vong ở nước ngoài chi tiền, trả “lương” hàng tháng. Rõ ràng, hoạt động chống phá  của họ đâu có phải vì nước, vì dân!

Và đây một gương mặt được tung hô là “Biểu tượng của lòng yêu nước” Bùi Minh Hằng: thực chất là con người như thế nào? Sau khi đọc xong những thông tin dưới đây, câu hỏi trên sẽ được trả lời.Theo “trích ngang”, Hằng đã từng có tiền án, tiền sự, cụ thể: Năm 1993: Vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng, TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 9 tháng tù treo, 12 tháng thử thách. Ngày 29/11/1996, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khởi tố vụ án HS về tội cưỡng đoạt tài sản, ngày 19/3/1997 xử phạt hành chính BùiThị Minh Hằng 400.000 đồng về hành vi cưỡng đoạt tài sản, đến 29/3/1997, đình chỉ điều tra vụ án hình sự.Những hành vi dẫn đến việc Bùi Thị Minh Hằng được đưa đi cơ sở giáo dục cũng rõ ràng: Năm 2011 đã 3 lần bị tạm giam vì hành vi gây rối trật tự công cộng. Cụ thể, ngày 2/8/2011 Bùi Thị Minh Hằng có mặt tại phiên tòa xét xử phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ, với vai trò kích động một số người có mặt tại phiên tòa gây mất trật tự công cộng; mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn cố tình vi phạm. Các lực lượng làm nhiệm vụ đưa Hằng về trụ sở công an quận Hoàn Kiếm để lập biên bản, ghi lời khai, ra quyết định xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự ở nơi công cộng đối với Bùi Thị Minh Hằng.
Nguyễn Đan Quế,thường trú tại phường 3, quận 5, TPHCM. Từ sau 30-4-1975 đến nay, Nguyễn Đan Quế tham gia các tổ chức nhen nhóm phản động ở trong, ngoài nước hoạt động chống chính quyền cách mạng ở TPHCM. Quế đã bị bắt giam nhiều lần vào năm 1978, 1990, 2003 và bị kết án hàng chục năm tù tội chống, lật đổ chính quyền nhân dân. Lần gần đây, ngày 27-2-2011, Quế bị cơ quan an ninh điều tra, Công an TPHCM bắt quả tang khi đang lưu giữ, phát tán 60.000 đầu tài liệu kích động, lật đổ. Nguyễn Đan Quế thừa nhận và cũng đã ký xác nhận tài liệu do y soạn thảo ngày 24-2-2011, đã tán phát cho đối tượng phản động trong và ngoài nước nhằm “biểu tình lật đổ chế độ”… Hoạt động chống đối chính quyền của Nguyễn Đan Quế đều theo “kịch bản”, có sự tiếp tiền, hậu thuẫn của các thế lực ngoại bang, bọn phản động trong, ngoài nước.
Nguyễn Công Chính là một mục sư “nổi tiếng” ở Plây-cu, Gia Lai với “thành tích” đánh trọng thương bố đẻ, đốt sách vở học sinh và tội cưỡng dâm, lừa đảo. Nực cười thay, Chính lại  được bọn phản động người Việt lưu vong ở Mỹ tặng “giải thưởng nhân quyền”.
Thích Không Tánh, tên thật là Phan Ngọc Ấn, sinh năm 1943, nguyên quán xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đăng ký nhân khẩu thường trú tại chùa Liên Trì, số 153 đường Lương Định Của, quận 2, TPHCM. Là thuộc hạ của Thích Quảng Độ trong suốt  thời gian dài, Thích Không Tánh đã liên tục được cất nhắc vào các vị trí trọng yếu trong cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (GHPGVNTN), một tổ chức tôn giáo không được thừa nhận ở nước ta.Thích Không Tánh đã trở thành  tay sai đắc lực của Thích Quảng Độ thực hiện những âm mưu, kế hoạch nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước. Thích Không Tánh có một lai lịch bất hảo, đảm nhiệm công tác liên lạc, tổ chức các hoạt động nhằm khuếch trương thanh thế của GHPGVNTN và làm cầu nối thông tin với các tổ chức Phật giáo Việt Nam lưu vong.Mặc dù là tu sĩ, miệng vẫn niệm nam mô và tay vẫn lần tràng hạt, nhưng  Thích Không Tánh lại rất hăng hái tham gia các hoạt động tổn hại đến lợi ích của dân tộc, trái với đạo pháp do Thích Quảng Độ và các thế lực phản động trong và ngoài nước tổ chức. Với cương vị phụ trách các hoạt động xã hội của cái gọi là Viện Hóa đạo, Thích Không Tánh còn được giao nhiệm vụ tiếp xúc, liên lạc với các thế lực phản động lưu vong, đặc biệt là với Võ Văn Ái (giám đốc cái gọi là Phòng thông tin Phật giáo quốc tế tại Pháp).Từ năm 1978 đến 1986, Thích Không Tánh đã bị tập trung cải tạo, do hăng hái tham gia các hoạt động của những phần tử đội lốt tu hành chống phá Nhà nước và vi phạm pháp luật. Đến năm 1987, Thích Không Tánh được trả tự do và thường trú tại chùa Liên Trì (TPHCM). Nhưng cũng giống như Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh vẫn chứng nào tật ấy, lại tiếp tục tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước dưới sự chỉ đạo của Thích Quảng Độ và sự tiếp tay của các thế lực phản động lưu vong. Ngày 2-10-1992, Thích Không Tánh bị các lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước và bị án phạt 5 năm tù giam và quản chế 5 năm sau khi mãn hạn tù.

Trên đây là sơ lược một số “Hảo Hán” có số má trong cái gọi là “Hội cựu tù nhân lương tâm”!?  Những tội trạng họ đã gây ra và các bản án họ phải chấp hành cùng với những lời thú tội như trên thì mọi người có thể nhìn thấy rõ bộ mặt thật của họ đó là : lươn lẹo, đổi trắng thay đen, vu họa, làm gì có cái gọi là “Tù nhân lương tâm” ở trên đất nước Việt Nam này. Họ tìm mọi cách bóp méo, suy diễn, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam bất chấp lẽ phải,cường điệu hóa một vài vụ việc liên quan đến pháp luật từ đó họ hồ đồ kết luận là: đó là “Bản chất” của chế độ. Không những thế họ còn mạnh miệng bôi nhọ quá khứ cách mạng một cách vô liêm xỉ, chà đạp lên giá trị truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng mà Đảng và nhân dân Việt Nam dành cho các anh hùng liệt sĩ đã vì nước hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng như “có cần thiết hay không khi Đảng phát động toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ “? hay “Nếu không có Đảng CSVN thì dân tộc này đã ở một vị thế khác…” !?..v v…kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn vì trước đây khi còn đang làm việc vì có một số vấn đề mà không được “Thỏa mãn” vì cái “tôi” của họ nay đã hạ cánh thì “Trở cờ” hòng thực hiện ý đồ “trong biến thì phất cờ”, Họ nhắm vào điểm cốt yếu đó là :chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ các vùng, mien trên đất nước với âm mưu thâm hiểm hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.  Hướng tới mục đích cuối cùng là làm suy yếu Đảng, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái  nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác mà theo lý luận của họ là sẽ “Dân chủ hơn, sang sủa hơn” !? Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua gần 30 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”!? Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên”!?

Luật quốc tế về quyền con người cũng như pháp luật của các quốc gia đều quy định: Quyền của cá nhân có thể bị hạn chế. Điều 29 của “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” năm 1948 viết: “Mỗi người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân, chỉ phải chịu hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với quyền và tự do của người khác và phù hợp với những  đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Tương tự như vậy, Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng quy định: “Việc  thực hiện quyền tự do ngôn luận” kèm theo những nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe, hoặc đạo đức của công chúng”.Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra quyền tự do ngôn luận, mà Hiến pháp 1992 ghi là “theo quy định của pháp luật”, cùng với những quy định về hạn chế quyền này (Điều 88, Điều 258 Bộ luật Hình sự năm 1999) là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Tất nhiên  ở các quốc gia, pháp luật khó có thể  ghi đầy đủ mọi hành vi phạm tội. Pháp luật Việt Nam cũng như thế. Ở nhiều nước, tòa án có quyền đưa ra những phán quyết không hẳn đã có trong luật mà chỉ có trong những bản án từ trước, được gọi là án lệ. Thế nên, không phải là không có cơ sở pháp lý nào đó mà Hoa Kỳ và nhiều quốc gia châu Âu đã truy nã chủ nhân trang mạng Wikileaks, cũng như nhiều quốc gia Hồi giáo đã kết tội những người xúc phạm đến nhà tiên tri Mohamet.Trong thực  tiễn pháp lý, Việt Nam cũng như  nhiều quốc gia đã đưa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc vào pháp luật. Ở  nhiều quốc gia, theo thể chế quân chủ như Vương quốc Anh, Thụy Điển, Thái Lan… có những quy định pháp luật bảo vệ một số đặc quyền đối với Hoàng gia, trong đó có việc bảo vệ uy tín của nhà vua. Hiến pháp Việt Nam đã đưa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc vào Hiến pháp 1992: “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” (Điều 64). Pháp luật Việt Nam không có những quy định về đặc quyền cho cá nhân, tổ chức. Một số cơ quan, tổ chức nước ngoài và blogger cố tình xuyên tạc Nhà nước Việt Nam đã “tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia để hạn chế các quyền dân sự, chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do sử dụng internet”!?Trước tình hình như vậy, các  “nhà dân chủ” lại cố tình coi đó là  “bất đồng chính kiến”, là sự phân hóa, chia rẽ xã hội… Điều đó không phải thiện tâm mà là sự ngộ nhận và là dã tâm mang nặng tư tưởng thù địch. Một sự thực hiển nhiên, rằng: trong xã hội ta chưa bao giờ dân chủ lại phát huy cao độ đến như vậy. Và, đó chính là sức sống, sức mạnh của nền dân chủ và chế độ XHCN mà  Đảng và nhân dân ta đang ra sức xây dựng và bảo vệ. Bởi, có chế độ dân chủ, có tấm lòng trong sáng, yêu thương,người dân mới nói những điều tâm huyết, thẳng thắn, xây dựng chế độ dân chủ XHCN ngày càng hoàn thiện. Các “nhà dân chủ” ngộ nhận rằng, Việt Nam  đi theo chủ  nghĩa Mác – Lê-nin, theo con đường XHCN là “con đường chết”. Theo đó, vấn đề “tìm đường cứu nước” lại phải đặt ra. Việc đó giờ đây do chính những “nhà dân chủ mới” đang tiến hành, và đây là cơ hội để họ làm cuộc “cách mạng dân chủ mới” theo mô hình tự do, dân chủ phương Tây.

Những kẻ phạm pháp lập ra cái gọi là “Cựu tù nhân lương tâm là những kẻ có những hành vi có hại cho đất nước, cho nền độc lập tự do của đất nước, cho chủ quyền thì đương nhiên họ ta phải bị pháp luật nghiêm trị, xử lý. Không phải riêng gì họ mà bất cứ ai có những hành vi có hại cho đất nước, cho nền độc lập tự do của đất nước, cho chủ quyền đều phải bị nghiêm trị. Đó là điều chính đáng.Đây không phải là vấn đề tự do ngôn luận. Cũng không phải chúng ta hạn chế ý kiến của người dân phát biểu đối với các vấn đề của đất nước. Nhưng việc phát biểu ý kiến phải trong phạm vi quyền công dân. Còn một khi đã vi phạm về luật pháp thì phải bị xử lý theo luật pháp.Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tạo điều kiện cho mọi người dân được thể hiện quyền dân chủ củamình qua việc tham gia những ý kiến đóng góp về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, dân sinh… tại các diễn đàn công khai. Nhà nước rất cần và rất khuyến khích sự đóng góp của tất cả người dân trong mọi mặt phát triển của đất nước.Vấn đề dân chủ theo tôi phải gắn với trách nhiệm của công dân. Mọi ý kiến của người dân góp ý về một vấn đề gì của đất nước, của cộng đồng phải xuất phát từ toàn cục và mang tính xây dựng. Muốn có dân chủ, phải có trình độ dân trí và điều kiện tiếp cận thông tin để có suy nghĩ đúng về tình hình thực tế của đất nước. Không có trình độ, không có thông tin thì không thể nhìn một cách đầy đủ được.  Những ý kiến đóng góp này dù có thẳng thắn, gaygắt, trái ngược cũng đều được Đảng và Nhà nước tiếp thu một cách trân trọng và coi đây là tấm lòng đáng quý đóng góp xây dựng đất nước phát triển. Việt Nam hiện nay tuy còn nhiều khó khăn, nhưng là đất nước ổn định, bình yên, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế đang diễn biến phức tạp, tác động mạnh đến nền kinh tế, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ,Việt Nam vẫn giữ được
tốc độ tăng trưởng và phấn đấu tăng. Đất nước Việt Nam có được như ngày hôm nay, rõ ràng là nhờ sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, nhờ sự hy sinh, nỗ lực của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước. Đó là lý do, đông đảo nhân dân Việt Nam kiên quyết không để cho những phần tử “Cựu tù nhân lương tâm” tiến hành một lần nữa những hoạt động sai trái, lật đổ Nhà nước XHCN Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân./.

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Những Kẻ Tiếm Danh “Lòng Yêu Nước” !

Tác Giả: Amari TX (John Lee) – VHN.NET

 

000_Hkg9489125-600.jpg
Biểu tình chống Trung Quốc Ngày 16-3-2014 của nhóm “Nhâ sĩ, sĩ phu yêu nước” !

Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng nhất trong những điều thiêng liêng nhất là phẩm chất cao quý trong truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, nó đã được chứng minh một cách hào hùng qua từng giai đoạn của thăng trầm của lịch sử. Nhưng thể hiện lòng yêu nước như thế nào? Thể hiện lòng yêu nước đúng cách, phù hợp sẽ ích nước lợi nhà, rất nhiều trường hợp góp phần cứu nguy cho dân tộc. Trái lại, thể hiện lòng yêu nước không đúng cách, không tính đến yêu cầu của từng thời điểm lịch sử, không quan tâm đúng mức đến những khía cạnh phức tạp và nhạy cảm của thế sự thì không những lời nói, việc làm ấy gây phản cảm trong xã hội mà có khi còn có thể làm hỏng đường đi nước bước trong đại sự của một quốc gia. Lòng yêu nước là một thứ quí giá, nó là một vũ khí không có thứ vũ khí nào thay thế được trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt. Không chỉ thế, nó còn thăng tiến nhân cách của cả một dân tộc dưới con mắt ngưỡng mộ của các dân tộc khác. Tuy nhiên nếu lòng yêu nước bị sử dụng một cách phi pháp, nó sẽ đẩy dân tộc chìm trong bạo lực đau thương…
Những kẻ nhân danh “Nhân sĩ, sĩ phu yêu nước” các “Nhà dân chủ mới” đã khai thác triệt để cái thiêng liêng nhất để trục lợi cho bản thân và phe nhóm trong thời gian qua. Đúng lẽ thì họ những người mang dòng máu việt, lẽ ra phải đồng tâm đồng lực cùng toàn dân tộc đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam xây dựng một đất nước phồn vinh, quốc phòng vững mạnh thì ngược lại  họ cố tình hà hơi tiếp sức cho thế lực bên ngoài chống phá lại tổ quốc, như những con thiêu thân họ lao vào viết những lời xuyên tạc phát tán tài liệu vu cáo vô căn cứ nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, bắt người vô cớ, họ kích động gây chia rẽ nội bộ, mối quan hệ láng giềng mà Đảng và chính phủ Việt Nam luôn theo gương cha ông là: “giữ sự hòa khí là đối sách hàng đầu”. Họ đã xuyên tạc một cách ấu trĩ rằng: “Ngày 19-1-1974, ngày 17-2-1979 và ngày 14-3-1988 là ba ngày lịch sử cần được chính phủ Việt Nam công khai tuyên dương và tưởng niệm để khẳng định chủ quyền nước nhà và ý chí chống xâm lăng bất khuất theo truyền thống của dân tộc ta. Đi ngược lại tinh thần đó là mâu thuẫn với mục đích cuộc chiến “chống Pháp” và “chống Mỹ” mà đảng CSVN luôn hô hào và đã hy sinh hằng triệu sinh mệnh người yêu nước ở cả hai miền”?! Vậy thử hỏi các vị rằng Đảng, chính phủ, nhân dân Việt Nam có bao giờ quên những sự kiện đó không ? Nhân dân Việt Nam có bao giờ phải “Nhịn nhục” như các vị nói không ? xin thưa rằng: không bao giờ! các vị “Nhà dân chủ yêu nước” lấy tay che bầu trời, lật lọng đổi trắng thay đen, kêu gào thể hiện như người yêu nước chân chính, đó là trò bỉ ổi mà nhiều người đã nhận diện. Lòng tin về một cuộc cách mạng “đổi đời”, lòng tin về một nhà nước “Dân chủ” mà các vị đang cố tuyên truyền bao nhiêu năm nữa sẽ xảy ra ở Việt Nam ? sự chờ đợi sẽ có một “Ucraina Việt Nam”?! và kích động lật đổ chính quyền “Hãy sẵn sàng xuống đường rầm rộ đặng hiện thực hóa kịch bản Ukraina ở Việt Nam”?!… Thay vì nhận thức lại, thay vì cải tà qui chính, thì các “nhà dân chủ” các “Sĩ phu yêu nước” lại hung hãn tấn công vào mối liên kết mật thiết, sống còn của sự tồn vong chế độ, họ không ngần ngại nói ra những điều ấu trĩ và xuẩn ngốc nhất rằng: “Giữa nhân dân và một bộ phận trong lãnh đạo Đảng, những nhận định và chủ trương ứng phó với Trung Quốc dường như khác biệt nhau đến mức đối nghịch. Các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lấn đều bị ngăn trở hoặc đàn áp dã man. Dẫu sao chắc chắn sẽ không thể nào dập tắt được ý chí đấu tranh vì nền độc lập và sự toàn vẹn của tổ quốc…”?! Những kẻ gắp lửa bỏ tay người đã thiếu cái tâm mà thừa sự gian xảo. Họ luôn lên giọng hợm mình, kẻ cả, áp đặt sự ngu dốt lên người khác, đạp lên luật pháp mà hàng triệu người đang thực thi nghiêm chỉnh, khi đã lún sâu vào sự vi phạm đó và bị trừng trị thích đáng thì loại người này lại lu loa Việt Nam mất dân chủ, nhân quyền và lăn lóc kêu gào ngoại bang giang tay cứu vớt.
Cách đây gần một thế kỷ, một nhà cách mạng đồng thời là một nhà tư tưởng lớn đã nói đại ý “nhiệt tình cộng với ngu dốt sẽ dẫn đến sự phá hoại” Thời gian đã khác, bối cảnh cũng khác nhưng một số cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam gần đây các “nhân sĩ, sĩ phu”, “nhà dân chủ” ở trong nước hòa giọng ca với đám “cờ vàng chống cộng cực đoan” chộp lấy cơ hội ngàn vàng kích động xuyên tạc lịch sử một cách bỉ ổi nhất, bản hợp xướng đồng giọng ca  “Lãnh đạo VN hèn nhát”, “Cộng sản bán đất, bán biển” … kích động lòng yêu nước của cộng đồng người việt ở hải ngoại và trong nước, loè mọi người để đánh bóng tên tuổi, họ cố lờ đi hậu quả của lòng yêu nước không đúng lúc, đúng chỗ sẽ nguy hại như thế nào trong mối quan hệ quốc tế, mà mục đích tối hậu là giữ vững chủ quyền quốc gia. Điều này gợi cho ta nhớ đến tinh thần của câu nói mang giá trị chân lý ấy là:”Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ứng dụng nhuần nhuyễn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Lợi dụng lòng yêu nước, những kẻ này đánh bóng tên tuổi của mình, tổ chức các buổi hội thảo, phỏng vấn, nhận định … đủ dạng trên các phương tiện truyền thông, sặc mùi phản động và ấu trĩ, thể hiện sự ngu dốt đến tận cùng, sự hoang tưởng vô bờ bến như :”Tuy nhiên, cuộc Chiến tranh Lạnh đang diễn ra ở Việt Nam quyết liệt hơn ở Ucraina rất nhiều. Nó thường trực. Nó thiên biến văn hóa, xẩy ra mọi chốn mọi nơi. ĐCSVN gọi nó là cuộc đấu tranh “Chống Diễn biến Hòa bình” và là nỗi ám ảnh gây bệnh tâm thần, đến nỗi Đảng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù…” như một đám hề họ tôn vinh nhau là những người ”yêu nước”, có văn hoá, biết nghĩ đến dân tộc khi “đất nước lâm nguy” nham nhở hơn trong giới đó được sự cò mồi của những kẻ đồng hội đồng thuyền tung hô là:  “anh hùng”, ”thiên tài ” trong thời cuộc mới. Trơ trẽn hơn có ý kiến lập luận ”đáng ra ông này, bà kia phải được giải nô ben hoà bình” ..v v v . Lợi dụng gió để bẻ măng, được đà lướt tới dám phán xét lịch sử của dân tộc VN trải qua muôn vàn xương máu để dành độc lập, họ nói đó là cuộc chiến “vô nghĩa”, nói dân tộc ta “hiếu chiến”, khi diễn đạt quan điểm về chính trị theo cảm tính, bệnh hoạn, họ đã dùng lời lẽ đến tận cùng của sự dung tục, lố bịch, trơ trẽn như là: “Chọn hướng ưu tiên ở phía Hoa Kỳ hay Trung Quốc đang là mâu thuẫn dễ dẫn đến xung đột ngày càng lớn giữa nhân dân Việt Nam, đại đa số đảng viên CSVN với một bộ phận lãnh đạo ĐCSVN”. hay như: “Giữa nhân dân và một bộ phận trong lãnh đạo Đảng, những nhận định và chủ trương ứng phó với Trung Quốc dường như khác biệt nhau đến mức đối nghịch. Các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lấn đều bị ngăn trở hoặc đàn áp dã man. Dẫu sao chắc chắn sẽ không thể nào dập tắt được ý chí đấu tranh vì nền độc lập và sự toàn vẹn của tổ quốc” Các “nhân sĩ, sĩ phu” các “Nhà dân chủ cấp tiến” yêu nước như vậy đó !
Biểu tình hoặc những việc làm tương tự như biểu tình, nhiều khi cũng cần thiết. Nhưng cần phân biệt hai loại biểu tình để có ứng xử phù hợp. Biểu tình ủng hộ, có thể có cả nhắc nhở, phản biện và biểu tình phá hoại, chống đối. Họ kích động người trong nước, tung hô những người kém hiểu biết về chính trị đi quá những gì chưa cần thiết, sự thể hiện lòng yêu nước đúng lúc, đúng mức độ, không quá đà, biết tính đến “ném chuột nhưng không để vỡ đồ quý” cũng rất quan trọng. Vượt quá những giới hạn cho phép, tính chất cuộc biểu tình sẽ thay đổi. Không chỉ Việt Nam mà trên thế giới đều thế, đó là trách nhiệm thực thi vai trò quản lý xã hội của mọi nhà nước. Đấy là nói về biểu tình. Nhưng biểu tình không phải là biện pháp duy nhất và hiệu quả nhất. Thể hiện lòng yêu nước tốt nhất là thông qua những việc làm cụ thể, thiết thực. Vậy lòng yêu nước cũng không phải đặc quyền của một số người đi biểu tình. Họ không yêu nước hơn những người không đi biểu tình, càng chưa chứng tỏ được rằng mình yêu nước hơn những người đang đổ mồ hôi, sôi nước mắt trong học tập, lao động, sáng tạo, những người đang ngày đêm bảo vệ chủ quyền đất nước, giữ vững biên cương Tổ quốc trong vị trí và trách nhiệm của mình. Đấy là nói về những người nhẹ dạ, cả tin, nóng nảy hoặc cực đoan, chưa tính đến các thế lực chống đối trong và ngoài nước muốn lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng chủ trương mở rộng tự do dân chủ để thực hiện những mưu đồ của họ.
Chiến tranh việt nam , quân đội Hoa kỳ đã trút xuống đất nước nhỏ bé này bình quân 45,5 kg bom đạn trên mỗi đầu người, 80 triệu lít chất độc hoá học, vượt qua muôn vàn khó khăn dân tộc Việt Nam đã vươn lên từ đống đổ nát để có ngày hôm nay. Nhìn nhận về việc này ông va- rốt cựu đại tá quân đội Hoa Kỳ nhiều năm ở Việt Nam đã đánh giá “sự thành công của Việt Nam sau khi đã là nạn nhân của quá nhiều cuộc xâm lược gần như chỉ có thể dùng hai từ “phép lạ” để miêu tả. Cho đến nay người ta không thể tìm thấy dấu vết nào của chiến tranh tàn phá trước kia . Việt nam phát triển nhanh vững chắc , kinh tế ổn định …”

Những mưu đồ của họ đó là chống phá, làm suy yếu Việt Nam bằng nhiều biện pháp, họ đã ngộ nhận, thiếu thông tin, càng ngày họ dần dần vào quỹ đạo ngược với lợi ích của nhân dân và đất nước mình, mà những người trong vòng quay đó khó nhận biết được. Thời gian qua, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều tiếng nói đại diện cho gần 90 triệu người Việt Nam đã khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền, bảo vệ lãnh thổ quốc gia, xây dựng  một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh . Thật nực cười, họ rêu rao rằng chính người cộng sản bán đất , bán biển . Mất Hoàng sa là do bắc Việt thông đồng với Trung Quốc vậy mà mới ít ngày đây thôi chính một viên thiếu tá của quân đội VNCH đã trả lời trước cơ quan truyền thông ở hải ngoại đã vạch sự thật vì sao mất Hoàng Sa và quân lực VNCH đã hèn nhát không kháng cự khi quân Trung Quốc tràn lên đảo, chấp nhận bắt sống để bảo toàn tính mạng. Nhục thay khi ông ta còn nức nở khen kẻ thù đối đải tử tế và nhân đạo hơn “việt cộng” !? Đó là sự ngang ngược đầy mâu thuẫn trong hành động của họ. Đáng ra họ phải đội ơn công sức xương máu của các thế hệ mang lại cuộc sống hoà bình hôm nay, họ quay lại phỉ báng chính dân tộc mình, họ lợi dụng lòng yêu nước, xúc xiểm, kích động phá hoại sự ổn định của đất nước, rắp tâm chống lại dân tộc, thực tế những người này là những cánh tay ma quái của bọn ngoại bang.

Khi giành được độc lập thì giữ vững cương thổ, chủ quyền quốc gia. Thời bình thì khoan sức dân, tranh thủ phát triển đất nước. Khi Tổ quốc đứng trước mối họa xâm lăng thì toàn dân một lòng, đứng lên chống ngoại xâm, làm nên những chiến công vang dội sử sách còn ghi. Truyền thống vẻ vang ấy được dựng nên bằng công sức, trí tuệ, máu xương của hàng triệu con người thông qua những việc làm của họ, không phải bằng những hành động tự phát do ngộ nhận, hay bị kích động. Lòng yêu nước không phải đặc quyền của riêng ai, đúng như thế. Vậy nên, dù có đội lốt thế nào chăng nữa, thì thói giả nhân, giả nghĩa của những kẻ cố tình phản lại dân tộc, hại nước cũng sẽ phơi bày mặt nạ, họ không bao giờ thực hiện được âm mưu xấu xa bỉ ổi đó. Kẻ gieo gió ắt gặp bão./.
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Thanh Niên Việt Nam Người Chủ Tương Lai Của Đất Nước

 Tác Giả : John Lee – VHN.NET
 Hình ảnh
Trong cuốn sách “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh”, Ních-xơn cựu tổng thống Mỹ đã xác định rằng: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Trên lĩnh vực tư tưởng, các tổ chức thù địch và bọn phản động lưu vong tập trung phản kích, phủ định nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là hoạt động mũi nhọn, đột phá để thực hiện ý đồ chiến lược làm chuyển hóa từ bên trong và bên trên của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.  Đánh phá vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhằm phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng và của xã hội Việt Nam, tạo ra một “Hoài nghi” và “xét lại” những gì mà cả một quá trình lịch sử chói lọi và bi hùng dân tộc này đã trải qua với những câu hỏi lập lờ “Đúng hay không”? “Nên hay không nên”? trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho những ý đồ phân rã một xã hội đồng thuận mất hết khả năng “Đề kháng” trước sự tấn công từ nhiều hướng của các thế lực chống phá đất nước.

Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở khu vực Đông Nam á, Không khuất phục được nhân dân Việt Nam bằng vũ lực, chủ nghĩa đế quốc, các thế lực phản động, thù địch thay đổi phương thức, thủ đoạn, dùng “diễn biến hòa bình” kết hợp bạo loạn lật đổ để chống phá chế độ xã hội chủ  nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, đất nước Việt Nam đã không sụp đổ theo, mà ngược lại, đã đổi mới thành công, vững bước tiến lên trong một thế giới đầy biến động. Điều đó đã làm cho họ thất vọng. Về mặt địa lý, trong quan hệ quốc tế, Việt Nam có một vị trí hết sức quan trọng về địa – chính trị, địa – kinh tế và địa – quân sự. Do vị trí đó, sự tiếp tục tồn tại và phát triển của một nước xã hội chủ nghĩa và của một Đảng Cộng sản cầm quyền ở Đông Nam á làm cho các lực lượng chống cộng tìm mọi cách để chống phá hòng làm sụp đổ chế độ xã hội chủ  nghĩa,, làm tan rã Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực chống cộng tìm mọi cách du nhập lối sống, đạo đức, văn hóa tư sản vào Việt Nam, làm cho văn hóa của chúng ta đi chệch mục tiêu, lý tưởng yêu nước và chủ nghĩa xã hội, phá hoại, làm xói mòn nền tảng và các giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhằm tạo ra một thế hệ sống theo chủ nghĩa thực dụng,mất gốc, thích ăn chơi, vụ lợi, vị kỷ, và sẵn sàng “Xét lại quá khứ” của ông cha”… các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp với nhau để đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, tờ rơi, băng hình, băng nhạc có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam. Đặc biệt, trên mạng in-tơ-net, chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, bịa đặt, lấp lửng, gật gân để nhiều người trẻ truy cập và mời chào tham luận làm ra vẻ “Vô tư, khách quan” và luôn thòng theo một câu “chúng tôi tôn trọng ý kiến cá nhân” ?. Chúng khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội được báo chí trong nước đăng tải hướng luồng dư luận vào những vụ việc này để kích động lớp trẻ bất mãn với cái chúng gọi là “Thảm trạng của đất nước”?! qua đó đã có những tác động rất xấu đến nhận thức, tình cảm, văn hóa, lối sống của một bộ phận giới trẻ là cư dân mạng.
Thanh niên là lực lượng xã hội có vị trí, vai trò to lớn, là rường cột, là người chủ tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự  nghiệp cách mạng Việt Nam,  Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ, động viên, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của thanh thiếu niên, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng. Đảng đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi trọng công tác giáo dục cho thanh thiếu niên, coi đây là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn, rất quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, khả năng sẵn sàng thực hiện thắng lợi công cuộc bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ tương lai của đất nước.Trên các trang mạng chống phá Việt Nam, bọn phản động lưu vong và cái gọi là “Nhà dân chủ” trong nước tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác -  Lê-nin, tư  tưởng Hồ Chí Minh. Chúng còn vu cáo Đảng ta đã “đem chủ nghĩa Mác – Lê-nin áp dụng máy móc, gượng ép vào Việt Nam”, đồng thời quảng cáo cho mô hình “xã hội dân chủ”. Chúng nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, kiểu như “dám nghĩ, dám làm” … trong giới trẻ nhằm tạo ra sự đối lập với hệ tư tưởng của thế hệ cha ông đang theo đuổi từ đó tạo ra sự xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, giữa các thế hệ.
Khu vực Đông Nam Á trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm và gia tăng ảnh hưởng của các nước lớn, đồng thời xuất hiện những nhân tố bất ổn mới. Trong nước, các thế lực thù địch và bọn phản động đang ra sức chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam bằng chiến lược  “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ dưới nhiều hình thức, thủ đoạn nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động, lôi kéo nhân dân, thanh niên tham gia biểu tình… trong đó, chủ yếu tập trung vào giới trẻ, hòng lung lạc niềm tin của thanh niên với Đảng, gây mất ổn định chính trị xã hội đất nước, tiến tới làm thay đổi chế độ chính trị XHCN ở Việt Nam. Vì vậy, tăng cường công tác giáo dục cho thanh thiếu niên là yêu cầu tất yếu, cấp bách, là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đặc biệt là Mỹ yêu cầu Việt Nam mở của dịch vụ giáo dục không hạn chế nhằm từng bước tác động làm thay đổi tận gốc nhân cách của học sinh, sinh viên theo định hướng giá trị toàn cầu về mọi mặt của họ để cuối cùng là thu hút, lôi cuốn một bộ phận đáng kể những thành viên có năng lực nhất của Việt Nam nghĩ như họ, làm theo họ, mà họ đang muốn làm ông chủ của toàn bộ thế giới này. Cách triển khai ý đồ được che đậy tinh vi. Rất tiếc là trong chúng ta thì lại có một số người chưa thấy, hoặc có thấy nhưng lại chủ quan. Việt Nam đã chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nền giáo dục của Việt Nam phải đào tạo cho được những con người xã hội chủ nghĩa thông minh, tài giỏi nhiều mặt, kiên định và sẵn sàng xả thân vì lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như các thế hệ cha anh đã xả thân trước đây. Với âm mưu “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng “ Tự do, dân chủ, dân quyền, dân tộc, tôn giáo…” để kích động gây rối trật tự, an ninh xã hội, lối kéo đặc biệt là giới trẻ trong nước, vì vậy, cần phải tích cực giáo dục cho giới trẻ sinh nhận thức được âm mưu thâm độc của kẻ thù, đồng thời nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng cho thế hệ trẻ, là vấn đề cấp thiết, đặc biệt chú trọng trong giai đoạn hiện nay.
Xuyên tạc lịch sử, gây hồ nghi cho lớp trẻ, lợi dụng nhiệt huyết yêu nước, kích động tư tưởng chống Trung Quốc, chống lại chính quyền, vi phạm pháp luật, … Với những thay đổi tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược hòng nắm lấy lực lượng “chiến lược” này, bọn chống cộng ở hải ngoại và phản động trong nước đang nuôi giấc mộng “Chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không khói thuốc súng”, chúng đang tấn công mạnh mẽ trên các lĩnh vực tư tưởng-văn hoá, coi đây là mũi đột phá nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đánh vào giới trẻ là học sinh, sinh viên, chính là làm chuyển hoá tư tưởng dẫn tới quá trình “tự diễn biến”, “tẩy não đỏ thành xanh”.Thời gian qua, các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách thực hiện âm mưu này hòng “phá vỡ thế đồng nhất một khối của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “làm cho phân tán chế độ cộng sản Việt Nam thành nhiều trào lưu đối kháng nhau” như tuyên bố đầy tham vọng và ảo tưởng của một số kẻ phản động là người Việt sống lưu vong.
Vấn đề giáo dục, định hướng cho giới trẻ Việt Nam chỉ có thể do chúng ta giải quyết bằng nỗ lực và trí tuệ của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sự  quản lí của Nhà nước Việt Nam, chứ nhất quyết không thả nổi để bất cứ một thế lực nào hoặc một nước nào đó khuynh đảo, và quyết ngăn chặn mưu đồ lợi dụng thế hệ tiếp nối hòng làm biến dạng mục tiêu của lớp người kế tục, sự nghiệp cách mạng của cha ông, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch là một cuộc chiến đấu gian khổ, sẽ rất quyết liệt, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tin rằng chúng ta sẽ thắng như đã từng chiến thắng bọn đế quốc xâm lược, giữ được độc lập và thống nhất quốc gia, đưa nước ta ra khỏi cảnh đói nghèo và kém phát triển bằng chính trí tuệ, sức lực của mình, vững bước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Vạch Trần Bộ Mặt “Ngậm Máu Phun Người” Của Các “Nhà Dân Chủ” !

Tác Giả:  John Lee   TBT Báo VHN.NET
 
Cuộc sống thanh bình của người dân Việt Nam

 

Một số người tự xưng danh là nhà “dân chủ” trong đó có người trước kia đã từng  đứng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt Nam, họ tung ra những bài viết tỏ ra sám hối, tiếc nuối vì đã “lỡ” một thời theo Đảng. Nay họ ”đòi xét lại vai trò lãnh đạo”, vu cáo Đảng cộng sản Việt Nam đặt lợi ích Đảng lên trên lợi ích dân tộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào con đường binh đao máu lửa hơn 30 năm. Với luận điệu đưa ra là: “ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã nhiều lần chứng minh rằng đảng không những không vì lợi ích dân tộc Việt Nam mà đảng còn hi sinh lợi ích dân tộc Việt Nam cho lợi ích của đảng, cho những mục tiêu viển vông, siêu thực của đảng, cho cuộc cách mạng vô sản thế giới hão huyền, chỉ đẩy Dân vào chiến tranh hận thù, chỉ lấy Dân làm vật thí nghiệm, vật hi sinh cho chủ nghĩa xã hội hư vô! Đưa dân tộc Việt nam vào con đường máu lửa. Dân tộc Việt Nam đã phải trả giá máu quá đắt cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt nam.!? Vậy điều này có đúng không ? hay là vẫn là chiêu bài cũ chụp mũ, vu cáo của các nhà “dân chủ” thường làm ?

Chúng ta phải nói một cách dứt khoát, đây luận điệu xuyên tạc lịch sử của các nhà “dân chủ”, với ý đồ  bôi nhọ, chà đạp trắng trợn lên thành quả cách mạng mà toàn dân tộc phải đánh đổi bằng sinh mạng hàng triệu người con ưu tú, hàng triệu sinh mạng của người dân lành. Luận điệu này chúng ta phải hết sức cảnh giác nó sẽ gây nên sự ngộ nhận, vì đối tượng phát tán tài liệu đã từng là người theo Đảng. Điều nguy hiểm là một số ít người thiếu hiểu biết lịch sử đất nước và lớp người trẻ sinh ra sau chiến tranh sẽ nhận thức sai lầm dẫn tới phủ nhận thành quả cách mạng, mất lòng tin vào chế độ, vào con đường đi tới của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Vạch trần luận điệu giả dối, bóp méo, xuyên tạc của những người này để chúng ta khẳng định đâu là chân lý, đâu là sự thật.
Trong bài viết “Không trung thực trong điều 4 hiến pháp” của một nhà “dân chủ” đăng tải trên mạng RFA Việt ngữ viết: “Phan Châu Trinh mất sớm, con đường cứu nước đúng đắn Phan Châu Trinh vừa khởi xướng, đành bỏ dở! Sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam thôi đành phó thác cho những người Cộng sản! Và dân tộc Việt Nam phải trải qua con đường đấu tranh bạo lực dằng dặc máu lửa ” ? Vậy đâu là sự thật ? Đâu là chân lý ? Xin thưa với nhà “dân chủ” lịch sử của dân tộc Việt Nam buộc phải lên tiếng rằng: khi thực dân pháp xâm lược và cả khi  thiết lập được quyền cai trị trên đất nước Việt Nam thì dân tộc này đã kháng cự lại. Đã có biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân dưới ngọn cờ của sĩ phu yêu nước, nhưng tất cả các cuộc kháng cự đó đều bị đè bẹp và bị dìm trong biển máu. Họ “Hối tiếc” vì cụ Phan châu Trinh mất sớm nếu không thì đi theo con đường của Ấn độ đòi lại độc lập từ người Anh ? điều này cho thấy họ đã cố tình bẻ cong sự thật của lịch sử và cố tình suy diễn theo cái lối càn xiên. Sự thật thì sau nhiều cuộc khởi nghĩa và các phong trào chống pháp không đem lại kết quả, đứng trước vận mệnh của đất nước Đảng cộng sản đã gánh vác sứ mệnh giải phóng dân tộc. Phong trào chống xâm lược do người cộng sản phát động không phải là một ngoại lệ, có cùng một mục đích như các phong trào khởi nghĩa trước đó là giành, giữ độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho dân tộc.
Đảng cộng sản Việt nam có “hiếu chiến” như các nhà “dân chủ” quy kết không ? Chúng ta tìm hiểu vấn đề này. Những ai hiểu biết về  cuộc chiến tranh, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Đáng lẽ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để xây dựng chế độ mới. Nhưng thực dân Pháp đã dã tâm quay trở. Chúng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lại Việt Nam từ tháng 9-1945. Trong tình thế vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, tương quan lực lượng bất lợi cho một chính phủ còn non trẻ, chúng ta rất cần một khoảng thời gian để xây dung lực lượng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp. Để đạt được kết quả hòa hoãn, chúng ta đã nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và nền thống nhất có điều kiện đó là :Theo Hiệp  định Sơ bộ, chúng ta thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc, và khẳng định việc Nam Bộ có trở về với nước Việt Nam hay không là tùy thuộc vào kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân. Nhưng thực dân Pháp quyết dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ nước ta. Chúng tăng quân trái phép ở miền Bắc, gây ra nhiều vụ xung đột đẫm máu và cuối cùng, gửi cho Chính phủ ta bức thư, với tính chất như một “tối hậu thư”, đòi quân, dân ta hạ vũ khí. Vậy thì xin hỏi các nhà “dân chủ” vào tình thế như vậy theo các vị Đảng cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh xử lý ra sao ? Nếu theo cách nói của các vị thì nên tìm một con đường không “không đổ máu” ? Sự chon lựa đó thì chỉ có một con đường là chấp nhận làm kiếp nô lệ  mà thôi. Dân tộc này không bao giờ chọn con đường đó, dân tộc này có truyền thống hào hùng giữ nước từ ngàn xưa, một lần nữa đứng lên bảo vệ nền dân chủ cộng hòa non trẻ, hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! cả nước thành chiến trường quyết tâm kháng chiến. Chấp nhận đối đầu với đội quân xâm lược nhà nghề khi không còn đường lựa chọn đó là thể hiện ý chí sắt đá, khát khao của cả một dân tộc vì độc lập, tự do. Nhà sử học Pháp Philíp Đờvile đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược, thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”. Sau này Tổng thống Pháp Ph. Mittơrăng, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam tháng 2 – 1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”.
Xin thưa với các nhà “dân chủ”: chính truyền thống yêu nước, là động lực thúc sự vùng dậy quật cường của dân tộc Việt Nam. Đảng cộng sản kêu gọi toàn dân kháng chiến chống lại quân xâm lược là sự lựa chọn đúng theo truyền thống của dân tộc, nó là một quy luật mà không có sự lựa chọn nào khác. Luận điệu “ngậm máu phun người” của các vị “dân chủ” rõ ràng hòng quy kết những người cộng sản phát động cuộc kháng chiến chống thực dân pháp là đẩy cả dân tộc vào cuộc chiến tranh. Họ còn nói rằng: “Trong khi đội quân xâm lược Pháp lực đã kiệt, thế đã tàn thì lực lượng kháng chiến giành độc lập đã lớn mạnh, đang bừng bừng xốc tới, chỉ dấn thêm một bước là cả nước sạch bóng giặc ngoại xâm. Nhưng những người Cộng sản đặt giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc thì giải phóng dân tộc không phải là mục đích duy nhất và cao nhất của họ. Với ý thức hệ giai cấp, những người Cộng sản Việt Nam coi giải phóng dân tộc không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để họ làm cách mạng vô sản thế giới..”? Thật nực cười cho cái lập luận quái gỡ này, họ gán cho Đảng CSVN theo đường lối bạo lực của quốc tế cộng sản, gọi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta “đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ”, “chiến tranh ủy nhiệm” “miền Bắc xâm lược miền Nam”? Trải qua 9 năm kháng chiến, kết thúc bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân về nước. Đáng lẽ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 7-1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước. Nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lập “đê chắn làn sóng đỏ” xuống phía nam đã hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào xâm lược chia cắt lâu dài đất nước. Chính Ngô Đình Diệm từng tuyên bố khi sang thăm Mỹ: “Biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17″.
Một lần nữa nhân dân ta lại phải đứng lên chống xâm lược, giành độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc.Trên thực tế, Mỹ – và chính quyền VNCH đã gây ra “cuộc chiến tranh một phía”. Chẳng những thế, họ còn đe dọa “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”, “giải phóng Cố đô rửa hận thù”. Sau này, đế quốc Mỹ còn thực hiện cuộc “chiến tranh cục bộ”, đưa trên nửa triệu quân Mỹ vào xâm lược miền Nam, và tiến hành cuộc “chiến tranh phá hoại”, đe dọa đẩy miền Bắc nước ta trở về “thời kỳ đồ đá”. Không còn con đường nào khác, dân tộc ta phải chấp nhận cuộc đụng đầu với đế quốc Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do! “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Nhiều người trong chính giới Hoa Kỳ hẳn vẫn không quên, trong suốt hơn 40 năm thù địch Việt Nam, kể từ năm 1950 – Hoa Kỳ chính thức ủng hộ Pháp xâm lược Việt Nam đến ngày 11 tháng 7 năm 1995 – Hoa Kỳ tuyên bố công nhận ngoại giao và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, chỉ riêng Hoa Kỳ đã trực tiếp làm cho hơn 3 triệu người Việt Nam phải hy sinh và hàng triệu người khác bị tàn tật, phải chịu di hại của chiến tranh, của chất độc màu da cam do quân đội Hoa Kỳ rải xuống Việt Nam. Không dừng lại ở đó, sau năm 1975, Hoa Kỳ tiếp tục chính sách thù địch chống Việt Nam, thực hiện bao vây cấm vận Việt Nam làm cho nhân dân Việt Nam vốn đã khốn khó do phải khắc phục hậu quả chiến tranh do Hoa Kỳ để lại, lại càng khó khăn hơn.
Chúng ta có thể tham khảo trích dẫn một số tài liệu của chính những người gây ra cuộc chiến đẫm máu với dân tộc Việt Nam để hiểu rõ bản chất phi nghĩa của nó.
Trong cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tháng 3-2007 tại tiểu bang Texas, các học giả Mỹ đã phân tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh này, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết luận: sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến trường”.
Tổng thống Nich-xơn Ông ta đã cay đắng thừa nhận: “Sai lầm nghiêm trọng của chúng ta là không biết một trong những quy luật của chiến tranh. Đó là, đừng bao giờ bước vào cuộc chiến tranh, nếu không biết cách nào để ra khỏi cuộc chiến tranh đó”.
Tổng thống Nich-xơn còn nhấn mạnh sự thất bại của mình trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam: “Cuộc chiến tranh Việt Nam không phải giới cầm quyền nước Mỹ chỉ thua trên chiến trường. Nó còn thua ngay trên nước Mỹ, ở các hành lang của Quốc hội, trong phòng ăn các công ty, trong các buồng giám đốc của các tổ chức nghiên cứu, trong các buồng chủ bút của các tờ báo và của hệ thống vô tuyến truyền hình, trong các hội trường ở Gioóc-giơ Tao, các phòng khách của “những người đẹp” ở Niu Oóc và trong các lớp học của các trường đại học lớn, đó là các tầng lớp đã đưa lại sự mạnh mẽ, bảo đảm thắng lợi trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, đã làm cho Mỹ thất bại một trong những cuộc chiến đấu trọng yếu nhất của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba, đó là Việt Nam”.
- Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara, trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam”, đã viết Chúng tôi ở trong chính quyền Kennedy và Johnson, tham gia vào các quyết định về Việt Nam, đã hành động theo những gì mà chúng tôi coi là nguyên tắc và truyền thống của dân tộc này. Chúng tôi đã ra các quyết định dưới ánh sáng của các giá trị đó.”…”Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao sai lầm như vậy”.
 Như vậy, chính đế quốc Mỹ là thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của nhân dân Việt Nam đã được lịch sử ghi nhận, lẽ phải chỉ có một, dù các nhà “dân chủ” có cố tình phủ nhận nó nhưng những người chủ mưu trong cuộc chiến tranh đó khi họ đã thú nhận thì những lập luận kiểu “Giá như….” của những kẻ xuyên tạc, bóp méo lịch sử đều trở nên vô nghĩa. Thế giới đã bước sang giai đoạn mới của lịch sử, trong  đó, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại, tư duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở nên lỗi thời. Lịch sử chiến tranh khẳng định với nhân loại một điều: chiến tranh và bạo lực cường quyền không giải quyết được vấn đề gì ngoài việc khoét sâu hận thù giữa các dân tộc và chia rẽ thế giới. Tuy nhiên, các “Nhà dân chủ” và thế lực không thiện chí với Việt Nam không nghĩ như vậy, họ vẫn đang xoay xở mọi cách để gây ra một cái gọi là “Biến cố” gây mất ổn định cho Việt Nam hòng mong muốn trong sự rối loan trục lợi cho những toan tính của họ. Vì thế, những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được họ tuyên truyền.

VHN.NET

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Khát Vọng Cháy Bỏng Của Cả Một Dân Tộc !

 Tác Giả: John Lee TBT VHN.NET

http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler/Upload/UploadPhotoAlbum/2014/1/2/2BaoAnh212014114049414_wh890_590.JPG
Nhân dân Việt Nam chào đón năm mới 2014
Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình.
Hơn ai hết, Việt Nam từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, sự vi phạm lớn nhất quyền con người hiểu rõ rằng quyền con người là thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác. Việt Nam cho rằng, cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng,quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì chương về quyền con người được đặt vào vị trí hết sức quan trọng. Trước đây, Hiến pháp Việt Nam chỉ nêu ở phần sau, bây giờ đặt hẳn một chương về quyền con người, mà đó là xu hướng của thế giới. Việc Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền liên hợp quốc là một đòn giáng mạnh vào một số cá nhân , tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam. Từ bấy lâu nay họ luôn “Hòa tấu” bài ca nhân quyền, họ xem đó là gót chân “Asin” của Việt Nam, để ngăn cản bất cứ chuyện gì mà Việt Nam hòa nhập với thế giới. Với cái gọi là ”Bảo bối” nhân quyền này một số cá nhân, hội đoàn người Việt có tư tưởng cực đoan ở hải ngoại mà đặc biệt tại Hoa Kỳ có lúc đã tác oai, tác quái, hết “Thư ngỏ” đến “Thỉnh Nguyện thư” gởi đi các nơi đặc biệt là các nhân vật hiện là dân biểu trong thượng hạ viện Mỹ hòng dùng chiêu bài này bôi nhọ hình ảnh nhân quyền ở Việt Nam. Trong các vấn đề về quyền con người. Phải khẳng định rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến bảo đảm an sinh xã hội. Đó là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra mặc dù thời gian qua kinh tế xã hội hết sức khó khăn, thế nhưng đầu tư cho an sinh xã hội vẫn được đảm bảo rất cao. Nhưng các nhà “Dân chủ” hoặc những thành phần chống cộng cực đoan cùng với một số cơ quan truyền thông việt ngữ ở hải ngoại vẫn cố tình không chấp nhận một sự thật hiển nhiên đã xảy ra là: Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất. Kết quả đó đã phản ảnh đúng những gì mà Việt Nam phấn đấu, hoàn thiện trong suốt một thời gian dài. Thực tế hàng năm Việt Nam rất tích cực đối thoại nhân quyền, mở rộng cửa sẵn sàng đối thoại. Qua đối thoại trực tiếp các nước, các tổ chức họ mới nhận thức được rằng, giữa thông tin sai lệch của một số đối tượng thì hoàn toàn khác xa với thực tế đang hàng ngày, hàng giờ đang diễn ra ở Việt Nam. Những mong muốn, quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người đã xóa tan sự nghi ngờ, phản bác lại những luận điệu vu khống, thóa mạ về nhân quyền Việt Nam của những người không thiện chí. Là thành viên của tổ chức nhân quyền Liên Hợp Quốc Việt Nam sẽ thể hiện trách nhiệm của mình một cách đầy đủ nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa , lúc sinh thời luôn có một ước vọng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Ý nguyện đó đã phản ánh khát vọng của toàn dân tộc Việt Nam. Thực hiện những giá trị thiết yếu về quyền con người, là mục đích, tôn chỉ hoạt động xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, sắc tộc, tôn giáo đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi thử  thách, gian khổ, hy sinh to lớn để giành và giữ các quyền cơ bản đó. Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân Việt Nam nêu tám yêu sách gửi Hội nghị Véc-xây (năm 1922), yêu cầu chính quyền Pháp trả lại những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho người dân Việt Nam, trong đó có cải cách nền pháp lý Đông Dương, thay đổi chế độ sắc lệnh bằng luật pháp, mà người dân Việt Nam phải được hưởng đầy đủ các quyền tự do báo chí, tư tưởng, tự do lập hội, tự do cư trú ở nước ngoài, tự do học tập… Đến bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã có bước phát triển mang tính cách mạng. Mở đầu với việc khẳng định những quyền cơ  bản mà tạo hóa ban cho mỗi con người và khép lại bằng lời tuyên bố trịnh trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”, bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam, trong đó thừa nhận các quyền cơ bản của con người, đồng thời, lần đầu tiên, quyền cá nhân được mở rộng thành quyền dân tộc, và quyền con người. Sự bình đẳng của mỗi cá nhân được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với quyền dân tộc, đó là quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết.
Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều 1 của cả 2 Công ước quốc tế cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về  các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị.
Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Quyền con người có cội rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của một dân tộc luôn nêu cao tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, đồng thời phản ánh nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam mà dân tộc này từng là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược và bị tước đoạt những quyền và tự do cơ bản nhất. Là thành viên của tổ chức nhân quyền LHQ, Việt Nam sẽ có tiếng nói rất quan trọng trong việc xác định để làm cho thế giới rõ hơn vấn đề quyền con người ở mỗi quốc gia và đặc biệt là để hiểu rõ hơn về quyền con người ở Việt Nam.Trước đây Việt Nam không ở trong Hội đồng, cho nên các nước thành viên chỉ nghe theo “Kênh” một chiều thù địch như “Phúc trình”,, “Báo cáo thường niên”..vv, họ nói hoặc thậm chí họ ra các nghị quyết mà Việt Nam không được tham gia, không có cơ hội chứng minh, phản biện những quy kết kiểu “Chụp mũ” thì nay Việt Nam ở trong Hội đồng rồi thì chúng ta có quyền phát biểu, chứng minh bằng hành động, chứng minh bằng điều kiện thực tế để họ nhận thức và thấy rõ quyền con người ở Việt Nam. Có thể nói, vấn đề quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề cao, nhận thức tích cực và áp dụng phù hợp với Việt Nam. Nhờ đó, từ một dân tộc bị tước  đoạt cả những quyền tự do cơ bản nhất, người dân Việt Nam đã được thụ hưởng ngày một đầy đủ và toàn diện hơn các quyền của mình. Mặc dù hiện nay, trên thế giới còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề quyền con người và thậm chí một số thế lực thù địch đã lợi dụng điều này để vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, song những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đạt được trong những năm qua là bằng chứng không thể phủ nhận cho những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực này./.
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Quê Hương Yêu Dấu Trong Lòng

Bài viết của tác giả  AMARI TX  đăng trên tạp chí Nhân Quyền Việt Nam tháng 2-2014
Hình ảnh“Chúng tôi, những người con sống xa Tổ quốc, vẫn thường vẫn nhắc nhau: Phải sống xa Tổ quốc, có thể phải chịu mất mát nhiều thứ, nhưng không thể để mất tình yêu đất nước, không thể để mất lòng tin, mất niềm tin vào đất nước. Còn lòng tin thì còn tất cả, còn niềm tin, còn lòng tự hào dân tộc thì mới biết vươn lên khẳng định mình ở nơi xứ người”
Đúng ngày 23 tháng Chạp, ngày tiễn ông Công, ông Táo, khoảng 2.000 kiều bào Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đã hội tụ về Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), dự chương trình “Xuân quê hương 2014″ với chủ đề “Lạc Hồng vinh hiển”. Giữa không khí rộn ràng của năm mới cận kề, các kiều bào về dự ”Xuân quê hương” đều có chung cảm xúc nghẹn ngào, mừng rơi nước mắt. Đã có những cái ôm rất chặt, những cái bắt tay nồng ấm, sự xúc động nghẹn ngào khi được về cố hương và cả những trăn trở, suy tư của bà con…Sức mạnh cội nguồn là chất liệu keo sơn đặc biệt được nung luyện hơn bốn ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam, nó gắn kết 54 dân tộc trên mảnh đất hình chữ S này, quy tụ sức mạnh cộng đồng thành một khối vững chắc chống chọi với thiên nhiên, kháng cự quyết liệt với ngoại xâm. Nó cũng là mối gắn kết những người con đất Việt trên toàn cầu, vì hoàn cảnh riêng phải sống xa quê cha đất Tổ. Sự gắn kết giữa hàng triệu người con đất Việt ở nước ngoài với đất nước, quê hương ngày càng trở nên khăng khít, chặt chẽ từ khi có Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN). Nghị quyết khẳng định một cách rõ ràng, cộng đồng NVNONN là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, đáp ứng phần lớn nguyện vọng của bà con, kêu gọi tinh thần yêu nước, sự đóng góp to lớn của kiều bào đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Năm 2014 cũng là năm Việt Nam tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 36 về công tác đối với NVNONN. Theo lời của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn – Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về NVNONN – cho biết: Những năm qua, Ủy ban Nhà nước NVNONN đã tổ chức rất nhiều hoạt động thiết thực nhằm khuyến khích kiều bào hướng về quê hương, đất nước như: Xuân Quê hương, trại hè thanh niên sinh viên Việt kiều, kiều bào dự giỗ Tổ Hùng Vương, thăm biển đảo… Các chương trình đã giúp bà con kiều bào có cái nhìn thực tế về tình hình đất nước, cùng chứng kiến những khó khăn và những thành quả từ công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, qua đó hiểu rõ hơn quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúng tôi dù đi đâu và làm gì trên khắp thế giới thì vẫn luôn nhớ về quê cha đất Tổ – nơi kết nối hàng triệu trái tim mang dòng máu Lạc Hồng. Chúng tôi những người con ở xa Tổ quốc vui mừng khi Đảng và Chính phủ Việt Nam khẳng định: Người Việt Nam nước ngoài là bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực quí báu của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với thế giới. Điều đó không chỉ được xác định bằng chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước qua Nghị quyết 36 mà còn xuất phát từ chính bản chất mối quan Về dự Xuân Quê hương 2014, hầu hết bà con kiều bào bày tỏ: hệ máu thịt giữa những người con xa quê với cội nguồn đất Mẹ. Một năm Quý Tỵ – 2013 với bao sự xáo trộn, biến động trên toàn cầu, dư chấn của cuộc khủng hoảng làm chao đảo hầu hết các nền kinh tế. Nhưng nhờ sự đồng tâm hiệp lực, nỗ lực phấn đấu cao và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trí tuệ và bản lĩnh của cả một dân tộc mang trong mình nỗi khát khao mong muốn bình sự yên và phát triển sau những năm tháng dài dằng dặc của chiến tranh, bà con kiều bào chúng tôi vui mừng vì đất nước đã vượt qua khó khăn, đạt được những kết quả quan trọng. Kinh tế tiếp tục có bước phát triển; chính trị – xã hội ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện, an ninh quốc phòng luôn được giữ vững, khẳng định vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Hình ảnh đất nước thân yêu luôn hiện hữu trong tâm trí của gần 5 triệu người con đất Việt đang sinh sống, làm việc tại 104 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. 5 triệu người chúng tôi nguyện làm những vị “đại sứ” của đất nước Việt Nam, quảng bá một cách hiệu quả hình ảnh đất nước trên con đường hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.

Truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, tinh thần tự tôn dân tộc sẽ là mạch nguồn trong trẻo chảy mãi trong huyết mạch của chúng tôi. Chúng tôi hiểu sâu sắc rằng, truyền thống, ý chí, tinh thần ấy được Đảng mà Người đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh khơi dậy và nhân lên gấp bội. Với tầm nhìn xa, trông rộng, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam độc lập ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện văn tới Đại Hội đồng LHQ đề nghị: “Quốc dân chúng tôi đã giành được quyền độc lập và giữ vững nền độc lập, thiết tha yêu cầu các ngài công nhận nền độc lập ấy và nhận chúng tôi vào Hội đồng LHQ”. Ấy vậy mà phải hơn 30 năm sau, năm 1977, yêu cầu thiết tha này mới thành hiện thực. Để đến hôm nay sau biết bao nỗ lực của cả một dân tộc, thế giới nhìn về Việt Nam với những nhận xét: “Việt Nam là một trong những nước rất năng động và đạt được bước phát triển con người rất nhanh”.quốc tế ca ngợi và đánh giá cao những thành tựu to lớn và toàn diện của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Trong lúc toàn dân tộc ta phấn khởi trước triển vọng tốt đẹp của đất nước thì các thế lực thù địch, bọn cơ hội chính trị và bất mãn cố tình đổi trắng thay đen, vu khống, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, rêu rao “dân chủ, nhân quyền bị vi phạm, tín ngưỡng tôn giáo bị cấm đoán và “nhân dân phải sống đói khổ, lầm than, ai oán”. Chúng âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, nhắm vào mắt xích vô cùng quan trọng đó là quan hệ “ý Đảng lòng dân”. Trước đây, ông bà ta đã nói: Quân là cá, dân là nước, “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Tôi có đọc bài trả lời phỏng vấn trên Đài Tiếng nói Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân kỷ niệm 84 năm ngày thành lập Đảng, 3-2-2014, đầu xuân Giáp Ngọ. Tổng Bí thư nói: “Sức mạnh của Đảng là mối liên hệ máu thịt với nhân dân, cũng như sức mạnh của nhân dân là bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, vì nhân dân mà không có sự lãnh đạo, không có sự tổ chức lại thì cũng không thể mạnh được. Hai mặt này quan hệ rất biện chứng với nhau. Phải làm Chúng tôi biết, không chỉ đồng bào ở trong nước mà cả bạn bè sao mà Đảng ngày càng gắn bó mật thiết hơn nữa với nhân dân”. Bản thân tôi rất tâm đắc điều này. dãi với mình, vì mình sẽ tạo cái khó cho xã hội, cho cộng đồng. Người đứng đầu nghiêm với mình, sẽ dễ cho xã hội”. Nói thế là bởi, từ cái nghiêm cái nhân sẽ lan tỏa. Nghiêm và nhân sẽ dẫn đến sự phát triển bền vững ở mỗi địa phương và cả quốc gia. Chúng tôi biết, hiện nay nhân dân không tin một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đây là một điều vô cùng nguy hiểm. Thực trạng đó là do một cán bộ, đảng viên tham ô, hối lộ, làm ít, hưởng nhiều, kéo bè, kéo cánh, tư lợi cá nhân, mắc bệnh công thần, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân. Ông bà mình từng đúc kết: “Một sự bất tín, vạn sự không tin”.
Gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, bản thân Đảng đang đứng trước nhiều thử thách, không ít hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục, làm giảm lòng tin của nhân dân. Trong khi đó, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đất nước đặt ra ngày càng nặng nề, các thế lực thù địch, phản động thâm độc vẫn tìm mọi cách điên cuồng chống phá, hòng hạ thấp uy tín, đi đến đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Tương lai của đất nước đang chờ đón phía trước nếu như chúng ta dám nghĩ, dám làm và phải làm quyết liệt, triệt để. Hơn bao giờ hết, để xứng đáng là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng, chúng tôi mong muốn Đảng không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng.
Con đê về “lòng tin” có những lúc bị sạt lở, nhưng đó chỉ là một phần trong suốt một chiều dài hơn 80 năm của một Đảng cầm quyền. Khôi phục, bồi đắp sự cố “sạt lở” đó đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi một đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Đảng lãnh đạo được cách mạng là do có đường lối đúng đắn. Xây dựng được đường lối đúng đắn và làm cho đường lối đó trở thành thực tế sinh động trong cuộc sống thì phải có đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất và năng lực, sức giúp Đảng xây dựng đường lối và tổ chức thực hiện đường lối. Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính làm người. Người đảng viên, cán bộ càng cần bốn đức tính ấy. Bác Hồ là tấm gương tiêu biểu về cần, kiệm, liêm, chính. Đảng ta cần công khai nhận trách nhiệm trước toàn dân và có biện pháp hữu hiệu kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi tiến tới bài trừ tận gốc tệ nạn tham nhũng ra khỏi đời sống xã hội. Phải đánh thắng giặc nội xâm! Công khai trước dư luận không sợ mất uy tín mà ngược lại uy tín của Đảng càng được nâng cao. Đảng không sợ sai, sợ phê bình. Sai thì phải xử lý, mà xử lý thì phải đúng người, đúng tội. Việc phê bình, xử phạt cho đúng chẳng những không làm mất thể diện và uy tín của cán bộ, đảng viên, trái lại còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín của Đảng ngày càng tăng.

Dù đi đâu và làm gì trên khắp thế giới, những người con nước Việt chúng tôi vẫn luôn nhớ về quê cha đất Tổ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và gửi trọn niền tin vào Đảng. Từ trong sâu thẳm luôn mong muốn một điều, Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Những gì có lợi Trong các sách thánh hiền đều dạy rằng: “Người đứng đầu dễ cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Trước đây, những ngày “nằm gai, nếm mật”, trước cái sống, cái chết cận kề, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng luôn luôn được nhân dân đùm bọc, chở che, sẵn sàng đem tính mạng của mình ra bảo vệ. Ngày nay, nắm vai trò lãnh đạo toàn xã hội, Đảng phải dựa vào dân, lắng nghe dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ của Đảng thật sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…

Năm Giáp Ngọ 60 năm trước, năm 1954, dân tộc ta đã làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, khiến cả thế giới hướng về Việt Nam, tôn vinh Việt Nam là ngọn cờ đầu cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Vậy thì Giáp Ngọ 2014 này, chúng tôi mong muốn được góp tâm, trí, lực cùng đồng bào trong nước làm nên một “Điện Biên Phủ về lòng tin” trên mọi lĩnh vực của đất. Năm 2014, năm Giáp Ngọ, toàn dân ta khát khao đất nước có được Thiên Lý Mã với bước đi bứt phá, xoay chuyển tình thế, tạo dựng vận hội mới cho đất nước. Cùng với nhân dân cả nước, chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào Đảng. Quê hương yêu dấu ở trong lòng, bởi thế không thế lực nào có thể chia rẽ chúng tôi với Tổ quốc của mình. Chúng tôi nguyện cống hiến, nguyện làm một nguồn lực mạnh mẽ để góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên những giá trị lịch sử to lớn cho đất nước và dân tộc.■

Texas, Hoa Kỳ, ngày đầu năm Giáp Ngọ!

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Mùa Xuân Không Lỗi Nhịp

 Bài của tác giả Amari Tx ( Bút danh Chính Tâm)  đăng tải trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam Tháng 2-2014
Hình ảnh
Phiên họp thứ 18 của Nhóm làm việc về Báo cáo kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của HĐNQ LHQ đã diễn ra từ ngày 27-1 đến 7-2-2014. Năm nay, Việt Nam trình bày Báo cáo UPR chu kỳ II. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc, Trưởng đoàn Việt Nam đã giới thiệu khái quát những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam kể từ phiên Rà soát chu kỳ I năm 2009 đến nay cũng như những thách thức, khó khăn mà Việt Nam đã vượt qua. Bài phát biểu của Trưởng đoàn Việt Nam nêu rõ, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc, tích cực 96 khuyến nghị mà Việt Nam đã chấp thuận, kết quả đạt được thể hiện sinh động trên tất cả các mặt đời sống xã hội. Trưởng đoàn Việt Nam Hà Kim Ngọc cũng khẳng định Việt Nam đánh giá cao những đóng góp và khuyến nghị tích cực, xây dựng của các nước đối với Việt Nam. Việt Nam sẽ chính thức thông báo về việc chấp nhận các khuyến nghị tại Khóa họp thông qua các Báo cáo UPR tại kỳ họp thứ 26 của HĐNQ, dự kiến vào tháng 6-2014.
Những tiếng kêu lạc nhịp
 Các cơ sở tín ngưỡng ở Việt Nam phát triển hơn bao giờ hết
Nhóm làm việc về UPR của HĐNQ đã thông qua Báo cáo của Việt Nam chiều ngày 7-2 với sự nhất trí cao. Ấy thế mà gần đây, một số cơ quan truyền thông “quen thuộc” không có thiện chí với Việt Nam đã phối hợp “nhịp nhàng” với các trang mạng xã hội rộ lên theo kiểu bầy đàn một số bài viết lạc lõng về đề tài này. Lời lẽ theo họ là “khách quan, vô tư, đóng góp” nhưng thực chất vẫn là sự lặp lại những ngôn từ cũ rích, chụp mũ, vung tay phán đại. Họ kích động một số cá nhân “vượt tuyến” ra nước ngoài để tham gia cái gọi là “hội thảo gây áp lực”. Hội thảo này theo cách họ nói là phải gây áp lực đối với trách nhiệm của chiếc thẻ thành viên HĐNQ và làm sao để nhân quyền được tôn trọng ở Việt Nam! Thành phần “nòng cốt” tổ chức “hội thảo” là băng đảng khủng bố Việt Tân. Mà từ trước đến nay hễ bất cứ chuyện gì băng đảng này nhúng tay vào thì chúng ta sẽ thấy ngay luận điệu của họ là đòi Việt Nam phải đa đảng đối lập, kêu gọi những đảng viên Cộng sản ra khỏi Đảng để “gia nhập” đảng của họ, làm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện ý đồ về cái gọi là “xây dựng xã hội dân chủ” ở Việt Nam. Một ngày trước phiên kiểm điểm UPR của Việt Nam, PEN International, UN Watch và đảng khủng bố Việt Tân mở hội thảo “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ”. Một “sản phẩm” sặc mùi vu cáo với tên gọi “Thông cáo” viết: “Các nước thành viên LHQ cần tăng áp lực để Việt Nam đưa ra các cam kết có thể chứng thực cải thiện nhân quyền tại phiên kiểm điểm định kỳ ở Geneve”. Human Rights Watch (HRW), một tổ chức cha đẻ của hàng loạt cái gọi là “phúc trình” chuyên vu vạ Việt Nam và các nước không đi theo quỹ đạo của Mỹ và phương Tây, không bỏ lỡ “dịp may hiếm có này” để “chọc gậy bánh xe”, đánh giá “văng mạng” về nhân quyền tại Việt Nam. Bà Juliette de Rivero, phụ trách vận động tại Geneve của HRW trịch thượng “phán” rằng, các nước cần “chỉ rõ hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam là không thể chấp nhận được và yêu cầu Hà Nội đối xử với người dân tốt đẹp hơn”. Bản tuyên bố của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ngày 5-2-2014 nói: “Việt Nam vẫn sách nhiễu và bắt giữ những người thực hiện các quyền hạn và các quyền tự do phổ quát, như tự do ngôn luận và lập hội. Việt Nam cũng hạn chế tự do tôn giáo, việc sách nhiễu các nhà thờ không đăng ký vẫn diễn ra. Chúng tôi quan ngại về sự hạn chế đối với việc thành lập nghiệp đoàn độc lập, về việc sử dụng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức và việc Chính phủ sử dụng lao động bắt buộc và chúng tôi cũng thất vọng về việc Việt Nam ngăn cản xã hội dân sự tham gia vào toàn bộ quá Những điều mà các cá nhân, tổ chức nêu trên nói có phản ảnh đúng những gì đã và đang xảy ra tại Việt Nam? Hay đó chỉ là những luận điệu thù định đi ngược lại những thành quả mà cả dân tộc Việt Nam sát cánh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam phấn đấu không mệt mỏi trên con đường hoàn thiện vì mục đích cao đẹp của quyền con người?
Sự thật và chân lý không thể đảo ngược
Vai trò và sự đóng góp của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện qua việc Việt Nam được bầu là thành viên HĐNQ LHQ nhiệm kỳ 2014 – 2016 với số phiếu cao kỷ lục. Chính phủ Việt Nam một lần nữa khẳng định cam kết sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước và đóng góp một cách có trách nhiệm vào công việc của HĐNQ. Việt Nam là thành viên của 7/9 công ước quốc tế chủ chốt của LHQ về nhân quyền. Việt Nam cũng đã ký và phê chuẩn Công ước về Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn chặn, trấn áp và trừng phạt tội mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Việt Nam cũng đã ký nhiều công ước của Tổ chức Lao động quốc tế về lao động và việc làm. Quyền tự do lập hội, hội họp được quy định trong Hiến pháp và được pháp luật bảo vệ bằng nhiều văn bản luật và dưới luật. Chính phủ cũng ban hành Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21-4-2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công dân, tổ chức ở Việt Nam thành lập hội cũng như tạo cơ chế, chính sách cho hoạt động của các hội. Hiện Việt Nam đang xây dựng luật về lập hội, luật biểu tình. Ở Việt Nam hiện có khoảng 460 hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp có phạm vi hoạt động toàn quốc; 20 tổ chức công đoàn ngành, trên 36.000 tổ chức hội, hiệp hội, câu lạc bộ ở cấp địa phương, hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các hội có vai trò ngày càng tích cực trong việc tư vấn, phản biện đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chương trình và dự án phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ và của địa phương.
Báo chí đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của nhân dân, trong kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, bày tỏ chính kiến, đóng góp ý kiến về tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế xã hội, văn hóa thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Hiện Việt Nam có 64 nhà xuất bản, tốc độ tăng bình quân số lượng xuất bản phẩm hàng năm là 5-10% với nội dung phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu đọc của người dân. Nhà nước Việt Nam khuyến khích sử dụng internet để phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và các quyền tự do cơ bản của Hiến pháp 2013 có hiệu lực thi hành từ 01-01-2014 đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người. Điều 12 Hiến pháp mới quy định: Nước CHXHCN Việt Nam tôn trọng Hiến chương LHQ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Những nội dung sửa đổi trong Hiến pháp đều hướng tới nhân dân, đảm bảo quyền và lợi ích của nhân dân. Trong Hiến pháp mới, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng theo quy định tại Điều 14. Điều 25 quy định rõ công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy Việt Nam cũng đã hoàn thành tốt nghĩa vụ báo cáo đối với các công ước mà Việt Nam là thành viên.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. Đó là độc lập, tự do cho Tổ quốc, là quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình, là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của quần chúng nhân dân, được xây dựng trên cơ sở lắng nghe, tiếp thu ý kiến của mọi tổ chức và mọi tầng lớp nhân dân. Mỗi kỳ Đại hội Đảng, gần đây là việc góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Đảng, Quốc hội đều tổ chức xin ý kiến nhân dân. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã nhận được 26 triệu lượt góp ý tâm huyết của nhân dân cả nước. Đây chính là những biểu hiện cao nhất, sinh động nhất của việc phát huy dân chủ xã hội, đề cao quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Điểm nổi bật của Hiến pháp mới là vấn đề quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân được bổ sung mới và đưa lên Chương II hoàn toàn phù hợp với cách thức chế định của đa số Hiến pháp các nước trên thế giới. Tính từ năm 2009 đến nay, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho việc tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người. Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành luật, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Việt Nam đã tăng cường và mở rộng chương trình giáo dục, đào tạo về quyền con người cho cán bộ các cơ quan nhà nước. Nhiều hội thảo, hội nghị liên quan đến quyền con người đã được tổ chức với sự tham gia của đông đảo đại diện nhiều bộ, ngành, các trung tâm nghiên cứu và cơ sở đào tạo chuyên sâu về quyền con người. Quá trình mở rộng tuyên truyền và giáo dục về quyền con người đã trang bị kiến thức cơ bản cho cán bộ Chính phủ cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Việt Nam cũng đẩy mạnh đào tạo kiến thức nhân quyền cho các cán bộ công chức, viên chức địa phương nhằm tăng cường nhận thức, năng lực và hiệu quả công tác nhân quyền ở cơ sở. Các nội dung giáo dục về quyền con người đã và đang từng bước được đưa vào chương trình dạy học ở các trường phổ thông, lồng ghép vào một số môn học chuyên sâu trong các trường đại học có đào tạo chuyên ngành luật. Thực hiện khuyến nghị UPR chu kỳ I, Việt Nam đã đưa nội dung giáo dục về nhân quyền vào chương trình giảng dạy tại các trường đào tạo cảnh sát, đồng thời mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về nhân quyền để trang bị và nâng cao nhận thức, năng lực cho toàn bộ lực lượng cảnh sát. Những thành tựu này là không thể phủ nhận!

Mùa xuân không lỗi nhịp
Đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được soi sáng bằng những nghị quyết quan trọng của Đảng về chỉnh đốn Đảng, về phòng chống tham nhũng, về phát triển khoa học và công nghệ, về đổi mới giáo dục và trọng dụng nhân tài; bằng Hiến pháp mới 2013 – bản Hiến pháp có bước tiến vượt bậc trong tư duy lập pháp, trong đảm bảo quyền con người, bản Hiến pháp kết tinh ý chí nguyện của nhân dân và bằng nhiều quyết sách đúng đắn của Chính phủ chắc chắn sẽ thu được nhiều thành tựu to lớn. Đời sống của nhân dân từng bước sẽ được nâng cao, dân chủ xã hội ngày càng được bảo đảm. Điều này một lần nữa khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc trước kia, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn đó cũng là minh chứng hùng hồn để bác bỏ ý kiến của những cá nhân, tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam. Họ chỉ lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của số đông nhân dân Việt Nam. Thật nực cười khi có kẻ thiển cận cho rằng, cứ phải có nền dân chủ như phương Tây thì xã hội Việt Nam mới phát triển, quyền con người mới được “thăng hoa”! Xin thưa, đó chỉ là sự ngụy biện mà thôi! Dân chủ, nhân quyền không phải một sớm một chiều là có ngay kết quả. Dân chủ, nhân quyền không phải kiểu “ăn xổi ở thì”. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh khi độc lập tự do không có thì đồng nghĩa với vĩnh viễn không có nhân quyền. Bản thân các yếu tố tạo nên một xã hội dân chủ như chính trị, pháp lý, đạo đức… có sự tác động qua lại với nhau, cho nên, việc hình thành các chuẩn mực về dân chủ, nhân quyền không chỉ phụ thuộc vào những định chế chung, mà còn phụ thuộc rất lớn vào một loạt các yếu tố khác như: Vị thế, vai trò của đảng cầm quyền, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống…  Thực tế cho thấy, Việt Nam đang tiến đến nền dân chủ theo bản sắc riêng của mình. Mục tiêu và lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là thống nhất cùng thực hiện xây dựng xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Ý đồ thâm độc của các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị đòi hỏi Việt Nam phải như thế này, thế khác chỉ để gây sự ngờ vực nhằm xóa bỏ những thành tựu to lớn mà toàn dân tộc Việt Nam đã đổ bao nhiêu máu xương để đạt được và cổ vũ phát triển dân chủ, nhân quyền theo “khuôn mẫu” của các nước phương Tây. Điều đó sẽ không bao giờ thành hiện thực! Mùa xuân không lỗi nhịp bao giờ! Vì sự ổn định chính trị và phát triển đất nước, nhân dân Việt Nam không cho phép các cá nhân, tổ chức chính trị cơ hội nào làm xáo trộn cuộc sống bình yên, gây ra những bất ổn cho an ninh đất nước và không phù hợp với nguyện vọng của đông đảo nhân dân!■
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Trung Quốc Ba lần họ phản bội Việt Nam, lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước!

CHÍNH SÁCH BÀNH TRƯỚNG CỦA BẮC KINH MỐI ĐE DOẠ ĐỐI VỚI ĐỘC LẬP DÂN TỘC, HOÀ BÌNH VÀ ỔN ĐỊNH Ở ĐÔNG NAM CHÂU Á.
Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html
Trong hàng nghìn năm qua, nước Việt Nam đã bị các hoàng đế Trung Quốc xâm lược hàng chục lần, nhân dân Việt Nam hiểu rõ những ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Trung Quốc, cho nên không một phút nào là không cảnh giác đối với họ.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, nhân dân hai nước luôn luôn gắn bó, giúp đỡ, cổ vũ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì lợi ích cách mạng của nhân dân mỗi nước. Nhân dân Việt Nam đã ủng hộ nhân dân Trung Quốc về chính trị và tinh thần, có lúc đã phối hợp chiến đấu cùng với nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhân dân Trung Quốc, mặc dầu còn có nhiều khó khăn, nhất là trong những năm  đầu của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đã dành sự giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược. Nhân dân Việt Nam rất quý trọng và luôn luôn giữ gìn, vun đắp cho mối tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đời đời bền vững. Nhân dân Việt Nam không hề xâm phạm độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của nhân dân Trung Quốc, không hề can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc.
Đối với những vấn đề bất đồng về quan điểm hoặc những hành động sai trái do những người lãnh đạo Trung Quốc gây ra đối với Việt Nam, phía Việt Nam đã cố gắng và bền bỉ tìm cách giải quyết bằng con đường thảo luận nội bộ giữa hai bên. Mặc dầu những người lãnh đạo Trung Quốc đang tâm phá hoại tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn mà nhân dân Trung Quốc đã dành cho nhân dân Việt Nam và rất mong muốn tình hữu nghị anh em giữa nhân dân hai nước sớm được khôi phục. Trong các cuộc đàm phán để giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa hai nước, phía Việt Nam luôn luôn xuất phát từ lòng mong muốn tha thiết đó của nhân dân Việt Nam. Lập trường trước sau như một của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sớm khôi phục quan hệ bình thường giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên những nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ  của nhau, bình đẳng tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mỗi nước và vì lợi ích của hoà bình ổn định ở Đông nam châu Á và trên thế giới.   Tóm lại, trong 30 năm qua, những người cầm quyền Trung Quốc đã ba lần phản bội nhân dân Việt Nam :
1- Tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954, họ đã bán rẻ lợi ích dân tộc của nhân dân Việt Nam, không những để bảo đảm cho nước họ một vành đai an ninh ở phía nam, mà còn để chuẩn bị địa bàn cho việc thực hiện mưu đồ bành trướng ở Đông Dương và Đông nam châu Á. Họ muốn duy trì tình trạng Việt Nam bị chia cắt lâu dài, hòng làm cho Việt Nam suy yếu và phải phụ thuộc vào Trung Quốc.
2- Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, khi chế độ Ngô Đình Diệm bị  sụp đổ thì họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền nam Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam đang trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Níchxơn, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để đưa nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lên địa vị “siêu cường thứ ba” và đổi chác lấy việc giải quyết vấn đê Đài Loan.
3- Sau khi nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền nam khỏi ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ và thống nhất nước nhà, họ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao để làm suy yếu nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, tiến đến dùng lực lượng quân sự của bè lũ tay sai Pôn Pốt Iêng xary xâm lược Việt Nam ở phía tây nam và lực lượng quân sự của Trung Quốc trực tiếp xâm lược Việt Nam ở phía bắc, giết hại nhân dân Việt Nam, phá hoại nghiêm trọng các cơ sở kinh tế, văn hoá của Việt Nam ở các vùng có chiến sự. Ba lần họ phản bội Việt Nam, lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước! Đối với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, những người cầm quyền Trung Quốc cũng đã phản bội độc ác và bẩn thỉu. Họ đã hy sinh lợi ích dân tộc của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia tại Hội nghị Giưonevơ năm 1954. Trong thời kỳ sau Giơnevơ, họ ngăn cản nhân dân Lào và nhân dân Campuchia đấu tranh cho độc lập dân tộc, hoà bình, trung lập . Khi nhân dân Campuchia hoàn toàn giải phóng đất nước ngày 17 tháng 4 năm 1975, họ đã dùng bọn tay sai Pôn Pốt Iêng Xary để thực hiện chính sách diệt chủng, biến Campuchia thành một nước chư hầu kiểu mới, một căn cứ quân sự để từ đó tiến công nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở phía tây nam. Đối với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, họ phá hoại công cuộc xây dựng hoà bình của nhân dân Lào, trang bị và giúp đỡ các lực lượng phản động ở Lào gây rối loạn, đưa nhiều sư đoàn áp sát biên giới Lào Trung, hòng ép nhân dân Lào đi vào quỹ đạo của Bắc Kinh.
Họ chia rẽ nhân dân ba nước Việt nam, Lào, Campuchia hòng làm suy yếu và thôn tính từng nước. Để che giấu bộ mặt phản động của họ,  những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Quốc viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã “chiến đấu ở Điện Biên Phủ”…Nhân dân Trung Quốc đã dành môt phần thành quả lao động của mình để giúp đỡ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng đất nước, đó là điều mà nhân dân Việt Nam trong bất cứ tình huống nào, mãi mãi không bao giờ quên. Đối với nhân dân Việt Nam, đó là biểu hiện cao đẹp của mối tình đoàn kết chiến đấu của những người chung cảnh ngộ, nhưng đối với tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đó là một công cụ chính trị để thực hiện chính sách bành trướng của họ ở Việt Nam cũng như trên toàn bán đảo Đông Dương. Thực tế đã chỉ rõ họ đã sử dụng viện trợ đó khi thì như một “củ cà rốt”, khi thì như một “cái gậy”, tuỳ theo yêu cầu chính trị từng lúc của họ. Vả lại không chỉ có vấn đề Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam. Những người lãnh đạo Trung Quốc đã nhiều lần nói rằng, nói đến cám ơn thì nhân dân Trung Quốc phải cám ơn nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đã hy sinh nhiều, cống hiến nhiều đối với nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc phải cám ơn và có nghĩa vụ giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam. Nhân dân hai nước giúp đỡ lẫn nhau.
Về việc tổng thống Ních xơn đi thăn Trung Quốc năm 1972, chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói với những người lãnh đạo Việt Nam tháng 6 năm 1973 như sau: “ Thành thực mà nói, nhân dân Trung Quốc, Đảng cộng sản Trung Quốc và nhân dân thế giới phải cám ơn nhân dân Việt Nam đã đánh thắng Mỹ. Các đồng chí chiến thắng mới buộc Níchxơn phải đi Bắc Kinh” Về việc nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vào Liên hợp quốc năm 1971, thủ tướng Chu Ân Lai đã nói trong cuộ hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam tháng 11 năm 1971: “ Cống hiến của Việt Nam là rất lớn. Chúng ta gắn bó với nhau” Lịch sử-và trước hết là đội quân viễn chinh Pháp-đã trả lời rõ ràng câu hỏi: ai đã chiến đấu và chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954? Điều cần nói thêm là trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chính phủ Trung Quốc có phái một số cố vấn sang Việt Nam, và trong những năm 1960 Bắc Kinh có đưa sang Việt Nam một lực lượng gọi là “bộ đội hậu cần” để giúp Việt Nam sửa những đoạn đường sắt và đường bộ giáp Trung Quốc bị bom Mỹ phá hỏng và làm một số đường mới ở vùng biên giới hai nước. Nhưng mặt chủ yếu họ làm là điều tra tình hình các mặt, thâm nhập những vùng có các dân tộc thiểu số và tuyên truyền “cách mạng văn hoá”. Phần lớn những gián điệp và “bộ đội sơn cước” mà phía Việt Nam đã bắt được trong tháng 2, tháng 3 vừa qua chính là những tên “bộ đội làm đường” Trung Quốc trước đây. Từ sự phản bội ở Hội nghị Giơnevơ 1954, việc lợi dụng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đến việc dựng lên chế độ diệt chủng Pôn Pốt Iêng Xary, vũ trang xâm lược Việt Nam và uy hiếp xâm lược Lào, chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và chủ nghĩa bá quyền nước lớn. Cụ thể là họ mưu toan thôn tính Việt Nam và toàn bộ Đông Dương, lấy đó làm bàn đạp tiến xuống Đông nam châu Á và từng bước triển khai chiến lược toàn cầu của họ. Để đạt mục tiêu bành trướng và bá quyền của họ, những người cầm quyền Bắc Kinh đã nâng lừa dối và bịp bợm thành một quốc sách, một thủ đoạn chiến lược. Về phương diện này, từ chỗ là những người học trò của Gơben (bộ trưởng tuyên truyền của Hítle), họ đã trở thành người thầy của Gơben. Họ gán cho người khác những điều mà họ muốn làm. Họ đổ vấy cho người khác những điều mà chính họ làm. Họ dựng đứng sự việc, xuyên tạc tài liệu, bóp méo lịch sử. Họ đổi trắng thay đen, đảo ngược phải trái và cứ thế mà tuyên truyền bằng bộ máy thông tin khổng lồ và mọi phương tiện khác. Họ giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội nhưng lại chống chủ nghĩa xã hội. Họ hò hét chống chủ nghĩa đế quốc nhưng chính họ bắt tay với đế quốc Mỹ. Họ kêu la phải chống hai siêu cường nhưng lại câu kết với đế quốc Mỹ để chống Liên Xô. Họ nói chống chủ nghĩa bá quyền, nhưng chính họ mưu toan thực hiện chủ nghĩa bá quyền ở Đông Dương và Đông nam châu Á. Họ đưa quân xâm lược nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng lại vu cáo Việt Nam “xâm lược” Trung Quốc. Họ tỏ vẻ “bảo vệ nhân quyền”, quan tâm đến “những người Đông Dương di tản”, nhưng chính họ đã giết hại hàng triệu người Trung Quốc trong cuộc “đại cách mạng văn hoá”, đã xúi giục hơn 20 vạn người Hoa bỏ Việt Nam đi Trung Quốc. Đối với những người cầm quyền Bắc Kinh, luận điệu của họ là chân lý, lợi ích của họ là đạo lý. “Quan châu được đốt đèn, dân đen không được nổi lửa”, câu nói đó của những người nông dân Trung Quốc dùng trước đây để chỉ trích sự áp bức của bọn bạo chúa phong kiến đã trở thành phương châm của những người cầm quyền Bắc Kinh hiện nay nhằm thực hiện tham vọng bành trướng và bá quyền của họ.
Hiện nay, những người lãnh đạo Trung Quốc đang ra sức nêu cao ngọn cờ đại dân tộc để tập hợp các phe phái, thực hiện kế hoạch “bốn hiện đại hoá”. Về đối ngoại, họ ra sức thực hiện chính sách bành trướng ở Đông Dương và Đông nam châu Á, câu kết với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác, trước hết là Mỹ, chống Liên Xô và cách mạng thế giới, với hy vọng tranh thủ được nhièu vốn và kỹ thuật hiện đại của phương tây, phục vụ cho “bốn hiện đại hoá” và mưu đồ bành trướng và bá quyền của họ. Một Trung Quốc bị đầu độc bởi tư tưởng đại dân tộc, chủ nghĩa bành trướng và bá quyền của những người cầm quyền, bất kể phát triển theo con đường nào, không phải chỉ đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước ở Đông Dương, Đông nam châu Á và Nam Á, đe doạ hoà bình, ổn định ở khu vực này, mà còn đe doạ lợi ích nhiều mặt của các nước khác, kể cả các nước, vì lợi ích trước mắt, đang phụ hoạ với những người cầm quyền Trung Quốc chống Việt Nam, Lào và Campuchia. Một số người thức thời trong các nhà chính trị và kinh doanh phương tây mới cảnh cáo chính phủ họ về hậu quả nặng nề có thể xảy ra khi đất nước Trung Quốc lại lâm vào một cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ mới, nhưng họ chưa nói tới những hậu quả còn nặng nề gấp bội đối với lợi ích của các nước trên thế giới do chính sách bành trướng của những người lãnh đạo Trung Quốc gây ra. Trong hàng nghìn năm qua, nước Việt Nam đã bị các hoàng đế Trung Quốc xâm lược hàng chục lần, nhân dân Việt Nam hiểu rõ những ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Trung Quốc, cho nên không một phút nào là không cảnh giác đối với họ. Thậm chí trong lúc đế quốc Mỹ đẩy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên đến đỉnh cao nhất, nhân dân Việt Nam đứng trước những khó khăn chồng chất, nhưng đã thẳng thắn khước từ những đề nghị của những người lãnh đạo Trung Quốc đưa sang Việt Nam 20 vạn quân và số ô tô cần thiết để đảm nhiệm việc vận chuyển quân sự từ miền bắc vào miền nam Việt Nam. Nhân dân Việt Nam luôn luôn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ của mình không gì lay chuyển được, bất chấp sức ép dù là che dấu hay công khai, gián tiếp hay là trực tiếp của những người cầm quyền Trung Quốc.Mặc dù cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979 đã thất bại thảm hại cả về quân sự và chính trị, những người lãnh đạo Trung Quốc vẫn theo đuổi chính sách điên cuồng chống Việt Nam bằng mọi thủ đoạn.
Phía Trung Quốc vẫn giữ thái độ nước lớn trong cuộc đàm phán về những vấn đề thuộc quan hệ giữa hai nước, vẫn ngang ngược đe doạ “cho Việt Nam một bài học nữa” . Đồng thời họ tích cực tìm cách khôi phục chế độ diệt chủng Pôn Pốt Iêng Xary đã bị nhân dân Campuchia lật đổ hoàn toàn, đe doạ xâm lược nước Cộng hò dân chủ nhân dân Lào nhằm duy trì sự uy hiếp từ mọi phía đối với Việt Nam. “ Không có gì quý hơn độc lập tự do”  Nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững đường lối độc lập tự chủ  và đoàn kết quốc tế đúng đắn của mình, quyết đập tan mọi hành động xâm lược của bất kỳ thế lực phản động nào, quyết làm thất bại mọi mưu đồ bành trướng nhằm khuất phục nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam có chính nghĩa, lại có sức mạnh vô địch của khối đoàn kết toàn dân, kết hợp với sức mạnh của ba dòng thác cách mạng vĩ đại đã và đang đẩy lùi từng bước các âm mưu can thiệp, nô dịch và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chủ nghĩa bành trướng và chủ nghĩa bá quyền, ngày càng làm thay đổi bản đồ châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh.
Bọn bành trướng Bắc Kinh nếu không sớm rút ra những kết luận cần thiết từ sự thất bại của chính sách chống Việt Nam vừa qua, thì nhất định sẽ chuốc lấy những thất bại mới nặng nề hơn. Trong thời đại ngày nay, các nước lớn nhỏ đều là bộ phận của một tổng thể duy nhất của xã hội loài người. Bọn bành trướng Bắc Kinh không thể đụng đến Việt Nam mà không khiêu khích cả  loài người, không thách thức cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và mặt trận nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, các nước độc lập dân tộc và nhân dân yêu chuộng hoà bình và chính nghĩa trên thế giới đã và sẽ đứng về phía nhân dân Việt Nam. Bằng chính sách bịp bợm “ thân xa đánh gần” của các hoàng đế Trung Quốc và nhiều thủ đoạn xảo quyệt khác, những người cầm quyền Trung Quốc có thể còn che dấu được bộ mặt bành trướng của họ trong một thời gian. Nhưng sớm muộn nhân dân các nước ở Đông nam châu Á sẽ hiểu rằng chính sách thù địch của Bắc Kinh chống Việt Nam đe doạ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ không phải chỉ của riêng Việt Nam, mà của cả các nước trong khu vực. Mọi người chắc chưa quên rằng Bắc Kinh đã dùng “đạo quân thứ năm” người Hoa để gây rối loạn về chính trị, kinh tế ở nhiều nước thuộc Đông nam châu Á trước khi áp dụng ở Việt Nam. Hiện nay trong lúc họ tập trung cố gắng để chống Việt Nam, họ chẳng đang can thiệp một cách thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều nước khác ở châu Á  đó sao? Những người cộng sản chân chính ở Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc trong 30 năm tồn tại của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã luôn luôn bị các tập đoàn thống trị lừa dối, sớm muộn sẽ nhận ra chân lý và sẽ đứng về phía nhân dân Việt Nam, sẽ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình, góp phần bảo vệ hoà bình và ổn định ở Đông nam châu Á và trên thế giới tuy lâu dài, gian khổ nhưng nhất định sẽ thắng lợi vẻ vang. Nước Việt Nam ngày nay sẽ đứng vững và tiếp tục phát triển trước mọi mưu ma chước quỷ của những người cầm quyền Bắc Kinh, cũng như nước Việt Nam bốn nghìn năm qua đã đứng vững và phát triển trước những cuộc xâm lược liên tiếp của các hoàng đế Trung Quốc. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ sống trong hoà bình, hữu nghị và hợp tác, hợp với nguyện vọng của nhân dân hai nước và hợp với lợi ích của hoà bình ở Đông nam châu Á và trên thế giới.
VHNst
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Trung Quốc Hèn Hạ Phát Động Chiến Tranh Tấn Công Việt Nam Từ Hai Hướng

Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html
 Phía bắc, những người cầm quyền Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân gồm nhiều quân đoàn và nhiều sư đoàn độc lập, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng và xe bọc thép, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu khắp các quân khu của Trung Quốc, điên cuồng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979 trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1.000 km. Quân của bọn phản động Trung Quốc đi đến đâu là tàn sát dân thường, kể cả phụ nữ và trẻ sơ sinh, người già, phá huỷ triệt để các bản làng, chùa chiền, nhà thờ, trường học, vườn trẻ, bệnh viện, nông trường, lâm trường…
Cắt viện trợ, rút chuyên gia
Trong lúc bọn bành trướng Bắc Kinh ráo riết dụ dỗ, cưởng ép người Hoa ở Việt Nam đi Trung Quốc. họ dùng “cái gậy” viện trợ để đồng thời đánh Việt Nam về kinh tế. Chỉ trong hơn một tháng, bất chấp luật pháp và tập quán quốc tế, họ đơn phương tuyên bố chấm dứt toàn bộ viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam, gọi về nước tất cả chuyên gia và cán bộ kỹ thuật Trung Quốc đang công tác ở Việt Nam. Đây là một đòn cực kỳ thâm độc, đưa ra đúng lúc nhân dân Việt Nam đang phải hàn gắn những vết thương chiến tranh, đồng thời vừa phải đối phó với cuộc chiến tranh biên giới ở phía tây nam, khắc phục những khó khăn kinh tế do việc gần 20 vạn người Hoa đột nhiên bỏ ruộng đồng, nhà máy đi Trung Quốc, vừa phải đối phó với những thiệt hại nghiêm trọng do những trận bão lụt nặng nề nhất ở Việt Nam trong hàng trăm năm qua gây ra. Đi đôi với việc cắt viện trợ, rút chuyên gia, tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung Quốc còn ngang nhiên vận động các nước, các tổ chức quốc tế ngưng viện trợ cho công cuộc xây dựng lại Việt Nam. Lòng dạ họ xấu xa, thâm độc đến thế là cùng! Họ đẩy mạnh việc vu cáo Việt Nam để vừa che đậy ý đồ bành trướng của họ ở Đông nam châu Á, vừa cản trở quan hệ bình thường giữa Việt Nam và các nước thuộc tổ chức ASEAN, kêu gọi các nước đó lập “mặt trận chung với Trung Quốc” chống Việt Nam. Với cuộc vận động đó, họ hy vọng trên thực tế sẽ thực hiện được chính sách bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị, tiến công về quân sự như bọn đế quốc và thực dân vẫn làm bấy lâu nay đối với một số nước. Đây là một hành động thô bạo không những xâm phạm độc lập chủ quyền của Việt Nam, mà còn can thiệp vào công việc của nước khác và các tổ chức quốc tế.
Duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Nam
Song song với các hoạt động phá hoại về kinh tế, chính trị, những người cầm quyền Trung Quốc ráo riết tăng cường sức ép quân sự đối với nước Cộng hoà chủ nghĩa Việt Nam từ mọi phía. Ở phía bắc, họ đưa thêm quân ra vùng biên giới Việt Trung, tăng cường những vụ khiêu khích vũ trang lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tạo nên tình hình thường xuyên căng thẳng ở vùng biên giới. Nếu số vụ khiêu khích lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam của họ năm 1975 là 234 vụ, gấp rưỡi năm 1974, thì năm 1978 tăng vọt lên 2.175 vụ gấp gần 10 lần. Ở phía tây nam, theo mệnh lệnh của Bắc Kinh, bè lũ diệt chủng Pôn Pốt Iêng Xary khước từ các đề nghị của Việt Nam về việc hai bên thành lập một khu phi quân sự ở gần biên giới, cách ly quân đội của mình và ký một hiệp ước hữu nghị không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, để kiếm cớ duy trì cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam đồng thời chuẩn bị những cuộc phiêu lưu quân sự qui mô lớn sau này. Ở phía tây, những người cầm quyền Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, ngày càng tăng cường gây sức ép đối với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, một nước nhỏ hơn Trung Quốc, luôn luôn theo đuổi chính sách hoà bình, hữu nghị với các nước láng giềng. Họ nuôi dưỡng bọn tàn quân của lực lượng đặc biệt người Mẹo do CIA tổ chức và chỉ huy trước đây, thông qua đạo quân làm đường của họ để tìm cách can thiệp sâu vào các tỉnh Bắc Lào, vu cáo Việt Nam “thôn tính” Lào, chia rẽ Lào với Việt Nam, đưa nhiều sư đoàn quân áp sát biên giới Lào Trung. Mục tiêu của họ là để tăng thêm sự uy hiếp Việt Nam về quân sự từ phía tây, đồng thời làm suy yếu và khống chế từng bước Lào.
Tấn công Việt Nam từ hai hướng
Những mưu đồ trên đây rất thâm độc và có gây khó khăn cho nhân dân Việt Nam nhưng đều đã thất bại, cho nên cuối năm 1978 và đầu năm 1979, những người cầm quyền Trung Quốc đã phải tính đến việc tấn công quân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ hai hướng. Ở phía tây nam, theo kế hoạch của Bắc Kinh, sau khi tập trung 19 sư đoàn bộ binh (trong tổng số 23 sư đoàn bộ binh) đến sát biên giới Việt Nam, ngày 22 tháng 12 năm 1978 bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary  đã sử dụng những sư đoàn tinh nhuệ nhất của chúng, có xe tăng và pháo binh yểm trợ đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh (cách Sài Gòn hơn 100 km), với ý đồ đánh chiếm chớp nhoáng thị xã Tây Ninh, mở đường tiến sâu vào miền nam Việt Nam, đồng thời làm yếu Việt Nam để quân Trung Quốc dễ đánh vào Việt Nam từ phía bắc. Thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, nhân dân Việt Nam đã làm thất bại hoàn toàn kế hoach quân sự đó. Đồng thời quân và dân Campuchia dưới sự lãnh đạo của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, được sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam, đã vươn lên đập tan chế độ diệt chủng tàn bạo Pôn Pốt Iêng Xary và cái gọi là “Chính phủ Campuchia dân chủ”, và ngày 10 tháng 1 năm 1979 lập nên chế độ Cộng hoà nhân dân Campuchia thật sự đại diện cho nhân dân Campuchia. Ở phía bắc, những người cầm quyền Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân gồm nhiều quân đoàn và nhiều sư đoàn độc lập, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng và xe bọc thép, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu khắp các quân khu của Trung Quốc, điên cuồng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979 trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1.000 km. Quân của bọn phản động Trung Quốc đi đến đâu là tàn sát dân thường, kể cả phụ nữ và trẻ sơ sinh, người già, phá huỷ triệt để các bản làng, chùa chiền, nhà thờ, trường học, vườn trẻ, bệnh viện, nông trường, lâm trường…Chúng đã hành động với sự man rợ của một đạo quân ăn cướp thời trung cổ kết hợp với những thủ đoạn tinh vi của các đạo quân xâm lược của đế quốc ngày nay. Để lừa gạt dư luận Trung Quốc và dư luận thế giới, những người cầm quyền Bắc Kinh đã tuyên bố rằng đây chỉ là một cuộc “phản kích để tự vệ “ bằng những đơn vị biên phòng. Sự thật đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng lực lượng chính quy của hầu hết các quân khu của Trung Quốc, có chuẩn bị kỹ càng về các mặt, từ việc xây dựng những công trình quân sự, đường sá, hầm hào, sân bay dọc biên giới Việt Trung đến việc vu cáo Việt Nam, phá hoại tình hữu nghị Việt Trung, kích động tư tưởng đại dân tộc trong nhân dân Trung Quốc hòng biện bạch và che dấu hành động xâm lược của họ.  Về mặt đối ngoại, họ cũng chuẩn bị chu đáo, đặc biệt là họ đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược sau khi phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ và Nhật bản về, thực tế là sau khi tranh thủ được sự đồng tình của Mỹ và Nhật. Mục tiêu đầy tham vọng của họ là: tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang của Việt Nam, phá hoại tiềm lực quốc phòng và kinh tế, chiếm đất đai của Việt Nam, kích động bạo loạn. Hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mà những người cầm quyền Trung Quốc gây ra từ hai hướng là bước leo thang cao nhất trong cả một quá trình hành động tội ác chống độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam từ trước đến nay nhằm làm suy yếu, thôn tính và khuất phục Việt Nam. Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược của họ đã thất bại thảm hại, đã bị toàn thế giới lên án và một bộ phận nhân dân Trung Quốc phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm 1979 họ đã buộc phải tuyên bố rút quân và sau đó đã phải nhận ngồi đàm phán với phía Việt Nam.
Những người cầm quyền Trung Quốc đã tuyên bố rút quân về bên kia đường biên giới, nhưng thực tế cho đến nay quân của họ tiếp tục chiếm đóng hơn mười điểm trên lãnh thổ Việt Nam, xây dựng thêm công sự ở các nơi đó, vi phạm trắng trợn đường biên giới do lịch sử để lại mà cả hai bên đã thoả thuận tôn trọng. Suốt dọc biên giới Việt Trung, họ tiếp tục bố trí nhiều quân đoàn có pháo binh và thiết giáp yểm trợ, tăng cường các phương tiện chiến tranh, ra sức xây dựng các công trình quân sự, thường xuyên diễn tập quân sự, tung các đội thám báo biệt kích xâm nhập nhiều khu vực của Việt Nam. Không ngày nào họ không gây những vụ khiêu khích vũ trang, nổ súng, gài mìn, bắn giết nhân dân địa phương. Có nơi, họ cho bắn súng cối hạng nặng suốt ngày, có nơi họ cho một tiểu đoàn quân chính quy tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam hơn 4 km, bắn giết dân thường, đốt phá nhà cửa và phá hoại hoa màu. Có nơi từng tốp máy bay Trung Quốc bay sâu vào vùng trời Việt Nam từ 8 đến 10 km. Họ bí mật đẩy trở lại Việt Nam những người Hoa đã bị họ cưỡng bức di cư đi Trung Quốc. Những hành động có tính toán đó cùng với các thủ đoạn khác của họ nhằm duy trì tình hình căng thẳng ở vùng biên giới, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tiếp tục uy hiếp an ninh của nước Việt Nam. Những người cầm quyền Trung Quốc còn nhiều lần đe doạ “cho Việt Nam một bài học thứ hai”, thậm chí “nhiều bài học nữa”. Trên danh nghĩa nào và dựa vào luật pháp nào mà những người cầm quyền Bắc Kinh có quyền cho Việt Nam và dạy cho Việt Nam bài học? Việt Nam và Trung Quốc đều là những nước độc lập có chủ quyền. Hiến chương Liên hợp quốc, công pháp quốc tế cũng như tập quán quốc tế tuyệt đối không cho phép Trung Quốc làm bất cứ điều gì phương hại đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như của bất kỳ nước nào khác. Phải chăng vì Trung Quốc nước rộng người đông mà bọn bành trướng Bắc Kinh tự cho phép làm ra luật, đe doạ, khuất phục các nước nhỏ hơn, ít người hơn? Những người cầm quyền Trung Quốc đã nhận ngồi vào đàm phán với phía Việt Nam để bàn những biện pháp cấp bách bảo đảm hoà bình và an ninh ở vùng biên giới và các vấn đề thuộc quan hệ giữa hai nước. Nhưng ở vòng một tiến hành tại Hà Nội, cũng như ở vòng hai tiến hành tại Bắc Kinh, phía Trung Quốc vẫn lẫn tránh những đề nghị hợp lý, hợp tình của phía Việt Nam, từ chối bàn đề nghị của phía Việt Nam về những biện pháp cấp bách nhằm chấm dứt các hoạt động khiêu khích vũ trang và bảo đảm hoà bình, ổn định ở vùng biên giới hai nước, tiền đề cấp thiết cho việc tiếp tục giải quyết các vấn đề khác thuộc quan hệ giữa hai nước. Mặt khác, họ đặt điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải từ bỏ đường lối độc lập tự chủ của mình, từ bỏ chủ quyền của mình đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ mới đi vào bàn bạc các vấn đề khác. Đây là thái độ bá quyền nước lớn: họ đến đàm phán không phải để bàn bạc một cách bình đẳng và xây dựng nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp, mà chỉ để buộc đối phương phải chấp nhận lập trường của mình. Việc những người cầm quyền Trung Quốc đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Lào, thậm chí nêu ra “nguyên tắc chống bá quyền”  chẳng qua là để che dấu việc họ đưa quân xâm lược Việt Nam, uy hiếp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và can thiệp vào công việc nội bộ của nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, che dấu bộ mặt bá quyền bỉ ổi của họ nhằm thôn tính ba nước ở Đông Dương, dùng Đông Dương làm bàn đạp bành trướng xuống Đông nam châu Á. Gần đây, những người cầm quyền Trung Quốc giương cao chiêu bài “nhân quyền” của tổng thống Mỹ Catơ, lợi dụng vấn đề người Việt Nam đi ra nước ngoài làm một vũ khí mới để chống Việt Nam. Những người Việt Nam đi ra nước ngoài phần lớn là những nhà buôn giàu có và những sĩ quan trước đây sống nhờ Mỹ và chế độ bù nhìn Sài Gòn, những người Hoa do Bắc Kinh dụ dỗ, cưỡng ép ra đi; một số là những người trước đây sống trong xã hội tiêu thụ kiểu Mỹ và nay không chịu nổi những khó khăn do cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và sự phá hoại của bọn bành trướng Bắc Kinh gây ra. Chính phủ  Việt Nam vốn có chính sách nhân đạo, tôn trọng nhân quyền, không những đối xử nhân đạo với những người Việt Nam đã hợp tác với kẻ thù trong thời gian chiến tranh, mà còn khoan hồng cả đối với những binh sĩ của các đội quân xâm lược bị bắt trong hơn 30 năm qua. Chính phủ Việt Nam hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả của vấn đề những người Việt Nam đi ra nước ngoài, đồng thời rất thông cảm các khó khăn của các nước láng giềng trước dòng người di cư đó. Chính vì thế, từ tháng 1 năm 1979, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố cho phép những người có nguyện vọng ra nước ngoài để sum họp gia đình hoặc làm ăn sinh sống được xuất cảnh một cách hợp pháp sau khi đã làm đã làm đầy đủ các thủ  tục cần thiết. Mặt khác, các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam đã cùng cơ quan Cao uỷ Liên hợp quốc về vấn đề người tỵ nạn thoả thuận một chương trình 7 điểm được công bố ngày 30 tháng 5 năm 1979, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho những người nói trên ra đi một cách có trật tự và an toàn, đồng thời làm giảm bớt các khó khăn cho các nước ở Đông nam châu Á. Song cả Bắc Kinh và Oasinhtơn đều huy động bộ máy tuyên truyền khổng lồ và mọi phương tiện chính trị, kinh tế, tài chính của họ, lợi dụng khía cạnh nhân đạo của vấn đề, sử dụng mọi thủ đoạn gian dối, xuyên tạc, kích động để bóp méo sự thật về vấn đề những người Việt Nam đi ra nước ngoài, phát động một chiến dịch quy mô và cực kỳ ghê tởm chống Việt Nam. Nhưng thủ phạm đích thực của dòng người “di tản” là ai? Người ta chưa quên rằng Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược có tính chất huỷ diệt chống Việt Nam và khi phải rút đạo quân viễn chinh của họ, họ để lại ở miền nam Việt Nam một đất nước bị tàn phá, một nền kinh tế tê liệt với trên 3 triệu người thất nghiệp, trên 1 triệu người bị tàn phế, 80 vạn trẻ em mồ côi, trên 60 vạn gái điếm, trên 1 triệu thanh niên nghiện ma tuý… Còn những người cầm quyền Bắc Kinh thì sao ? Chính họ đã trắng trợn gây ra cái gọi là “nạn kiều”, cưởng ép, dụ dỗ người Hoa bỏ nhà bỏ cửa, ruộng đồng, nhà máy để đi Trung Quốc, dùng những tổ chức của Cục Tình báo Hoa Nam để quấy rối về chính trị, đầu cơ tích trữ,  nâng giá hàng, in bạc giả nhằm phá hoại nền kinh tế của Việt Nam, chồng chất thêm khó khăn cho người dân miền nam Việt Nam. Trong lúc các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam đang cùng cơ quan Cao uỷ Liên hợp quốc về vấn đề người tỵ nạn tổ chức việc ra đi có trật tự và an toàn, những người cầm quyền Bắc Kinh cho tay sai tổ chức việc ra đi bất hợp pháp, để kêu la rằng Việt Nam “xuất cảng nạn dân” , mặc dù chính họ cho hàng nghìn người Trung Quốc hàng ngày sang Hồng Kông để từ đó đi các nước Đông nam châu Á, và hoàn toàn không đếm xỉa đến số phận 26.000 Hoa kiều bị bọn Pôn Pốt Iêng Xary trục xuất khổi Campuchia. Rất tiếc rằng có những chính phủ, những tổ chức vì không hiểu sự thật ở Việt Nam hoặc vì muốn lấy lòng những người cầm quyền Trung Quốc để buôn bán làm ăn, đã phụ hoạ với chiến dịch kích động và vu cáo của Bắc Kinh! Chính những kẻ cướp lại đang la làng, những kẻ chà đạp lên nhân quyền và luật pháp quốc tế lại đang giương cao chiêu bài “nhân đạo” để thực hiện mục đích chính trị đen tối của họ. Mục đích của Bắc Kinh là xoá nhoà những tội ác tày trời của họ ở Campuchia và trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, che đậy việc họ kích động người Hoa ở Việt Nam ra đi và “xuất cảng” hàng chục vạn người Trung Quốc ra nước ngoài, gây khó khăn cho các nước ASEAN, chia rẽ các nước ASEAN với Việt Nam, đánh lạc hướng về nguy cơ của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc và vai trò của “đạo quân thứ năm” người Hoa ở Đông nam châu Á. Nhưng  đối với những người có lương tri, sự thật vẫn là sự thật. Hiện nay ngày càng có nhiều người thấy được thủ đoạn bẩn thỉu của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh, tỏ ra thông cảm với những khó khăn và hoan nghênh lập trường đúng đắn của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các thế lực đế quốc và phản động, chủ yếu là Oasinhtơn  và Bắc Kinh đã thất bại trong âm mưu biến Hội nghị quốc tế ở Giơnevơ tháng 7 vừa qua về vấn đề người Đông Dương đi ra nước ngoài thành một diễn đàn để vu cáo chống Việt Nam. Những đề nghị của Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tỏ rõ thái độ xây dựng và hợp tác trong việc giải quyết vấn đề những người di cư, đã được sự đồng tình rộng rãi của đại biểu nhiều nước tôn trọng sự thật và công lý, và đã góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị là đặt được nền tảng của một giải pháp cho vấn đề như ông Tổng thư ký Liên hợp quốc K. Van hem đã kết luận. Nhưng thực tế còn nhiều khó khăn và phức tạp do những hoạt động phá hoại của các thế lực đế quốc và phản động, trước hết là của Oasinhtơn và Bắc Kinh. Hiện nay trong lúc Bắc Kinh lớn tiếng đe doạ chiến tranh, trắng trợn đòi “chủ quyền”  đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đế quốc Mỹ đưa hạm đội vào hoạt động ngoài khơi Việt Nam không những để khuyến khích những người ra đi bất hợp pháp, mà còn để phối hợp với Bắc Kinh tronh những âm mưu đen tối của họ ở khu vực biển Đông và  Đông nam châu Á.
Trong 5 năm qua, bằng mọi thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao trực tiếp và gián tiếp, tinh vi và trắng trợn, giấu mặt và công khai, những người cầm quyền Trung Quốc đã không ngừng phá hoại công cuộc xây dựng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ càng thất bại thì càng điên cuồng chống Việt Nam hòng khuất phục nhân dân Việt Nam. Đây là sự phản bội thứ ba của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.
VHNST
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Sau 30-4-1975 Việt Nam Thống Nhất Đất Nước. Trung Quốc Công Khai Chính Sách Thù Địch Điên Cuồng Với Việt Nam

 Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html

Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ, nhưng sự câu kết của họ với Mỹ không ngăn cản được nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn và dựng lên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dư luận chung trên thế giới đều thấy rằng thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã có tác động rõ rệt đến tình hình quốc tế. Nếu thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, thì thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam chứng minh trước toàn thế giới sự phá sản hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân mới là không tránh khỏi. Ngày nay các lực lượng cách mạng đã lớn mạnh và có lợi thế hơn bao giờ hết. Đế quốc Mỹ không thể đóng vai sen đầm quốc tế bất cứ đâu mà không bị trừng phạt, không thể xâm chiếm bất cứ một tấc đất nào của bất kỳ nước xã hội chủ nghĩa nào, không thể đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn con đường phát triển của các nước lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện không phương cứu chữa. Chúng đang đứng trước những khó khăn chồng chất về nhiều mặt, đang phải đương đầu với cuộc tiến công rộng lớn và mạnh mẽ của ba dòng thác cách mạng trên thế giới, ở ngay cả những dinh luỹ tưởng chừng như rất kiên cố của chúng ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ  la tinh. Mặc dù đã tung vào Việt Nam một đội quân viễn chinh gồm 60 vạn tên làm nòng cốt cho hơn 1 triệu quân nguỵ, đã ném xuống Việt Nam 7 triệu 85 vạn tấn bom và chi tiêu 352 tỉ đô la, đế quốc Mỹ xâm lược vẫn không khuất phục được nhân dân Việt Nam. Đây là thất bại lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, ảnh hưởng sâu sắc về nhiều mặt đến tình hình nước Mỹ. Vì thế sau thất bại ở Việt Nam, đế quốc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược trên thế giới, ở châu Á, nhất là ở Đông nam châu Á cho phù hợp với tình hình mới. Chúng đẩy mạnh câu kết với các thế lực phản động, đặc biệt là với các thế lực phản bội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chủ yếu là với tập đoàn phản động Bắc Kinh, hòng chia rẽ, phá hoại hệ  thống xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới. Về phần những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc. Họ muốn Việt Nam bị chia cắt lâu dài, nhưng nhân dân Việt Nam đã đánh cho “Mỹ cút, nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền nam và thống nhất nước nhà. Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ, nhưng sự câu kết của họ với Mỹ không ngăn cản được nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn và dựng lên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, nhưng nhân dân Việt Nam đã giữ vững đường lối độc lập tự chủ của mình, tăng cường đoàn kết với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác. Không những các thoả thuận giữa họ với chính quyền Níchxơn, những mưu đồ chiến lược của họ đã bị thất bại, mà một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa, có đường lối cách mạng Mác Lênin chân chính, độc lập tự chủ và có uy tín chính trị trên thế giới sẽ là cản trở nghiêm trọng cho mưu đồ bành trướng và bá quyền của họ ở Đông Dương và Đông nam châu Á. Thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam không chỉ là thất bại lớn của đế quốc Mỹ xâm lược, mà cũng là thất bại lớn của bọn bành trướng Bắc Kinh. Vào những năm cuối đời và sau cái chết của chủ tịch Mao Trạch Đông, cuộc khủng hoảng nội bộ của Trung Quốc tiếp tục diễn ra gay gắt với những cuộc thanh trừng tàn bạo để tảnh giành quyền bính. Trong 20 năm liền, nền kinh tế và tình hình chính trị, xã hội Trung Quốc đã bị thụt lùi và hỗn loạn vì cuộc “đại nhảy vọt” và cuộc “đại cách mạng văn hoá” đòi hỏi phải được cấp bách ổn định và cải thiện. Mặt khác, sự yếu kém về kinh tế và quân sự của Trung Quốc không cho phép những người cầm quyền Bắc Kinh thực hiện mưu đồ như họ mong muốn. Cho nên về đối nội họ lấy tư tưởng đại dân tộc để tập hợp các phe phái và động viên nhân dân Trung Quốc nằhm thực hiện kế hoạch “bốn hiện đại hoá”. Về đối ngoại họ dấn sâu vào con đường phản động, lợi dụng lúc chủ nghĩa đế quốc bị khủng hoảng về kinh tế và chính trị nghiêm trọng và lúc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu, để câu kết với chủ nghĩa đế quốc, chống Liên Xô, chống phong trào cách mạng thế giới, kiếm nhiều vốn và kỹ thuật của các nước phương Tây cho kế hoạch “bốn hiện đại hoá”. Khẩu hiệu “chống bá quyền” của họ chỉ là chiêu bài để che đậy chiến lược phản cách mạng và chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ. Họ hằn học nhìn thắng lợi của nhân dân Việt Nam, cho nên từ khi nhân dân Việt Nam giành được toàn thắng, họ ngày càng công khai và điên cuồng thực hành một chính sách thù địch toàn diện và có hệ thống chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ĐIÊN CUỒNG CHỐNG VIỆT NAM NHƯNG CÒN CỐ GIẤU MẶT
1 -Thông qua bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary tiến hành cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam ở phía tây nam Việt Nam. Ngay từ giữa những năm 1960, những người lãnh đạo Trung Quốc đã mưu tính nắm trọn vấn đề Campuchia, trước mắt nhằm phá hoại Mặt trận đoàn kết nhân dân các nước ở Đông Dương, làm yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, có thế đàm phán với Mỹ và lâu dài nhằm bắt Campuchia lệ thuộc và trở thành một bàn đạp của Trung Quốc để bành trướng xuống Đông Dương và Đông Nam châu Á. Sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, nước Campuchia hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị của bè lũ Lon Non tay sai của Mỹ, họ dùng bọn tay sai Pôn Pốt Iêng Xary chiếm quyền lãnh đạo Đảng cộng sản Campuchia, gạt quốc trưởng Xihanúc và những người thân cận của ông ta để xây dựng lên một chế độ phát xít diệt chủng có một không hai trong lịch sử loài người và thông qua chế độ đó hoàn toàn kiểm soát nước Campuchia, biến Campuchia thành một nước chư hầu kiểu mới và căn cứ quân sự của họ để tiến đánh Việt Nam từ phía tây nam. Họ đã đổ tiền, vũ khí và dụng cụ chiến tranh các loại và đưa hàng vạn cố vấn Trung Quốc vào Campuchia  để thành lập hàng chục sư đoàn mới gồm đủ bộ binh, thiết giáp, pháo binh, xây dựng thêm hoặc mở rộng nhiều căn cứ hải quân, không quân, hệ thống kho hậu cần. Dưới sự đạo diễn của Bắc Kinh, tập đoàn cầm quyền phản động Phnôm Pênh tiến hành liên tục một chiến dịch tuyên truyền rộng khắp vu khống Việt Nam “xâm lược Campuchia”, “âm mưu ép Campuchia vào Liên bang Đông Dương do Việt Nam khống chế”, ráo riết hô hào chiến tranh chống Việt Nam. Chúng đã phá hoại cuộc đàm phán giữa hai nước nhằm giải quyết vấn đề biên giới để có cớ duy trì một tình hình ngày càng căng thẳng ở vùng biên giới Việt Nam-Campuchia. Ngay từ tháng 4 năm 1975, chúng đã đưa quân lấn chiếm, bắn phá nhiều điểm trên lãnh thổ Việt Nam và từ đó ngày càng gây thêm nhiều vụ xung đột ở biên giới, đột kích nhiều đồn biên phòng, làng xóm Việt Nam, làm cho tình hình ở vùng biên giới không ổn định, ngăn cản nhân dân Việt Nam khôi phục và xây dựng kinh tế. Từ những cuộc khiêu khích vũ trang, chúng tiến đến gây ra một cuộc chiến tranh biên giới chống nước Việt Nam từ tháng 4 năm 1977 suốt dọc hơn 1.000 km với những cuộc tiến công quy mô, huy động hàng vạn bộ binh có xe tăng, trọng pháo yểm trợ, có khi vào sâu lãnh thổ Việt Nam hơn 30 km, giết hại dã man dân thường, tàn phá nhà cửa, hoa màu, gây nên biết bao tội ác không thể dung thứ được.
2- Dùng vấn đề người Hoa để chống Việt Nam từ bên trong
Ở Việt Nam có khoảng 1 triệu 20 vạn người Hoa sinh sống; gần 1 triệu người ở miền nam, trên 20 vạn người ở miền bắc. Năm 1955, Đảng Lao động Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc đã thoả thuận là người Hoa ở miền bắc Việt Nam do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo và dần dần chuyển thành công dân Việt Nam. Trong hơn 20 năm qua, người Hoa ở miền bắc được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ như công dân Việt Nam. Còn người Hoa ở miền nam, từ năm 1956 dưới chính quyền Ngô Đình Diệm đã vào quốc tịch Việt Nam để được hưởng nhiều điều kiện dễ dàng trong việc làm ăn sinh sống. Sau khi giải phóng hoàn toàn miền nam, Chính phủ và nhân dân Việt Nam tiếp tục nghiêm chỉnh thực hiện sự thoả thuận năm 1955 giữa hai đảng về người Hoa ở miền bắc, đồng thời tôn trọng thực tế lịch sử về người Việt gốc Hoa ở miền nam Việt Nam, coi người Hoa ở cả hai miền là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Số ít người mang căn cước Đài Loan, Hồng Kông hoặc quốc tịch nước khác và số Hoa kiều bị bọn Pôn Pốt Iêng Xary xua đuổi và tỵ nạn sang miền nam Việt Nam thì được coi là ngoại kiều. Ngược lại, những người cầm quyền Trung Quốc xuyên tạc sự thoả thuận năm 1955 giữa hai đảng, phủ nhận thực tế lịch sử về những người Việt gốc Hoa ở miền nam Việt Nam, coi tất cả người Hoa ở hai miền là kiều dân Trung Quốc để đòi quyền lãnh đạo những người ấy. Trên thực tế, họ lập các tổ chức phản động và màng lưới gián điệp người Hoa trên đất Việt Nam. Các tổ chức gọi là “Hoa kiều hoà bình liên hiệp hội”, “Hoa kiều tiến bộ”, “Hoa kiều cứu vong hội”, “Đoàn thanh niên chủ nghĩa Mác Lênin”, “Hội học sinh Hoa kiều yêu nước”, “Mặt trận thống nhất Hoa kiều”…do Bắc Kinh thành lập và chỉ huy, đã hoạt động chống lại các chính sách của  chính quyền, chống lệnh đăng ký nghĩa vụ quân sự, chống việc đi xây dựng vùng kinh tế mới, kích động tâm lý huyết thống trong người Việt gốc Hoa, khơi lên phong trào đòi trở lại quốc tịch Trung Quốc. Họ in tiền giả, đầu cơ tích trữ, nâng giá hàng nhằm phá kế hoạch ổn định và phát triển kinh tế của các cơ quan Nhà nước ở miền nam Việt Nam. Với những thủ đoạn đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã gây thêm khó khăn cho nhân dân miền nam Việt Nam vốn đã gặp biết bao khó khăn do 30 năm chiến tranh của đế quốc để lại, khiến cho nhiều người về sau bỏ nước ra đi tìm một nơi mà họ cho là dễ làm ăn hơn. Bắc Kinh đã dùng người Hoa làm công cụ gây rối loạn về chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam như họ đã làm ở một số nước Đông nam châu Á và Nam Á3- Dùng vấn đề viện trợ để tăng thêm sức ép. Năm 1973, những người lãnh đạo Trung Quốc đã long trọng hứa sẽ viện trợ cho Việt Nam ít nhất trong 5 năm liền ở mức kim ngạch năm 1973. Năm 1975, khi chào mừng nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền nam Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc cũng nói: “ sẽ tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình, kiên quyết ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa nhằm củng cố thành quả thắng lợi, thống nhất và xây dựng Tổ quốc của nhân dân Việt Nam”. Thật ra, đây chỉ là một lời tuyên bố giả dối để che dấu sự hằn học của họ đối với thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam đang làm nức lòng tất cả những lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới , che giấu những kế hoạch đen tối của họ nhằm chống lại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên thực tế họ không ủng hộ nhân dân Việt Nam xây dựng lại đất nước trong giai đoạn mới. Nếu những năm 1969-1970, những người lãnh đạo Trung Quốc giảm viện trợ đối với Việt Nam vì họ không tán thành Việt Nam thương lượng với Mỹ để kéo Mỹ xuống thang chiến tranh, và nếu những năm 1971-1972 họ tăng viện trợ đối với Việt Nam cao nhất so với các năm trước vì họ muốn lợi dụng vấn đề Việt Nam để thương lượng với Mỹ, thì đến năm 1975 họ lại dùng viện trợ để gây sức ép với Việt Nam. Họ khước từ những yêu cầu viện trợ mới của Việt Nam. Về phần viện trợ cũ đã thoả thuận từ trong chiến tranh và chưa giao hết, họ vin cớ này cớ khác để dây dưa, trong đó có những công trình đang làm dở, có những công trình rất quan trọng đối với công cuộc hoà bình xây dựng đất nước Việt Nam. Rõ ràng viện trợ của những người lãnh đạo Trung Quốc không phải là “vô tư” như họ thường khoe khoang, mà chỉ là công cụ của chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn. Viện trợ của Bắc Kinh vẫn chỉ là “cây gậy và củ cà rốt”. Những thủ đoạn nói trên của Bắc Kinh nhằm chống Việt Nam là những đòn thâm độc, quyết liệt nhưng đều đã thất bại: bộ mặt phát xít diệt chủng của bọn Pôn Pốt Iêng Xary bị nhân dân Campuchia và cả loài người tiến bộ lên án; kế hoạch dùng người Hoa phá Việt Nam từ bên trong bị phá sản; mưu đồ gây sức ép bằng viện trợ và các thủ đoạn khác không lay chuyển được đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam, không khuất phục được nhân dân Việt Nam.
III -ĐIÊN CUỒNG CHỐNG VIỆT NAM MỘT CÁCH CÔNG KHAI
Giấu mặt chống Việt Nam không đạt kết quả mong muốn, những người cầm quyền Trung Quốc quay ra công khai chống Việt Nam bằng mọi thủ đoạn, kể cả bằng đe doạ vũ lực và dùng vũ lực.  Cái gọi là vấn đề “nạn kiều” Đầu năm 1978, những người cầm quyền Trung Quốc dựng lên cái gọi là vấn đề nạn kiều để mở đầu một chiến dịch quy mô công khai chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sự thật là chính các tổ chức bí mật người Hoa, màng lưới gián điệp của Trung Quốc ở Hà Nội được sự chỉ đạo hàng ngày, hàng giờ của bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh, bằng những sự bịa đặt trắng trợn, những luận điệu vu cáo Việt Nam “xua đuổi, bài xích, khủng bố người Hoa”, bằng những thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc, dụ dỗ, doạ nạt đã gây nên trong quần chúng người Hoa đang làm ăn yên ổn ở Việt Nam một tâm trạng hoang mang, lo sợ chiến tranh sắp nổ ra, một tâm lý nghi ngờ, thậm chí thù ghét người Việt Nam, khiến họ ồ ạt kéo đi Trung Quốc. Bọn tay chân của Trung Quốc tổ chức cho những người đó vượt biên trái phép rồi lại chặn họ lại, gây ra ùn tắc ở biên giới Việt Trung để dễ bề kích động họ chống lại và hành hung những nhà chức trách Việt Nam ở địa phương. Lúc dòng người Hoa ùn ùn kéo đi Trung Quốc, Bắc Kinh lại trắng trợn đưa hai tàu sang Việt Nam đón “nạn kiều”, mặc dù họ không hề nêu trước vấn đề đó với Chính phủ Việt Nam. Chỉ trong mấy tháng đầu, 17 vạn người Hoa đã rời Việt Nam đi Trung Quốc. Cái gọi là vấn đề “nạn kiều” chỉ là một sự cưỡng bức người Hoa ờ Việt Nam ồ ạt di cư đi Trung Quốc mà thủ phạm chính là tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh, một sự lừa gạt và một sự phản bội của họ nhằm gây xáo trộn về chính trị, xã hội, kinh tế ở Việt Nam, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, đồng thời kích động dư luận Trung Quốc, chuẩn bị sẵn sàng  “đạo quân thứ năm” cho việc tiến hành xâm lược Việt Nam trong bước sau. Vốn là những người làm ăn sinh sống lâu đời ở Việt Nam, thông thạo địa hình, phong tục, tập quán, có nhiều cơ sở quen thuộc cũ, có kkả năng nắm được nhiều tin tức tình hình, những người Hoa ở Việt Nam đi Trung Quốc đã được bọn bành trướng Bắc Kinh chọn lựa để đưa vào những “sư đoàn sơn cước” chuyên đánh rừng núi, thọc sâu vào hậu phương, hoặc những đơn vị đi mở đường, hoặc những đơn vị thám báo, dẫn đường, bắt cóc, ám sát, phá hoại cầu cống kho tàng của Việt Nam. Nhiều tên trong bọn chúng đã bị bắt trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam từ ngày 17 tháng 2 năm 1979. Trước quyết tâm của nhân dân Việt Nam giữ vững chủ quyền của mình, những người cầm quyền Bắc Kinh buộc phải rút hai chiếc tàu đi đón “nạn kiều” về nước, ngồi vào đàm phán với phía Việt Nam về việc giải quyết vấn đề người Hoa. Nhưng trong đàm phán họ vẫn giữ thái độ nước lớn, ngang ngược áp đặt quan điểm vô lý của họ, bất chấp chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và luật pháp quốc tế. Chính họ đã cố tình phá hoại cuộc đàm phán đó để tiếp tục dùng vấn đề người Hoa chống Việt Nam.
VHN st
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Trung Quốc Cản Trở Nhân Dân Việt Nam Thống Nhất Đất Nước- Ngang Ngược Chiếm Hoàng Sa- Xúi Dục Cam Pu Chia Chống Việt Nam

Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html

 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược . Bắc Kinh chỉ can thiệp vào giai đoạn chót . Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lần này của nhân dân Việt Nam, họ can thiệp ngay từ đầu, tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh trên cả nước Việt Nam, ném bom cực kỳ man rợ miền bắc, lấy vấn đề Việt Nam để buôn bán với Mỹ, nhưng luôn luôn làm ra vẻ “triệt để cách mạng”, “tích cực” ủng hộ Việt Nam. Đây là sự phản bội thứ hai của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.
Theo hiệp định Pari về Việt Nam, Mỹ phải rút hết đội quân viễn chinh của Mỹ ra khỏi miền nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, thừa nhận ở miền nam Việt Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng chính trị, và các bên Việt Nam cùng thành lập một Chính phủ liên hiệp ba thành phần ở miền nam Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối độc lập, tự chủ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam, là thắng lợi của phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Đó là thất bại của sự mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam giữa chính quyền Níchxơn và những người lãnh đạo Trung Quốc thể hiện trong Thông cáo Thượng Hải. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam Việt Nam luôn luôn chủ trương thi hành nghiêmm chỉnh Hiệp định Pari và đòi Mỹ Thiệu cũng phải có thái độ như vậy. Nhưng Mỹ Thiệu mưu toan phá hoại việc thi hành Hiệp định đó, chỉ muốn thi hành những điều khoản có lợi cho Mỹ. Đối với các điều khoản khác họ vi phạm ngay từ phút đầu. Lúc Hiệp định Pari bắt đầu có hiệu lực cũng là lúc Mỹ Thiệu đưa hàng vạn quân có máy bay, trọng pháo và xe tăng yểm trợ đổ bộ lên Cửa Việt hòng chiếm lấy vùng giải phóng phía bắc tỉnh Quảng Trị. Sau đó quân nguỵ liên tiếp tấn công trên khắp miền nam Việt Nam, lấn chiếm nhiều vùng giải phóng do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam Việt Nam quản lý. Âm mưu của Mỹ nguỵ là xoá bỏ tình hình thực tế có hai vùng, hai chính quyền, đặt lại toàn bộ miền nam Việt Nam dưới ách thống trị thực dân kiểu mới, kéo dài chia cắt nước Việt Nam. Những người lãnh đạo Trung Quốc tỏ vẻ hoan nghênh Hiệp định Pari về Việt Nam. Trên thực tế để thực hiện sự thoả thuận với Mỹ và tăng cường câu kết với Mỹ, đồng thời tiếp tục làm suy yếu hòng khuất phục Việt Nam, họ tìm mọi cách cản trở cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm đánh bại âm mưu của Mỹ Thiệu phá hoại Hiệp định Pari, giải phóng hoàn toàn miền nam và thống nhất nước nhà.
1- Kiềm chế cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống Mỹ Thiệu phá hoại Hiệp định Pari.
Trong cuộc hội đàm ở Bắc Kinh tháng 6 năm 1973, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với Tổng bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Ở miền nam Việt Nam cần ngừng (chiến đấu) nửa năm, một năm, một năm rưỡi, hai năm càng tốt”. Cách mạng miền nam nên “chia làm hai bước  . Gộp lại làm một, người Mỹ không chịu đâu. Vấn đề là trong tay chính quyền Nguyễn Văn Thiệu còn có mấy chục vạn quân”. Và ông ta nhắc lại đến luận điểm “cái chổi” đã nói với phía Việt Nam trước đây. Thủ tướng Chu Ân Lai thì nói: “Trong một thời gian chưa có thể nói dứt khoát là 5 năm hay 10 năm, Việt Nam và Đông Dương nghỉ ngơi được thì càng tốt; tranh thủ thời gian đó mà nhân dân miền nam Việt Nam, Lào, Campuchia thực hiện hoà bình, trung lập một thời gian”. Để tỏ thiện chí với nhân dân Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc hứa hẹn sẽ tiếp tục viện trợ trong 5 năm với mức kim ngạch như năm 1973. Sự thật là khi đó họ đã ngừng hoàn toàn viện trợ về quân sự, còn về viện trợ kinh tế họ nhận chủ yếu phục hồi các cơ sở do Trung Quốc giúp trước đây và đã bị Mỹ đánh phá nhưng họ kéo dài việc thực hiện, có nơi không thực hiện. Những người cầm quyền Trung Quốc thực chất muốn Việt Nam không làm gì cả, kể cả khi chính quyền Sài Gòn đưa quân lấn chiếm vùng giải phóng. Đứng trước những hành động của quân nguỵ Sài Gòn lấn chiếm vùng giải phóng ngày càng tăng cường, tháng 10 năm 1973, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang miền nam Việt Nam buộc phải ra lệnh kiên quyết đánh trả. Gần một tháng sau đó, trong chuyến Kítxinhgiơ đi thăm Bắc Kinh, hai bên ra thông cáo thoả thuận là trong tình hình “đặc biệt nghiêm trọng hiện nay”, hai bên cần tiến hành liên hệ thường xuyên ở các cấp có thẩm quyền để trao đổi ý kiến về những vấn đề cùng quan tâm. Thực tế đó là sự phối hợp giữa những người cầm quyền Trung Quốc và Mỹ nhằm ngăn cản cuộc đấu tranh của các lực lượng vũ trang miền nam Việt Nam. Những người cầm quyền Bắc Kinh còn khuyên Mỹ “đừng thua ở Việt Nam, đừng rút lui khỏi Đông nam châu Á”. Thâm độc hơn nữa, họ tìm cách lôi kéo nhiều tướng tá và quan chức nguỵ quyền Sài Gòn hợp tác với họ, thậm chí cho người thuyết phục tướng Dương Văn Minh, “tổng thống” vào những ngày cuối của chế độ Sài Gòn để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và đan miền nam Việt Nam.
2 -Xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam, gây căng thẳng ở biên giới
Từ năm 1973, những người cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở những tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam, nhằm làm yếu những cố gắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu trang giải phóng hoàn toàn miền nam. Đồng thời họ ngăn cản Việt Nam thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế. Ngày 26 tháng 12 năm 1973, phía Việt Nam đề nghị mở cuộc đàm phán để xác định chính thức đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, nhằm sử dụng phần biển thuộc Việt Nam phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 18 tháng 1 năm 1974 phía Trung Quốc trả lời chấp thuận đề nghị trên, nhưng họ đòi không được tiến hành việc thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 trong vịnh Bắc Bộ do họ tự ý định ra. Họ còn đòi “không để một nước thứ ba vào thăm dò vịnh Bắc Bộ”, vì việc đưa nước thứ ba vào thăm dò “không có lợi cho sự phát triển kinh tế chung của hai nước và an ninh quân sự của hai nước”. Đó chỉ là một lý do để che đậy ý đồ đen tối của họ. Cũng vì vậy cuộc đàm phán về đường biên giói giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974 đã không đi đến kết quả tích cực nào. Cũng với thái độ trịch thượng nước lớn như vậy, họ làm bế tắc cuộc đàm phán về vấn đề biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc Bộ bắt đầu từ tháng 10 năm 1977 nhằm mục đích tiếp tục xâm phạm biên giới, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam để duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Trung. Hơn nữa, ngày 19 tháng 1 năm 1974, tức là một ngày sau khi phía Trung Quốc nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn đề vịnh Bắc Bộ, họ sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến đánh quân nguỵ Sài Gòn và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận lãnh thổ Việt Nam. Họ nói là để tự vệ, nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm biển Đông. Hành động xâm lược của họ có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ. Vì vậy, khi đó đại sứ Mỹ G. Matin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu viện của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được lệnh tránh xa quần đảo Hoàng Sa. Trong cuộc hội đàm với những người lãnh đạo Việt Nam năm 1975, phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng hai bên đều nói các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình, cho nên cần gặp gỡ để bàn bạc giải quyết. Điều đó càng chứng tỏ hành động của phía Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa là ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, gây ra một tình trạng việc đã rồi.
3- Biến Campuchia thành bàn đạp chuẩn bị tiến công Việt Nam
Sau Hiệp định Pari về Việt Nam, theo lệnh của Bắc Kinh, bè lũ Pôn Pốt-Iêng Xary thi hành một chính sách hai mặt đối với Việt Nam: vừa dựa vào Việt Nam vừa chống Việt Nam. Chúng tỏ ra “hữu nghị” và “đoàn kết” với Việt Nam để tranh thủ sự giúp đỡ của Việt Nam, đặc biệt là khi chuẩn bị tấn công vào thủ đô Phnôm Pênh. Trong khuôn khổ sự thoả hiệp Trung Mỹ, những người cầm quyền Trung Quốc thực hiện sự thoả thuận không viện trợ quân sự cho cách mạng ba nước Đông Dương. Họ đã từ chối đề nghị của bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary về tăng viện vũ khí tiến công bằng cách nhờ Việt Nam cho Pôn Pốt Iêng Xary vay rồi Trung Quốc sẽ thanh toán sau. Đây là một thủ đoạn của Bắc Kinh vừa lấy lòng bọn tay sai ở Campuchia, tránh va chạm với Mỹ, vừa gây thêm khó khăn cho Việt Nam trong lúc Việt Nam đang tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Mặt khác, bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary tìm mọi cách chống Việt Nam. Chúng vu cáo Việt Nam ký kết Hiệp định Pari là “phản bội Campuchia một lần nữa” để kích động hận thù dân tộc, gây tâm lý chống Việt Nam và kiếm cớ thanh trừng những người Campuchia không tán thành đường lối của chúng. Nhiều lần chúng tổ chức những vụ đánh phá, cướp bóc kho tàng, vũ khí, tiến công bệnh viện và nơi trú quân của Quân giải phóng miền nam Việt Nam đặt trên đất Campuchia. Bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary, bằng những thủ đoạn rất thâm độc, kể cả việc thủ tiêu bí mật những cán bộ cách mạng chân chính, ra sức củng cố vị trí trong Đảng, nắm toàn bộ quyền lực để biến Đảng cộng sản Campuchia thành một đảng phụ thuộc Bắc Kinh. Rõ ràng những người lãnh đạo Trung Quốc đã tiến thêm một bước trong âm mưu nắm trọn Campuchia dưới chế độ của bọn Pôn Pốt Iêng Xary, chuẩn bị bàn đạp tiến công Việt Nam từ phía tây nam sau khi miền nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Mặc dù những người lãnh đạo Trung Quốc ra sức cản trở nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền nam Việt Nam, nhân dân Việt Nam vẫn kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao chống Mỹ Thiệu phá hoại Hiệp định Pari, tiến lên giành toàn thắng. Với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, nhân dân Việt Nam đã đánh sụp hoàn toàn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, giải phóng hoàn toàn miền nam Việt Nam, thống nhất nước nhà.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đây, những người cầm quyền Bắc Kinh chỉ can thiệp vào giai đoạn chót nhằm áp đặt giải pháp của họ đối với nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào và nhân dân Campuchia. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lần này của nhân dân Việt Nam, họ can thiệp ngay từ đầu, tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh trên cả nước Việt Nam, ném bom cực kỳ man rợ miền bắc, lấy vấn đề Việt Nam để buôn bán với Mỹ, nhưng luôn luôn làm ra vẻ “triệt để cách mạng”, “tích cực” ủng hộ Việt Nam. Đây là sự phản bội thứ hai của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.
 VHN st
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Trung Quốc Bắt Tay Với Mỹ- Đàm Phán Trên Lưng Nhân Dân Việt Nam

Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html
Nếu trước đây những người lãnh đạo Trung Quốc ngấm ngầm làm yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thì trong thời kỳ 1969-1973, nhất là từ năm 1971, họ công khai câu kết với đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nguy cho chúng trước cuộc tiến công chiến lược mới của nhân dân Việt Nam, lấy con bài Việt Nam để buôn bán với Mỹ.
Năm 1969, cuộc “đại cách mạng văn hoá” ở Trung Quốc về cơ bản hoàn thành. Những người cầm quyền Bắc Kinh bên trong thì ra sức củng cố quyền lãnh đạo của chủ tịch Mao Trạch Đông, ổn định tình hình, đẩy mạnh sản xuất, bên ngoài thì thi hành mọi biện pháp để đẩy nhanh quá trình nhích lại gần đế quốc Mỹ nhằm ngoi lên địa vị một cường quốc lớn, bình thường hoá quan hệ Trung Mỹ và giải quyết vấn đề Đài Loan. Họ mưu toan dùng con bài Việt Nam để đạt mục tiêu đối ngoại đó. Năm 1969 là năm đầu của Níchxơn vào Nhà Trắng. Ông ta đưa ra cái gọi là “học thuyết Nichxơn” nhằm cứu vãn và khôi phục địa vị của đế quốc Mỹ trên thế giới đã bị suy yếu nghiêm trọng do hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu thực hiện chiến lược “Việt Nam   hoá” chiến tranh nhằm rút được quân Mỹ ra khỏi miền nam Việt Nam mà vẫn giữ được chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu. Thời kỳ 1969-1973 là thời kỳ nhân dân Việt Nam đẩy mạnh tiến công trên chiến trường cũng như tại Hội nghị bốn bên ở Pari, ngày càng giành thêm nhiều thắng lợi. Đây cũng là thời kỳ Bắc Kinh và Oasinhtơn tăng cường tiếp xúc, bắt tay công khai với nhau, bàn bạc không những các vấn đề tay đôi mà cả các vấn đề thuộc về chủ quyền của nhân dân Việt Nam và của nhân dân các nước ở Đông Dương.
1- Công khai phản bội nhân dân Việt nam
Từ tháng 11 năm 1968, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra tuyên bố tỏ ý muốn nối lại các cuộc đàm phán Trung Mỹ ở Vácsava và cùng với Mỹ ký một thoả thuận cùng tồn tại hoà bình. Tiếp đó phía Trung Quốc đã tích cực đáp ứng những tín hiệu của phía Mỹ. Sau khi lên làm tổng thống, Níchxơn báo cho phía Trung Quốc là các cuộc thảo luận giữa Mỹ và Trung Quốc có thể tiến hành ở Trung Quốc. Phía Trung Quốc đã trả lời là “ bản thân Níchxơn có thể đến Bắc Kinh hoặc cử một phái viên đến để thảo luận về vấn đề Đài Loan” Tháng 6 năm 1970, Trung Quốc và Mỹ thoả thuận là đại sứ Trung Quốc Hoàng Chấn và Kitxinhgiơ sẽ tiến hành những cuộc đàm phán bí mật mỗi lần Kítxinhgiơ đến Pari đàm phán với phía Việt Nam” Ngày 10 tháng 12 năm 1970, qua người bạn thân tín Étga Xnâu, chủ tịch Mao Trạch Đông đưa ra lời mời Tổng thống Níchxơn sang thăm Trung Quốc. : “Ông ta chắc chắn sẽ được hoan nghênh vì hiện nay những vấn đề giữa Trung Quốc và Mỹ phải được giải quyết với Níchxơn” Đây là bước ngoặt của Bắc Kinh có ý nghĩa quyết định trong quan hệ Trung Mỹ, đồng thời là bước ngoặt công khai phản bội cách mạng Việt Nam và cách mạng Đông Dương, phản bội cách mạng thế  giới. Bắc Kinh tăng cường các cuộc tiếp xúc công khai với Mỹ: Tháng 3 năm 1971, Trung Quốc mời một đoàn bóng bàn Mỹ sang thăm Trung Quốc, mở đầu cái mà dư luận thế giới gọi là “ngoại giao bóng bàn”. Tháng 7 năm 1971 và tháng 10 năm 1971 Kitxinhgiơ, đặc phái viên của Níchxơn sang Bắc Kinh. Tháng 2 năm 1972, Níchxơn sang thăm Trung Quốc. Thông báo cho phía Việt Nam biết cuộc đi thăm Bắc Kinh lần thứ nhất của Kítxinhgiơ, ngày 13 tháng 7 năm 1971 Đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc đã nói: “ Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kítxinhgiơ. Kítxinhgiơ nói rằng Mỹ gắn việc giải quyết vấn đề Đông Dương với việc giải quyết vấn đề Đài Loan. Mỹ nói có rút được quân Mỹ ở Đông Dương thì mới rút quân Mỹ ở Đài Loan. Đối với Trung Quốc, vấn đề rút quân Mỹ khỏi miền nam Việt Nam là vấn đề số 1. Còn vấn đề Trung Quốc vào Liên hợp quốc là vấn đề số 2” Khi Níchxơn kết thúc cuộc đi thăm Trung Quốc, hai bên đã ký Thông cáo Thượng Hải ghi nhận kết quả hội đàm giữa hai bên, trong đó có một đoạn như sau: “Mỹ khẳng định mục tiêu cuối cùng là rút hết các lực lượng và cơ sở quân sự ra khỏi Đài Loan. Trong khi chờ đợi, tuỳ theo tình hình căng thẳng trong khu vực này giảm đi, Mỹ sẽ dần dần giảm lực lượng và cơ sở quân sự của Mỹ ở Đài Loan” Đầu tháng 3 năm 1972, khi thông báo cho phía Việt Nam về cuộc hội đàm vơi Níchxơn, đại diện những người lãnh đạo Trung Quốc đã giải thích về đoạn thông cáo trên như sau: “Muốn bình thường hoá quan hệ Trung Mỹ, muốn làm dịu tình hình ở Viễn Đông thì trước hết phải giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Chúng tôi không đòi giải quyết vấn đề Đài Loan trước. Vấn đề Đài Loan là bước sau” Thâm tâm của Bắc Kinh là lợi dụng vấn đề Việt Nam để  giải quyết trước vấn đề Đài Loan. Nhưng Việt Nam kiên quyết giữ vững đường lối độc lập tự chủ của mình. Do đó những người lãnh đạo Trung Quốc và Tổng thống Nichxơn mới thoả thuận: “Trong khi chờ đợi, tuỳ theo tình hình căng thẳng trong khu vực này giảm đi…” Điều đó có nghĩa là nếu Bắc Kinh muốn thúc đẩy việc rút lực lượng và các cơ sở quân sự của Mỹ ra khỏi Đài Loan thì họ cần ép Hà Nội đi vào một giải pháp thoả hiệp với Mỹ. Phía Trung Quốc dùng “củ cà rốt” viện trợ: nếu năm 1968 vì phản đối Việt Nam đàm phán với Mỹ họ đã giảm kim ngạch viện trợ cho Việt Nam thì năm 1971 và năm 1972, để lôi kéo Việt Nam đi vào chiều hướng của Bắc Kinh thoả hiệp với Mỹ, họ đã dành cho Việt Nam viện trợ cao nhất của họ so với những năm trước đó. Đây cũng là thủ đoạn nhằm che đậy sự phản bội của họ nhằm xoa dịu sự công phẩn của nhân dân Việt Nam. Đi đôi với tăng thêm viện trợ là sự thúc ép liên tục để Việt Nam chấp nhận giải pháp của Mỹ. Ngày 18 tháng 7 năm 1971, phía Trung Quốc thông báo cho phía Việt Nam phương án bốn điểm của Mỹ: rút quân và thả tù binh Mỹ trong 12 tháng kể từ ngày 1 tháng 8 năm 1971, ngừng bắn toàn Đông Dương và giải pháp theo kiểu Giơnevơ năm 1954. Về rút quân, “vì thể diện” Mỹ muốn để lại một số cố vấn kỹ thuật; về chính trị “Mỹ không muốn bỏ Nguyễn Văn Thiệu cũng như không muốn bỏ Xirích Matắc” Trong cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 11 năm 1971 họ nói: “Việt Nam nên tranh thủ thời cơ giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vấn đề tù binh Mỹ, việc đánh đổ nguỵ quyền Sài Gòn là lâu dài” Cũng trong dịp này, sau khi nhắc lại ý của phía Mỹ là “Mỹ có nhiều bạn cũ, Mỹ phải giữ” chủ tiach Mao Trạch Đông nói: “Vấn đề Đài Loan là vấn đề trường kỳ. Có lẽ mấy năm không giải quyết xong. Nếu xét nhanh hay chậm thì tôi thiên về chậm hơn. Hiện nay Tưởng có 65 vạn quân, ở giữa lại có eo biển. Chúng tôi không sang được, nó vẫn cứ đóng ở đó, chổi không đến nơi thì bụi không đi” Sau khi Níchxơn kết thúc chuyến đi thăm Trung Quốc, Kítxinhgiơ nói với các nhà báo ngày 1 tháng 3 năm 1972 rằng từ nay Níchxơn và bản thân y “chỉ còn việc nhìn về Mátxcơva và nghiền nát Việt Nam” Từ tháng 4 năm 1972, Mỹ ném bom lại và thả mìn phong toả các cảng miền bắc Việt Nam và đánh phá ác liệt miền nam Việt Nam nhằm đối phó với cuộc tiến công chiến lược mùa xuân năm 1972 của nhân dân Việt Nam, cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Bước phiêu lưu quân sự này chính là hậu quả rõ ràng của sự đồng loã giữa những người cầm quyền Trung Quốc và Níchxơn. Việc Hiệp định Pari không được ký tắt vào cuối tháng 10 năm 1972, ai cũng rõ đó là do sự lật lọng của Níchxơn- Kítxinhgiơ. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại đứng trên quan điểm của Mỹ để gây sức ép với Việt Nam. Ngày 1 tháng 11 năm 1972, họ yêu cầu Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam dân chủ cộng hoà báo   cáo với lãnh đạo Việt Nam: Việt Nam nên nhân nhượng về hai vấn đề rút quân miền bắc và miền bắc Việt Nam không nhận viện trợ quân sự để có thể ký kết được hiệp định. Và ngày 5 tháng 12 năm 1972, đại sứ Trung Quốc Hoàng Chấn chuyển tới phía Việt Nam lời đe doạ của Kitxinhgiơ: “Đàm phán đã đến lúc có hậu quả nghiêm trọng: Bắc Việt Nam đòi Mỹ hoặc trở lại hiệp định cũ, hoặc nhận một hiệp định xấu hơn: Mỹ không thể chấp nhận cả hai điều kiện đó. Nếu Việt Nam cứ giữ lập trường đó thì đàm phán đứt quãng và Mỹ sẽ có mọi hành động bảo vệ nguyên tắc của mình” Đó chính là giọng lưỡi chuẩn bị cho cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 những ngày cuối năm 1972 nhằm huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, buộc nhân dân Việt Nam chấp nhận giải pháp do đế quốc Mỹ áp đặt. Trước sự câu kết của Bắc Kinh với Oasinhtơn phản bội nhân dân Việt Nam , nhân dân Việt Nam vẫn kiên cường đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ và tin tưởng vào thắng lợi của mình. Khi phía Trung Quốc thông báo với phía Việt Nam rằng trong chuyến thăm Trung Quốc, Níchxơn cũng sẽ cùng những người lãnh đạo Trung Quốc bàn về vấn đề Việt Nam, những người lãnh đạo Việt Nam đã thẳng thắn nói: “Việt Nam là của chúng tôi; các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam . Các đồng chí đã nhận sai lầm năm 1954 rồi, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa” Khi phía Trung Quốc thông báo chuyến đi thăm Trung Quốc của Níchxơn, những người lãnh đạo Việt Nam nói: “Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, nhân dân Việt Nam phải thắng. Tới đây, đế quốc Mỹ có thể đánh phá trở lại miền bắc ác liệt hơn nữa, nhưng nhân dân Việt Nam không sợ, nhân dân Việt Nam nhất định thắng” Bất chấp mọi sức ép của Bắc Kinh và Oasinhtơn, nhân dân Việt Nam không những không nhân nhượng về những vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn trừng trị đích đáng đế quốc Mỹ về những tội ác của chúng và cuối cùng buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam ngày 27 tháng 1 năm 1973.
2 -Nắm trọn vấn đề Campuchia
Trong khuôn khổ đường lối hoà hoãn và câu kết với đế quốc Mỹ , dọn con đường bành trướng xuống Đông nam châu Á sau này, đồng thời phá hoại Mặt trận đoàn kết nhân dân các nước ở Đông Dương, gây thêm sức ép đối với Việt Nam, từ năm 1970 Bắc Kinh tìm cách nắm các lực lượng Campuchia, thi hành một chính sách rất phức tạp đối với Campuchia, nhưng trước sau chỉ nhằm một mục tiêu: lợi ích ích kỷ của họ. Dư luận còn nhớ bọn đế quốc và phản động đã gây ra cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970, lật đổ chính phủ của ông hoàng Nôrôđôm Xihanúc, đưa lon Non lên cầm quyền. Lon Non vốn là người Campuchia gốc Hoa, lại là người của Mỹ, cho nên những người lãnh đạo Trung Quốc muốn dùng y và bỏ rơi ông Xihanúc. Tại Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Trung quốc nói với đại sứ Việt Nam: “ Xihanúc không có lực lượng. Việt Nam cần ủng hộ Lon Non; Trung Quốc đón Xihanúc nhưng vẫn quan hệ tốt với đại sứ quán của PhnômPênh “ Tại PhnômPênh, đại sứ Trung Quốc cũng nói những điều tương tự với đại sứ Việt Nam. Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn nói với đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh là Trung Quốc không đồng ý để sinh viên Việt Nam ở Trung Quốc biểu tình chống Lon Non. Ngay sau khi nổ ra cuộc đảo chính ở PhnômPênh và ông Xihanúc tới Bắc Kinh, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã sang Trung Quốc thuyết phục những người lãnh đạo Trung Quốc nên ủng hộ ông Xihanúc, đồng thời trực tiếp biểu thị với ông Xihanúc sự ủng hộ mạnh mẽ của Việt Nam  đối với ông ta và lực lượng kháng chiến Khơme. Ngày 23 tháng 3 năm 1970, ông Xihanúc công bố bản tuyên cáo 5 điểm lên án cuộc đảo chính của Lon Non và kêu gọi nhân dân Campuchia đoàn kết chống đế quốc Mỹ và bè lũ Lon Non. Ngày 25 tháng 3 năm 1970, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố hoàn toàn ủng hộ bản Tuyên cáo đó. Ngày 7 tháng 4 năm 1970, Chính phủ Trung Quốc mới ra tuyên bố ủng hộ Tuyên cáo của ông Xihanúc. Tuy vậy, họ tiếp tục có những cuộc tiếp xúc bí mật với chính quyền Lon Non. Trong khi đó, với sự giúp đỡ của các lực lượng vũ trang Việt Nam, lực lượng kháng chiến Khơme giành thêm nhiều chiến thắng mới, giải phóng một phần tư đất nước. Chỉ sau khi Níchxơn đưa quân Mỹ xâm lược Campuchia, gây nên một làn sóng phản  đối mạnh mẽ trên thế giới và ngay cả ở Mỹ, Chính phủ Trung Quốc mới cắt đứt quan hệ với chính quyền Lon Non ngày 5 tháng 5 năm 1970. Rõ ràng là do Việt Nam kiên quyết ủng hộ Chính phủ kháng chiến Campuchia và do tình hình thực tế trên chiến trường phát triển có lợi cho các lực lượng kháng chiến, những người cầm quyền Bắc Kinh mới chuyển sang ủng hộ ông Xihanúc, Chủ tịch Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia chống Mỹ xâm lược. Từ đó họ tìm cách nắm chặt ông Xihanúc làm con bài độc quyền của họ để chuẩn bị cho những cuộc mặc cả với Mỹ. Tuy ủng hộ ông Xihanúc và Chính phủ kháng chiến Campuchia, họ vẫn ngấm ngầm duy trì những quan hệ bí mật với bè lũ Lon Non-Xirích Matắc, mặt khác tích cực dùng bọn Pôn Pốt-IêngXary, dần dần biến  Đảng Khơme thành một đảng phụ thuộc vào Đảng cộng sản Trung Quốc như kiểu các đảng, các nhóm theo Mao ở Đông nam châu Á và ở một số nước khác trên thế giới. Những người lãnh đạo Trung Quốc đã lợi dụng Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương lần thứ nhất tháng 4 năm 1970 và cố tình làm cho dư luận thấy rằng họ đã “đóng góp” nhiều vào hội nghị đó. Họ muốn chứng tỏ cho Mỹ hiểu rằng họ có thể giúp Mỹ tìm một giải pháp cho cả vấn đề Đông Dương và chính họ là người “thay mặt” cho Việt Nam và các nước khác ở Đông Dương để đàm phán với Mỹ. Trong bối cảnh nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia liên tiếp giáng những đòn mạnh mẽ vào các kế hoạch phiêu lưu quân sự của Níchxơn, ông Xihanúc đề nghị  triệu tập Hội nghị cấp cao lần thứ hai của nhân dân các nước Đông Dương vào cuối năm 1971, nhằm phát huy thắng lợi, đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân các nước ở Đông Dương. Bề ngoài những người lãnh đạo Trung Quốc tán thành đề nghị đó, nhưng bên trong họ giật dây bọn Pôn Pốt-Iêng Xary phản đối. Mặt khác, nhân chuyến đi thăm Việt Nam tháng 3 năm 1971, họ gợi ý triệu tập hội nghị 5 nước 6 bên (hai miền Nam, Bắc Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên) trên đất Trung Quốc nhằm mục tiêu chống Nhật. Ý đồ của họ là phá hoại khối đoàn kết, lái chệch mục tiêu đấu tranh của nhân dân các nước ở Đông Dương, đồng thời tập hợp lực lượng dưới sự chỉ đạo của  Bắc Kinh để  họ có thêm thế đi vào đàm phán với Mỹ. Phía Việt Nam ủng hộ đề nghị của ông Xihanúc, không tán thành họp hội nghị 5 nước 6 bên như Trung Quốc gợi ý, cũng không tán thành quan điểm cho rằng nguy cơ bấy giờ là Nhật vì kẻ thù chính của nhân dân ba nước Đông Dương vẫn là đế quốc Mỹ xâm lược. Do đó, kế hoạch hội nghị 5 nước 6 bên của Bắc Kinh đã hoàn toàn thất bại. Trong lúc tìm cách nắm trọn vấn đề Campuchia, những người lãnh đạo Trung Quốc còn mưu toan nắm con đường vận chuyển quân sự qua ba nước Đông Dương. Trong mấy năm liền cho đến năm 1972, họ đề nghị giúp làm đường và vận chuyển hàng phục vụ chiến trường từ miền bắc đến miền nam Việt Nam, Lào và Campuchia trên con đường mòn Hồ Chí Minh và hứa cung cấp cho Việt Nam  đủ xe, người lái và khoảng 20 vạn quân nhân Trung Quốc để bảo đảm công việc này. Ý đồ của họ là qua đó nắm toàn bộ vấn đề Đông Dương để buôn bán với Mỹ và chuẩn bị bàn đạp đi xuống Đông nam châu Á. Tất nhiên phía Việt Nam không chấp nhận đề nghị đó.
Nếu trước đây những người lãnh đạo Trung Quốc ngấm ngầm làm yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thì trong thời kỳ 1969-1973, nhất là từ năm 1971, họ công khai câu kết với đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nguy cho chúng trước cuộc tiến công chiến lược mới của nhân dân Việt Nam, lấy con bài Việt Nam để buôn bán với Mỹ. Nếu trước đây họ ngấm ngầm chia rẽ nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nhằm cô lập Việt Nam thì trong thời kỳ này họ bắt đầu dùng bè lũ  Pôn Pốt-Iêng Xary để phá hoại cách mạng ba nước Đông Dương, tích cực chuẩn bị biến Campuchia thành bàn đạp để tiến công Việt Nam, khống chế bán đảo Đông Dương, từ đó bành trướng xuống Đông nam châu Á sau này. Họ đã phơi trần bộ mặt ghê tởm của kẻ phản bội: phản bội nhân dân Việt Nam cũng như phản bội nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.
VHNst
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Trung Quốc Đã Ngăn Cản Nhân Dân Việt Nam Đấu Tranh Thống Nhất Đất Nước

Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html

 Hưởng ứng lời kêu gọi bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên chống Mỹ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế  tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng xâm lược Mỹ.
Bất chấp Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, đế quốc Mỹ nhảy vào miền nam Việt Nam, nhằm tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thôn tính miền nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền nam Việt Nam thành thộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông nam châu Á, đồng thời lấy miền nam làm căn cứ để tiến công miền bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông nam châu Á, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở khu vực này, hòng bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác. Thất bại trong việc dùng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và tiến hành “chiến tranh đặc biệt” ở miền nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã lao vào cuộc phiêu liêu quân sự chống nhân dân Việt Nam, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hưởng ứng lời kêu gọi bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên chống Mỹ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế  tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng xâm lược Mỹ. Trong chiến tranh, nhân dân Việt Nanm luôn luôn thực hành chiến lược tiến công, đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời biết kéo địch xuống thang, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Quá trình hơn 20 năm nhân dân Việt Nam chống chính sách can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ cũng là quá trình đấu tranh bền bỉ, hết sức phức tạp chống những âm mưu và hành động khi kín đáo, lúc trắng trợn của những người cầm quyền Trung Quốc thoả hiệp và câu kết với đế quốc Mỹ nhằm kiềm chế và làm suy yếu cách mạng Việt Nam, hòng khuất phục Việt Nam, từng bước bành trướng ở Đông Dương và Đông nam Châu Á.
NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC NGĂN CẢN NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐẤU TRANH ĐỂ THỰC HIỆN THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ.
Sau khi cùng với đế quốc thoả hiệp trong giải pháp Giơnevơ năm 1954, tạo được khu đệm an toàn ở phía nam, những người lãnh đạo Trung Quốc yên tâm thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), và từ năm 1958 đề ra kế hoạch “đại nhảy vọt”  với tham vọng đuổi kịp và vượt một số cường quốc về kinh tế trong một thời gian ngắn và ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân. Về đối ngoại họ đi vào con đường hoà hoãn với đế quốc Mỹ, tiến hành những cuộc nói chuyện với Mỹ ở Giơnevơ từ tháng 8 năm 1955; đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, nhất là ở Đông nam châu Á và Nam Á. Xuất phát từ đường lối đối nội, đối ngoại đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã hành động ngược lại lợi ích của nhân dân Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.
1- Gây sức ép để Việt Nam chấp nhận chủ trương “trường kỳ mai phục”
Đế quốc Mỹ và tay sai trắng trợn phá hoại việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam trong thời hạn hai năm như Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đã quy định, đồng thời đàn áp cực kỳ tàn bạo phong trào yêu nước ở miền nam Việt Nam. Những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn “thuyết phục” Việt Nam rằng công cuộc thống nhất là “một cuộc đấu tranh trường kỳ” và không thể  thực hiện được bằng lực lượng vũ trang. Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam: “Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm” Diễn biến thực tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã chứng tỏ cuộc kháng chiến đó có lâu dài, nhưng không phải lâu dài vô hạn độ như chủ tịch Mao Trạch Đông nói. Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình doạ: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền bắc”. Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói: “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.” Đó là một điều trái hẳn với Hiệp nghị Giơnevơ, vì theo Hiệp nghị này, vĩ tuyến 17 không phải là biên giới giữa hai quốc gia mà chỉ là giưói tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Việt Nam. Những người lãnh đạo Bắc Kinh nhiều lần nhấn mạnh rằng ở miền nam Việt nam “chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ mai phục, tích trữ lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ”. Thực chất phương châm đó là gì? Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người lãnh đạo Việt Nam, uỷ viên trung ương của Đảng cộng sản Trung Quốc, thứ trưởng Bộ ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở miền nam Việt Nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt Nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân. Như vậy, “trường kỳ mai phục” có nghĩa là nhân dân Việt Nam thủ tiêu đấu tranh cách mạng, để mặc cho Mỹ Diệm thả sức đàn áp nhân dân Việt Nam. “Giữ vĩ tuyến 17”, “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lực lượng”, “chờ đợi thời cơ”… đó chẳng qua là luận điệu quanh co nhằm che dấu ý đồ của Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng chính trị ở Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và nguỵ quyền Sài Gòn song song tồn tại. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, khi ăn cơm với Ngô Đình Luyện, em ruột của Ngô Đình Diệm tại Giơnevơ, thủ tướng Chu Ân Lai đã gợi ý đặt một công sứ quán của Sài Gòn tại Bắc Kinh. Dù Ngô Đình Diệm đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ sau khi Hiệp đinghj Giơnevơ được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1959, với chính sách đàn áp phát xít, Mỹ Diệm đã giết hại hàng vạn người Việt Nam yêu nước, lùa hàng vạn nhân dân vào các trại tập trung trá hình, gây cho nhân dân Việt Nam những tổn thất to lớn so với bất kỳ thời gian nào khác trong cuộc chiến tranh cứu nước của mình. Nếu cứ để chúng tiếp tục giết hại những người Việt Nam yêu nước thì làm sao “tích trữ” được lực lượng, còn nhân dân đâu để : ” liên hệ quần chúng” và chờ đợi đến thời cơ nào? Theo cái đà đó thì nước Việt Nam sẽ mất độc lập và vĩnh viễn bị chia cắt. Vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng miền nam là tiếp tục đấu tranh chính trị hay kết hợp cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang? Nhân dân Việt Nam kiên quyết đi theo đường lối độc lập, tự chủ của mình. Cuối năm 1959 đầu năm 1960, nhân dân trong những vùng rộng lớn thuộc đồng bằng Nam Bộ và miền nam Trung Bộ đã nhất tề “đồng khởi” kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, làm rung chuyển tận gốc chế độ tay sai Ngô Đình Diệm.
2- Ngăn cản nhân dân Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh vũ trang ở miền nam.
Các cuộc đồng khởi, thực chất là những cuộc khởi nghĩa thừng phần đã nhanh chóng phát triển thành một cuộc chiến tranh cách mạng, vừa đấu tranh quân sự vừa đấu tranh chính trị chống lại “ chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc đã không đồng tình với chủ trương đó của Việt Nam. Tháng 5 năm 1960, hội đàm với phía Việt Nam, họ nói về miền nam Việt Nam như  sau: “ Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự là chính…Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không phải là cướp chính quyền ngay, mà cuộc đấu tranh vẫn là trường kỳ. ..Dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được, vì đế quốc mỹ không chịu để như vậy đâu… Miền bắc có thể ủng hộ về chính trị cho miền nam, giúp miền nam đề ra các chính sách nhưng chủ yếu là bồi dưỡng tinh thần tự lực cánh sinh cho anh em miền nam…Khi ăn chắc, miền bắc có thể giúp quân sự cho miền nam, nghĩa là khi hoàn toàn chắc chắn không xảy ra chuyện gì, có thể cung cấp một số vũ trang mà không cho ai biết. Nhưng nói chung là không giúp.” Như vậy, khi không cản được nhân dân miền Nam Việt Nam “đồng khởi” thì họ cho rằng hình thức chiến đấu ở miền nam là đánh du kích, đánh nhỏ từng  đơn vị trung đội, đại đội. Làm chủ vận mệnh của mình, nhân dân Việt Nam đã đưa cuộc chiến tranh cách mạng ở miền nam tiến lên vững mạnh. Cuối năm 1963, chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm sụp đổ, “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ phá sản hoàn toàn.   3- Lôi kéo Việt Nam chống Liên Xô
Đầu những năm  1960, trong khi ngăn cản nhân dân Việt Nam đẩy mạnh chiến đấu chống Mỹ, những người lãnh đạo Bắc Kinh giơ cao cùng một lúc hai chiêu bài chống đế quốc Mỹ và chống Liên Xô, nhưng trên thực tế họ tiếp tục hoà hoãn với đế quốc Mỹ ở châu Á, đánh lạc hướng cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân thế giới để thực hiện mưu đồ chống Liên Xô, xoá bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa, nắm quyền “lãnh đạo cách mạng thế giới”, chuẩn bị tích cực cho việc hoà hoãn và câu kết với đế quốc Mỹ. Trong những cuộc hội đàm với phía Việt Nam năm 1963, họ tìm cách thuyết phục Việt Nam chấp nhận quan điểm của họ là phủ nhận hệ thống xã hội chủ nghĩa và mở cho họ “một con đường” xuống Đông nam châu Á. Cũng trong năm 1963, những người lãnh đạo Trung Quốc đưa ra cái gọi là Cương lĩnh 25 điểm về đường lối chung của phong trào cộng sản quốc tế và đề nghị triệu tập cái gọi là hội nghị 11 đảng cộng sản, thực tế là để nắm vai trò “lãnh đạo cách mạng thế giới” và lập một “Quốc tế cộng sản” mới do Bắc Kinh khống chế. Họ thiết tha yêu cầu Việt Nam đồng tình là cốt lợi dụng uy tín và vai trò của Việt Nam trong phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhằm mục đích này, họ còn hứa hẹn viện trợ ồ ạt để lôi kéo Việt Nam. Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thông báo với lãnh đạo Viẹt Nam ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc sẽ viên trợ 1 ti nhân dân tệ nếu Việt Nam khước từ mọi viện trợ của Liên Xô. Phía Việt Nam đã khẳng định thái độ kiên quyết bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa, không tán thành việc họp hội nghị 11 đảng và không để những người lãnh đạo Bắc Kinh dùng đất nước Việt Nam làm bàn đạp cho mưu đồ bành trướng của họ. Do tahí độ kiên quyết của phía Việt Nam, Cương lĩnh 25 điểm không gây được tiếng vang, âm mưu lập “Quốc tế cộng sản” mới cũng không thành. Trong thời kỳ này, đối với cách mạng Lào, những người cầm quyền Trung Quốc cũng thi hành một chính sách giống như đối với Việt Nam. Họ cũng gây sức ép để lực lượng cách mạng Lào “ trường kỳ mai phục”. Khi Mỹ và tay sai lật đổ Chính phủ Lào liên hiệp, tiến hành “chiến tranh đặc biệt”, họ ngăn cản cách mạng Lào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và mưu toan ép Đảng Nhân dân cách mạng Lào “sớm lập lại Chính phủ liên hiệp”, sợ rằng đốm lửa Sầm Nưa, Phongsalỳ có thể lan ra cả Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Trong một cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 8 năm 1961, khi đề cập đến vấn đề Lào, phía Trung Quốc nói: “Cần hết sức tránh việc trực tiếp tham gia chiến tranh. Nếu Mỹ trực tiếp vào Lào thì miền bắc Việt Nam, Vân Nam, Quảng Tây sẽ xảy ra vấn đề gì? Cần tính đến việc phiêu ău của Mỹ”. Đối với việc giải quyết vấn đề Lào tại Giơnevơ năm 1961-1962, họ còn chủ trương chia nước Lào theo chiều ngang thành hai vùng: vùng giải phóng ở phía bắc, vùng do nguỵ quyền Viêng Chăn kiểm soát ở phía nam. Đó là một âm mưu thâm độc nhằm buộc lực lượng cách mạng Lào phải lệ thuộc vào Trung Quốc và cô lập cách mạng miền nam Việt Nam. Nhưng những nhà lãnh đạo cách mạng Lào kiên quyết giữ vững đường lối riêng của mình, lực lượng kháng chiến Lào ngày càng giành nhiều thắng lợi buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1962 công nhận nền trung lập của Lào và nhận có đại biểu của Mặt trận Lào yêu nước trong Chính phủ liên hiệp thứ hai ở  Lào.II -THỜI KỲ 1965-1969:
LÀM YẾU VÀ KÉO DÀI CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM
Trong thời kỳ này ở Trung Quốc diễn ra cái gọi là cuộc “đại cách mạng văn hoá ”, thực chất là một cuộc đấu tranh nội bộ điên cuồng và đẫm máu làm đảo lộn toàn bộ xã hội Trung Quốc, nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác Lênin, phá vỡ Đảng cộng sản Trung Quốc và cơ cấu nhà nước, khôi phục vị trí độc quyền lãnh đạo của chủ tịch Mao Trạch Đông và đường lối Mao Trạch Đông ở trong nước, chống Liên Xô, phá hoại cách mạng thế giới, câu kết với đế quốc Mỹ ở ngoài nước, đẩy mạnh việc thực hiện chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn. Những người lãnh đạo Trung Quốc, vì lợi ích chiến lược của họ trong thời kỳ này, đã dấn sâu vào con đường phản bội nhân dân Việt Nam . 1- Bật đèn xanh cho Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam
Sau cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã rút ra bài học là không nên tiến hành một cuộc chiến tranh trên lục địa châu Á, nhất là ở những nước láng giềng của Trung Quốc để tránh đụng độ quân sự trực tiếp với Trung Quốc. Nhưng hơn 10 năm sau, đế quốc Mỹ lại liều lĩnh tiến hành một cuộc phiêu kưu quân sự ở  Việt Nam sau khi gây ra cái gọi là “ sự kiện vịnh Bắc Bộ” tháng 8 năm 1964. Một trong những nguyên nhân chính là đế quốc Mỹ đã được yên tâm về phía những người cầm quyền Trung Quốc. Tháng 1 năm 1965, qua nhà báo Mỹ Étga Xnâu , chủ tịch Mao Trạch Đông nhắn Oasinhtơn: “Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Phải chăng như vậy là không rõ ràng? Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ của mình. Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác. Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy? Người Nam Việt Nam có thể đương đầu với tình hình.” Sau đó bằng nhiều cách, kể cả bằng cách trực tiếp nói trong cuộc đàm phán Trung Mỹ cấp đại sứ tại Vacsava, phía Trung Quốc làm cho Mỹ hiểu rõ câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông và yên tâm rằng: “người không đụng đến ta thì ta không đụng đến người”. Do đó từ tháng 2 năm 1965 chính quyền Giônxơn đã sử dụng bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ vào chiến trường Việt Nam, đưa quân Mỹ vào miền nam tiến hành chiến tranh cục bộ, đồng thời làm chiến tranh phá hoại bằng không quân chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, gây nên biết bao tang tóc và tàn phá đối với nhân dân cả nướ Việt Nam. Như vậy, những người cầm quyền Trung Quốc đã bộc lộ những tính toán lắt léo, những ý đồ thâm độc của họ. Họ đẩy Mỹ sa lầy trong chiến tranh xâm lược Việt Nam để họ yên tâm làm cuộc “cách mạng văn hoá”. Khi Mỹ lao vào cuộc phiêu lưu quân sự ở Việt Nam, họ muốn làm yếu cả Mỹ lẫn Việt Nam. Câu nói của thủ tướng Chu Ân Lai với tổng thống Ai Cập A. Nátxe ngày 23 tháng 6 năm 1965, do ông Môhamét Hátxenen Hâycan, người bạn thân thiết và cố vấn riêng của tổng thống A. Nátxe kể lại là một bằng chứng hùng hồn: “Mỹ càng đưa nhiều quân vào Việt Nam thì chúng tôi càng vui lòng vì chúng tôi biết rằng chúng tôi nắm chúng trong tay, chúng tôi có thể lấy máu chúng. Nếu Ngài muốn giúp đỡ người Việt Nam thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính Mỹ vào Việt Nam càng tốt” Đối với nhân dân Việt Nam, những người cầm quyền Trung Quốc chỉ một mực nhấn mạnh là phải đánh lâu dài, đánh du kích, không đánh lớn. Họ giúp nhân dân Việt Nam chủ yếu là  gúp vũ khí nhẹ, đạn dược, trang bị hậu cần. Họ không muốn cuộc chiến tranh Việt Nam sớm kết thúc vì không những họ muốn lực lượng cách mạngViệt nam suy yếu mà còn muốn lợi dụng càng lâu càng tốt cái tiếng “viện trợ Việt Nam” để giương cao ngọn cờ “cách mạng trệt để”,  tập họp lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh, đẩy mạnh chiến dịch chống Liên Xô. Không có gì đáng ngạc nhiên khi họ khước từ thi hành một hiệp định quân sự bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo hiệp định này, về nguyên tắc, đến tháng 6 năm 1965 phía Trung Quốc phải gửi phi công sang giúp Việt Nam. Nhưng ngày 16 tháng 7 năm 1965 Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng Trung Quốc đã báo cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam là phía Trung Quốc không thể gửi phi công sang Việt Nam được vì “thời cơ chưa thích hợp” và “làm như vậy không ngăn cản được địch đẩy mạnh oanh tạc “. Trong một cuộc hội đàm với  phía Việt Nam tháng 8 năm 1966 họ cũng nói: “ Trung Quốc không đủ khả năng về không quân giúp bảo vệ Hà Nội”.   2 -Phá hoại mọi hành động thống nhất ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược.
Để Việt Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc, những người cầm quyền Bắc Kinh ra sức ngăn cản mọi hành động thống nhất của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới ủng hộ Việt nam chống Mỹ. Ngày 28 tháng 2 năm 1965, họ bác bỏ dự thảo do phía Việt Nam đề nghị ngày 22 tháng 5 năm 1965 là các nước xã hội chủ nghĩa ra tuyên bố chung lên án Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược chống nước Việt nam dân chủ cộng hoà. Tháng 3 năm 1965, họ lại hai lần bác bỏ đề nghị của Liên Xô về vấn đề thống nhất hành động để bảo đảm an ninh của Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính vì thế họ đã bác bỏ đề nghị của Liên Xô lập cầu hàng không qua Trung Quốc, lập các sân bay trên đất Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tháng 2 năm 1966, chủ tịch Mao Trạch Đông bác bỏ việc thành lập Mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam đã được nêu trong cuộc hội đàm cấp cao Việt Trung. Tháng 3 năm 1966, cũng chủ tịch Mao Trạch Đông bác bỏ việc thành lập Mặt trận quốc tế thống nhất ủng hộ Việt Nam do Đảng cộng sản Nhật Bản nêu trong cuộc hội đàm cấp cao  với Đảng cộng sản Trung Quốc. Sau đó bọn tay sai của Bắc Kinh đã trắng trợn hành hung đại diện Đảng cộng sản Nhật Bản tại Trung Quốc. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại muốn thành lập một cái gọi là Mặt trận nhân dân thế giới do họ khống chế: “Cần phải thành lập Mặt trận thống nhất thế  giới rộng rãi nhất chống đế quốc Mỹ và tay sai…Tất nhiên Mặt trận đó không thể bao gồm họ (Liên Xô) được…” Đi đôi với việc phá hoại mọi hành động thống nhất ủng hộ Việt Nam, họ gây khó khăn rất lớn cho việc vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác quá cảnh đất Trung Quốc và tìm cách điều chỉnh sự viện trợ đó để hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, đặc biệt trong các mùa khô. Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia đã đoàn kết chặt chẽ với nhau và đó là truyền thống, là một nhân tố thắng lợi của nhân dân ba nước. Sau khi Mỹ tăng cường chiến tranh chống nhân dân Việt Nam và uy hiếp độc lập, hoà bình và trung lập của Lào và Campuchia, tháng 3 năm 1965 Hội nghị nhân dân các nước Đông Dương đã họp ở Phnôm Pênh, Mặt trận đoàn kết chống Mỹ của nhân dân các nước Đông Dương được hình thành. Những người cầm quyền Trung Quốc bên ngoài buộc phải hoan nghên kết quả của hội nghị, nhưng bên trong mưu tính phá hoại Mặt trận đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương. Theo chính sách cổ truyền “chia để trị” của tất cả bọn đế quốc và phản động, họ chia rẽ ba nước Đông Dương, làm suy yếu và cô lập Việt Nam hòng đánh tỉa từng nước. Năm 1966 ở Lào, trong các vùng giải phóng do Mặt trận Lào yêu nước quản lý, theo kế hoạch của Bắc Kinh, người Hoa tìm cách chia rẽ người Lào với người Việt Nam, tuyên truyền xuyên tạc và xúi giục một số phần tử chống lại Đảng nhân dân cách mạng Lào. mặt khác, Bắc Kinh tranh thủ chính quyền Vương quốc Lào, đẩy mạnh việc giúp Lào làm hệ thống đường ở 5 tỉnh Bắc Lào nối liền với cao nguyên Vân Nam của Trung Quốc và có những nhánh đi về hướng Việt Nam, Thái Lan nhằm tạo điều kiện can thiệp vào công việc nội bộ của Lào và chuẩn bị cho những kế hoạch bành trướng sau này. Ở Campuchia, từ trước năm 1965, những người cầm quyền Trung Quốc đã trắng trợn vu cáo Việt Nam hy sinh lợi ích của cách mạng Campuchia tại Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương, mặc dù sự thật rõ ràng là chính họ đã bán rẻ những lợi ích đó. Từ năm 1965, họ nắm Pôn Pốt, thúc đẩy y cùng đồng bọn tiến hành đấu tranh vũ trang chống chính quyền Xihanúc đang liên minh với các lực lượng kháng chiến Việt Nam và Lào. Nửa cuối năm 1969, sau khi Lon Non lên làm thủ tướng, những người cầm quyền Trung Quốc ủng hộ quan điểm của Lon Non là Quân giải phóng miền nam Việt Nam phải rút khỏi các căn cứ ở Campuchia và không được dùng cảng Xihanucvin vào việc vận chuyển hậu cần. Chính trong thời gian này, bè lũ Pôn Pốt Iêngxary cũng đòi Quân giải phóng miền nam Việt Nam rút khỏi các căn cứ ở Campuchia. Trái với sự mong ước của Bắc Kinh, Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt nam vẫn hình thành, trên thực tế, tình đoàn kết giữa nhân dân các nước Đông Dương ngày càng củng cố và nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, càng giành thêm nhiều thắng lợi.
3 -Ngăn cản cuộc thương lượng của Việt nam với Mỹ để kéo Mỹ xuống thang.
Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, chủ trương của Việt Nam là tiến hành đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Đầu năm 1968, khi cuộc chiến tranh của Mỹ đến đỉnh cao nhất, nhân dân Việt nam đã tiến hành thắng lợi cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, giáng cho địch một đòn quyết liệt, làm đảo lộn thế chiến lược của chúng, buộc chính quyền Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Pari. Trong cuộc đàm phán với phía Việt Nam tháng 4 năm 1968, phía Trung Quốc thừ nhận rằng Tuyên bố ngày 28 tháng 1 năm 1967 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc đàm phán với Mỹ đã gây ảnh hưởng tốt: “Ngay đồng minh của Mỹ, cả Đờ Gôn cũng đòi chấm dứt ném bom không điều kiện”. Nhưng họ vẫn cho rằng: “Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”. Từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, ngày khai mạc Hội nghị Pari đến trung tuần tháng 10 năm 1968, bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh không đưa một tin nào về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ, nhưng lại nhấn mạnh rằng nhân dân Việt Nam cần giải quyết số phận cuộc đấu tranh của mình “không phải trên bàn hội nghị mà trên chiến trường”, thậm chí còn đe doạ rằng: “nếu miền nam Việt Nam không được bảo đảm thì cuối cùng sẽ đưa đến chỗ mất toàn bộ Việt Nam”. Xu hướng Mỹ buộc phải chấm dứt ném bom miền bắc Việt Nam càng lộ rõ thì phản ứng của Bắc Kinh càng mạnh. Ngày 9 tháng 10 năm 1968, một nhà lãnh đạo Trung Quốc đã gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam tại Bắc Kinh và yêu cầu báo cáo với lãnh đạo Việt Nam rằng họ coi việc Mỹ chấm dứt ném bom miền bắc Việt Nam là “sự thoả hiệp của Việt Nam và Mỹ”, “là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam giống như cuộc đàm phán ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 là một sai lầm”; họ đề nghị phía Việt nam “nên để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp miền bắc, làm như vậy là để Mỹ phân tán mục tiêu oanh tạc, đồng thời cũng chia sẻ bớt khó khăn cho miền nam”. Ngăn cản nhân dân Việt Nam thương lượng với Mỹ, khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam, đây chính là cái mà tướng Mỹ M. Taylơ gọi là quyết tâm của những người lãnh đạo Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, nhằm làm suy yếu Việt Nam, có lợi cho chính sách bành trướng của họ. Trong cuộc gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam nói trên, phía Trung Quốc còn trắng trợn vu khống Việt Nam đàm phán với Mỹ là do “nghe lời của Liên Xô” và yêu cầu phía Việt Nam lựa chọn: “Hoặc là muốn đánh thắng Mỹ thì phải cắt quan hệ với Liên Xô, hoặc là muốn thoả hiệp với Mỹ, dùng viện trợ của Trung Quốc đánh Mỹ để đạt mong muốn đàm phán với Mỹ thì sự viện trợ của Trung Quốc sẽ mất hết ý nghĩa của nó”. Ngày 17 tháng 10 năm 1968, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị gặp đại diện Việt Nam thông báo tuyên bố của những người lãnh đạo Trung Quốc về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ: “Lần này nếu các đồng chí chấp nhận bốn bên đàm phán tức là giúp cho Giônxơn và Hămphơrây đoạt được thắng lợi trong bầu cử, để cho nhân dân miền nam Việt Nam vẫn ở dưới sự đô hộ của đế quốc Mỹ và bù nhìn, không được giải phóng, làm cho nhân dân miền nam Việt Nam còn có khả năng bị tổn thất lớn hơn…Như vậy giữa hai Đảng và hai nước chúng ta còn cần nói chuyện gì nữa?”. Đe doạ cắt quan hệ giữa hai Đảng là một thủ đoạn trắng trợn, một sức ép lớn nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam. Đi đôi với việc đe doạ bằng lời lẽ thô bạo là việc đe doạ bằng hành động thực sự. Năm 1968, khi bàn vấn đề viện trợ cho Việt Nam trong năm 1969, những người cầm quyền Bắc Kinh đã giảm kim ngạch viện trợ hơn 20% so với kim ngạch viện trợ năm 1968. Hơn thế nữa, tháng 8 năm 1969 họ trắng trợn nói: “Thế Việt Nam đánh hay hoà để Trung Quốc tính việc viện trợ?” Thực tế họ đã giảm kim ngạch viện trợ năm 1970 hơn 50% so với năm 1968. Sự thật là không phải đến năm 1968 những người lãnh đạo Bắc Kinh mới dùng vấn đề viẹn trợ để ép Việt Nam. Tháng 4 năm 1966, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với một nhà lãnh đạo Việt Nam rằng năm 1964 “đồng chí Mao Trạch Đông có phê bình chúng tôi là quá nhiệt tâm đối với vấn đề Việt Nam. Bây giờ chúng tôi mới thấy rõ đồng chí Mao nhìn xa”. Phía Việt nam đã trả lời: “Sự nhiệt tình của một nước xã hội chủ nghĩa đói với một nước xã hội  chủ nghĩa khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2 hay 3 triệu người…Miền nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản” Để tăng sức ép đối với Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc còn chỉ thị cho sứ quán của họ ở Hà Nội xúi giục, tổ chức người Hoa ở Việt Nam gây rối, chống lại Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cùng với hàng vạn người thuộc “bộ đội hậu cần” Trung Quốc sang làm đường giúp Việt Nam ở những tỉnh phía bắc từ năm 1965 đến 1968, bọn phản động người Hoa tuyên truyền cho “tư tưởng Mao Trạch Đông” và “cách mạng văn hoá”, xuyên tạc đường lối của Việt Nam, tổ chức các màng lưới gián điệp. Những người cầm quyền Bắc Kinh còn cho những người gọi là “tị nạn cách mạng văn hoá” thâm nhập các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam để làm tình báo và tổ chức các “đội quân ngầm” Nhưng nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ vững đường lối độc lập tự chủ không gì lay chuyển được của mình. Tất cả những thủ đoạn thô bạo gây sức ép, tất cả những thủ đoạn chính trị của Bắc Kinh đều đã thất bại: Mỹ đã buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền bắc Việt Nam từ đầu tháng 11 năm 1968 và ngồi vào cuộc Hội nghị bốn bên ở Pari có Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam tham gia từ đầu năm 1969.
 VHN st
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Việt Nam Trong Chiến Lược Toàn Cầu Của Trung Quốc

 http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html

Những hành động thù địch của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam mà đỉnh cao là cuộc chiến tranh xâm lược của họ ngày 17 tháng 2 năm 1979 đã làm cho dư luận thế giới ngạc nhiên trước sự thay đổi đột ngột về chính sách của Trung quốc đối với Việt Nam.

Sự thay đổi đó không phải là điều bất ngờ, mà là sự phát triển lô-gích  của chiến lược bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của những người lãnh đạo Trung Quốc trong hơn 30 năm qua. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc. Từ chỗ coi Liên Xô là đồng minh lớn nhất, họ đi đến chỗ coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất. Từ chỗ coi đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất mà bản chất không bao giờ thay đổi, họ đi đến chỗ coi đế quốc Mỹ là đồng minh tin cậy, câu kết với đế quốc Mỹ và trắng trợn tuyên bố Trung Quốc là NATO ở phương đông. Từ chỗ coi phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh là “bão táp cách mạng” trực tiếp đánh vào chủ nghĩa đế quốc và cho rằng rốt cuộc sự nghiệp cách mạng của toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế sẽ tuỳ thuộc vào cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ở khu vực này , họ đi đến chỗ cùng với đế quốc chống lại và phá hoại phong trào giải phóng dân tộc, ủng hộ những lực lượng phản động, như tên độc tài Pinôchê ở Chilê, các tổ chức FNLA và UNITA do Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) giật dây ở Angôla, vua Palêvi ở Iran, nuôi dưỡng bè lũ diệt chủng PônPốt-Iêngxary v..v…Họ ngang nhiên xuyên tạc nguyên nhân và tính chất của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới hiện nay, coi các cuộc đấu tranh này là sản phẩm của sự tranh giành bá quyền giữa các nước lớn, chứ không phải là sự nghiệp cách mạng của nhân dân các nước.

Cùng với sự lật ngược chính sách liên minh của họ trên thế giới là những cuộc thanh trừng tàn bạo và đẫm máu ở trong nước, đàn áp những người chống đối, làm đảo lộn nhiều lần vai trò của những người trong giới cầm quyền. Có người hôm nay được coi là nhà lãnh đạo cách mạng chân chính, ngày mai trở thành kẻ thù, kẻ phản bội của cách mạng Trung Quốc; có người trong vòng mấy năm lần lượt bị đổ và được phục hồi đến hai ba lần. Chiến lược của những người lãnh đạo Trung Quốc có những thay đổi rất lớn. Nhưng có một điều không thay đổi: đó là mục tiêu chiến lược muốn nhanh chóng đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc bậc nhất thế giới và thực hiện mưu đồ bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ đối với các nước khác. Tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956, Chủ tich Mao Trạch Đông đã nói: “Chúng ta phải trở thành quốc gia hàng đầu về phát triển văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghiệp…Không thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm, chúng ta vẫn chưa trở thành cường quốc số một trên thế giới” Sau đó, tháng 9  năm 1959, tại Hội nghị của Quân uỷ trung ương, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta” Ngay từ khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tháng 10 năm 1949, những người cầm quyền ở Bắc Kinh đã bắt tay đẩy mạnh việc thực hiện mục tiêu chiến lược của họ. Mặc dầu nền kinh tế của Trung Quốc còn lạc hậu, từ cuối những năm 1950 họ đã ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân chiến lược và hiện nay đang đẩy mạnh việc thực hiện “hiện đại hoá” về quân sự, về sản xuất và tích trữ vũ khí hạt nhân. Trong lĩnh vực kinh tế, điều giống nhau giữa “đại nhảy vọt” năm 1958 và “bốn hiện đại hoá” mới nêu ra vài ba năm nay là cả hai kế hoạch đó đều nhằm mục tiêu chiến lược bành trướng và bá quyền của những người lãnh đạo Trung Quốc.   Trong chiến lược toàn cầu của những người lãnh đạo Trung Quốc, nếu họ coi Liên Xô và Mỹ là những đối tượng chủ yếu cần phải chiến thắng, thì họ coi Việt Nam là một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính để dễ bề đạt được lợi ích chiến lược của họ. Bước vào những năm 1950, khi bắt đầu công cuộc xây dựng lại hòng đưa nước Trung Hoa nhanh chóng trở thành cường quốc trên thế giới, những người lãnh đạo Trung Quốc phải đối phó với cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lược Triều Tiên ở phía bắc và mối nguy cơ đe doạ an ninh của Trung Quốc ở phía nam do cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam gây ra. Đồng thời đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ và tên sen đầm quốc tế, thi hành một chính sách thù địch đối với Trung Quốc và đang ra sức tiến hành kế hoạch bao vây, cô lập Trung Quốc. Cuộc kháng chiến thắng lợi của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia chống thực dân Pháp đã đưa đến  Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương. Pháp lo sợ thắng lợi hoàn toàn của nhân dân Việt Nam sẽ dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Pháp. Trung Quốc là nước cung cấp nhiều vũ khí nhất cho Việt Nam vào cuối cuộc kháng chiến của nhân dân Việt nam chống thực dân Pháp. Những người lãnh đạo Trung Quốc đã lợi dụng tình hình đó để đứng ra làm người thương lượng chủ yếu đối với đế quốc Pháp, câu kết với chúng và cùng nhau thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung Quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước ở Đông Dương để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt Nam và Đông Dương, đồng thời để có vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, trước hết là ở châu Á. Trong Hội nghị Giơnevơ năm 1954 mà phần đầu dành cho vấn đề Triều Tiên, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lần đầu tiên xuất hiện ngang hàng với bốn cường quốc uỷ viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Đó là một cơ hội tốt cho những người lãnh đạo Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực châu Á và châu Phi. Đồng thời, họ tìm cách bắt tay với đế quốc Mỹ qua các cuộc thương lượng trực tiếp bắt đầu  Giơnevơ, về sau chuyển sang Vacsava. Từ sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào Việt Nam, nhằm biến miền nam Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới và một căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông nam châu Á. Những người cầm quyền ở Bắc Kinh muốn duy trì lâu dài tình trạng Việt Nam bị chia cắt. Nhưng nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên chống Mỹ cứu nước và ngày càng giành được nhiều thắng lợi. Cuối những năm 1960, đế quốc Mỹ bị sa lầy trong chiến tranh xâm lược chống Việt Nam, một cuộc chiến tranh đã làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng về kinh tế, chính trị và xã hội của nước Mỹ, đồng thời làm suy yếu thêm vị trí của đế quốc Mỹ trên thế giới. Tình hình đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng trên thế giới phát triển mạnh mẽ và tạo cho các nước Tây Âu, Nhật Bản có cơ hội ngoi lên thành những lực lượng cạnh tranh mạnh mẽ với Mỹ. Trước tình thế ngày càng tuyệt vọng, tổng thống Nichxơn đã đề ra kế hoạch “Việt Nam hoá” chiến tranh và theo kinh nghiệm của đế quốc Pháp năm 1954, dùng Trung Quốc hòng giải quyết vấn đề Việt Nam với những điều kiện có lợi cho đế quốc Mỹ: rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam mà vẫn giữ được chế độ bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu ở miền nam Việt Nam. Đồng thời, chính quyền Nichxơn chơi con bài Trung Quốc để gây sức ép đối với Liên Xô, chống phong trào cách mạng thế giới.

Lợi dụng sự suy yếu của đế quốc Mỹ và chiều hướng chính sách của chính quyền Nichxơn, những người lãnh đạo Trung Quốc tăng cường chống Liên Xô và thoả hiệp với Mỹ, giúp Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam để cố tạo nên thế ba nước lớn trên thế giới theo công thức của Kitxinhgơ về “thế giới nhiều cực”, trong đó một trong ba cực lớn là Trung Quốc, xoá bỏ “thế hai cực” Mỹ và Liên Xô đã hình thành sau chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời dùng vấn đề Việt Nam để đổi lấy việc Mỹ rút khỏi Đài Loan. Do đó, họ lật ngược chính sách liên minh, bắt đầu từ việc coi Liên Xô là kẻ thù chủ yếu, gây ra xung đột biên giới với Liên Xô tháng 3 năm 1969, đến việc phản bội Việt Nam lần thứ hai, buôn bán với Mỹ để ngăn cản thắng lợi hoàn toàn của nhân dân Việt Nam. Trong năm 1971, họ lần lượt tiến hành chính sách “ngoại giao bóng bàn”, đón tiếp Kitxinhgơ ở Bắc Kinh. Tiếp đó là việc khôi phục địa vị của Trung Quốc ở Liên hợp quốc và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trở thành một trong năm uỷ viên thường trực  của Hội đồng bảo an. Đỉnh cao là việc Trung Quốc tiếp tổng thống Mỹ Nichxơn và hai bên ra Thông cáo Thượng Hải tháng 2 năm 1972. Đối với những người cầm quyền Bắc Kinh, sự câu kết với đế quốc Mỹ là một bước có ý nghĩa quyết định đối với việc triển khai chiến lược toàn cầu của họ. Cũng như sau Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, những người lãnh đạo Trung Quốc sau Hiệp định Pari tháng 1 năm 1973 về Việt Nam, muốn duy trì nguyên trạng ở miền nam Việt Nam.   “Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc” của chủ tịch Mao Trạch Đông viết năm 1939 do hiệu sách Tân Hoa thư điếm (Dực Nam) tái bản tháng 6 năm 1949. Trong đó có đoạn viết: “Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Nêpan và Hương Cảng. Pháp chiếm An Nam…” Đường vẽ chấm là “biên giới” của Trung Quốc theo quan điểm bành trướng, những vùng đánh số là những lãnh thổ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh cho là đã bị nước ngoài “chiếm mất” bao gồm: một phần lớn đất vùng Viễn Đông và Trung Á của Liên Xô (số 1, 17, 18), Át Xam (số 6), Xích Kim (số 4), Butan (số 5), Miến Điện (số 7), Nêpan (số 3), Thái Lan (số 10), Việt Nam (số 11), Lào, Campuchia… Vì vậy thắng lợi của nhân dân Việt Nam năm 1975 đánh sụp hoàn toàn chính quyền tay sai của Mỹ, giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà không chỉ là một thất bại lớn của đế quốc Mỹ mà còn là một thất bại lớn của những người cầm quyền Bắc Kinh trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu và mưu đố bành trướng, bá quyền của họ. Từ đó, họ công khai thi hành chính sách thù địch chống Việt Nam, kể cả bằng biện pháp quân sự. Như vậy, trong 30 năm qua, Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc. Vì Việt Nam có vị trí rất quan trọng trong chiến lược của Pháp giữa những năm 1950 cũng như trong chiến lược của Mỹ đầu những năm 1970, những người lãnh đạo Trung Quốc đã dùng “con bài” Việt Nam để câu kết với bọn đế quốc, phục vụ cho ý đồ chiến lược bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ. Đồng thời họ mưu toan một mình nắm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, một vấn đề trung tâm của đời sống chính trị quốc tế lúc bấy giờ để giương cao chiêu bài “chống chủ nghĩa đế quốc” hòng nắm quyền “lãnh đạo cách mạng thế giới”, dìm ảnh hưởng của Liên Xô.  Đông nam châu Á là hướng bành trướng cổ truyền trong lịch sử Trung Quốc, là khu vực mà từ lâu những người lãnh đạo nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ước mơ thôn tính. Trong năm 1936, chủ tịch Mao Trạch Đông kể chuyện với nhà báo Mỹ Etga Xnâu ở Diên An về thời trẻ của mình, đã bộc lộ ý nghĩ sau khi đọc một cuốn sách nhỏ nói đến việc Nhật chiếm Triều Tiên và Đài Loan, việc mất “chủ quyền”  Trung Hoa ở Đông Dương, Miến Điện và nhiều nơi khác: “Đọc xong, tôi lấy làm thất vọng đối với tương lai đất nước tôi và tôi bắt đầu nhận thức rằng bổn phận của mọi người là phải đóng góp cứu nước”. Tài liệu của Đảng cộng sản Trung Quốc do chủ tịch Mao Trạch Đông viết mang tên Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc, xuất bản năm 1939 có viết: “Các nước đế quốc sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Hương Cảng, Pháp chiếm An Nam…” Cuốn sách Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại xuất bản năm 1954 ở Bắc Kinh có bản đồ vẻ lãnh thổ Trung Quốc bao gồm cả nhiều nước chung quanh, kể cả ở Đông nam châu Á và vùng biển Đông.
Ý đồ bành trướng của những người lãnh đạo Trung Quốc đặc biệt lộ rõ ở câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông nam châu Á” Cũng trong dịp này, chủ tịch Mao Trạch Đông so sánh nước Thái Lan với tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc, về diện tích thì tương đương nhưng về số dân thì tỉnh Tứ Xuyên đông gấp đôi, và nói rằng Trung Quốc cần đưa người xuống Thái Lan để ở; đối với nước Lào đất rộng người thưa, chủ tịch Mao Trạch Đông cũng cho rằng Trung Quốc cần đưa người xuống Lào để ở. Chủ tịch Mao Trạch Đông còn khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1965: “Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapo…Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”. So với các khu vực khác trên thế giới, Đông nam châu Á là khu vực mà Trung  Quốc có nhiều điều kiện thuận lợi nhất, có nhiều phương tiện và khả năng nhất (hơn 20 triệu Hoa kiều, các chính đảng lệ thuộc vào Đảng cộng sản Trung Quốc, Đông nam châu Á có đường đất liền với Trung Quốc…) để thực hiện chính sách bành trướng và bá quyền nước lớn của mình. Cho nên trong hơn 30 năm qua, những người lãnh đạo nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã dùng nhiều thủ đoạn để thực hiện chính sách bành trướng ở khu vực này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng của họ. Họ xây dựng lực lượng hạt nhân chiến lược, phát triển lực lượng kinh tế, ỷ thế nước lớn, đe doạ bằng quân sự và hứa hẹn viện trợ về kinh tế để mua chuộc, lôi kéo hoặc gây sức ép với các nước ở khu vực này, hòng làm cho các nước đó phải đi vào quỹ đạo của họ. Họ xâm phạm lãnh thổ các nước và gây ra xung đột biên giới, dùng lực lượng tay sai hoặc trực tiếp đem quân xâm lược, hòng làm suy yếu để dễ bề khuất phục, thôn tính nước này, nước khác trong khu vực. Họ không từ bất kỳ một hành động tàn bạo nào, như họ đã dùng tập đoàn Pônpốt- Iêngxary thực hiện chính sách diệt chủng ở Campuchia. Họ dùng nhiều công cụ ở các nước Đông nam châu Á: lực lượng Hoa kiều làm “đạo quân thứ năm”, các tổ chức gọi là “cộng sản” theo mệnh lệnh của Bắc Kinh, các dân tộc thiểu số ở cấc nước thuộc khu vực này có ít nhiều nguồn gốc dân tộc ở Trung Quốc để phục vụ cho chính sách bành trướng và bá quyền của họ. Về việc sử dụng lực lượng Hoa kiều, ý đồ của Bắc Kinh đã được thể hiện rõ nhất trong ý kiến của bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị: “Singapore có trên 90% là người Trung Quốc, trong số dân hơn 1 triệu người thì hơn 90 vạn là người Trung Quốc. Cho nên Singapore hoàn toàn trở thành một quốc gia do người Trung Quốc ở đó tổ chức”. Những người lãnh đạo Trung Quốc lợi dụng mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông nam châu Á, chia rẽ các nước thuộc tổ chức ASEAN với ba nước trên bán đảo Đông Dương, chia rẽ các nước với nhau như đã chia rẽ Malayxia với Inđônêxia, Miến Điện với Thái Lan…Đặc biệt họ lợi dụng tình hình ở Đông nam châu Á là một trong những khu vực sục sôi cách mạng trên thế giới, phong trào độc lập dân tộc ngày càng phát triển và chủ nghĩa thực dân đế quốc ngày càng suy yếu để thực hiện ý đồ bành trướng của họ. Khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam năm 1954, họ muốn duy trì ở miền nam Việt Nam, Lào và Campuchia sự có mặt của Pháp là một tên đế quốc đã suy yếu để ngăn cản Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ thâm nhập vào Đông Dương và hạn chế thắng lợi hoàn toàn của cách mạng ba nước ở Đông Dương. Khi Mỹ suy yếu và thất bại ở vùng này, họ muốn duy trì sự có mặt của Mỹ để cùng với Mỹ thống trị các nước trong khu vực. Làm như vậy, họ hy vọng dựa vào chủ nghĩa đế quốc ngăn chặn sự phát triển của cách mạng để từng bước lấp cái gọi là lỗ hổng ở Đông nam châu Á, tiến đến gạt dần các đồng minh đế quốc để độc chiếm khu vực này. Họ tung ra luận điệu lừa bịp là ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô để che dấu âm mưu đen tối của họ. Việt Nam có một vị trí chiến lược ở Đông nam châu Á. Trong lịch sử, bọn bành trướng phong kiến Trung Quốc đã nhiều lần xâm lược hòng thôn tính  Việt Nam, dùng Việt Nam làm bàn đạp để xâm lược các nước khác ở Đông nam châu Á. Khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trong các đảng cộng sản ở khu vực này chỉ có Đảng cộng sản Việt Nam giành được chính quyền và thành lập Nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực. Cách mạng Việt Nam có ảnh hưởng to lớn do đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những người lãnh đạo Trung Quốc âm mưu nắm Việt Nam để nắm toàn bộ bán đảo Đông Dương, mở đường đi xuống Đông nam châu Á. Trong cuộc gặp giữa đại biểu bốn đảng cộng sản Việt nam, Trung Quốc, Inđônêxia và Lào tại Quảng Đông tháng 9 năm 1963, thủ tướng Chu Ân Lai nói: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông nam châu Á”. Để làm suy yếu và nắm lấy Việt Nam, họ ra sức phá sự đoàn kết giữa ba nước ở bán đảo Đông Dương, chia rẽ ba nước với nhau, đặc biệt là chia rẽ Lào và Campuchia với Việt Nam. Đồng thời họ cố lôi kéo các nước khác ở Đông nam châu Á đối lập với Việt Nam, vu khống, bôi xấu, hòng cô lập Việt Nam với các nước trên thế giới. Những người cầm quyền Bắc Kinh rêu rao cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đầu năm 1974, với sự đồng tình của Mỹ, họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam để từng bước kiểm soát biển Đông, khống chế Việt Nam và toàn bộ Đông nam châu Á, đồng thời khai thác tài nguyên phong phú ở vùng biển Đông.

VHN TH&ST

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Không thể phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người

Để cản trở Việt Nam bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế kiểm điểm định kỳ về nhân quyền (UPR) chu kỳ II tại Giơ-ne-vơ, một số tổ chức quốc tế và cá nhân vốn có định kiến với Việt Nam vẫn cố tình phủ nhận thành tựu về nhân quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, những cố gắng của họ chỉ là vô vọng.

Đoàn Việt Nam gặp gỡ các đại biểu tham dự phiên họp lần thứ 18 về UPR tại Hội đồng Nhân quyền LHQ. Ảnh: Tố Uyên – TTXVN

Ngày 05-02-2014, Việt Nam đã trình bày Báo cáo quốc gia theo cơ chế UPR trước Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ). Sau 2 ngày trao đổi, đối thoại trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở với 107 quốc gia về nhân quyền, Báo cáo quốc gia UPR của Việt Nam đã được Nhóm làm việc của Hội đồng nhân quyền LHQ thông qua vào chiều 07-02 (giờ Việt Nam) với sự nhất trí cao. Nhiều nước phát triển và đang phát triển đã đánh giá cao những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người; đồng thời, ghi nhận sự nghiêm túc của Việt Nam trong việc chuẩn bị Báo cáo. Thắng lợi này là kết quả tất yếu của những nỗ lực không mệt mỏi mà Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã thực hiện trong việc bảo đảm quyền con người thời gian qua. Đó chính là sự tiếp nối lô-gic thành công của Việt Nam trong việc ứng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ cuối năm 2013; đồng thời, cũng là thực tiễn sinh động làm bẽ mặt những kẻ lâu nay vẫn quen thói “chọc gậy bánh xe”, nhân danh bảo vệ nhân quyền để phá hoại uy tín của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.

Cũng giống như cuối năm ngoái, khi Việt Nam ứng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ, gần tới ngày Việt Nam trình bày Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ II, lại ồn ào một cuộc vận động với sự phối hợp chặt chẽ của một số cơ quan truyền thông, một số tổ chức quốc tế và một số kẻ phản bội lại lợi ích quốc gia, dân tộc, nhằm cản trở Việt Nam bảo vệ Báo cáo. Họ tổ chức đón tiếp và lấy thông tin bịa đặt từ một nhóm người có hoạt động chống Nhà nước Việt Nam, để xây dựng các bài viết xuyên tạc tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam; phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, nhằm gây sức ép lên Nhóm làm việc của Hội đồng nhân quyền LHQ khi thông qua Báo cáo UPR của Việt Nam. Khi không ngăn cản nổi Việt Nam bảo vệ thành công Báo cáo UPR, họ lại ra sức xuyên tạc kết quả phiên bảo vệ, thổi phồng những khuyến nghị của các nước thành viên trong quá trình diễn ra hoạt động đối thoại thuộc khuôn khổ của phiên bảo vệ. Nổi lên là hôm 03-02, VOA đã cho đăng thư ngỏ “Hà Nội hãy xé bỏ báo cáo lừa dối UPR để nói lên thực trạng nhân quyền” của Võ Văn Ái – một kẻ chống cộng cực đoan; hay ngày 06-02, đăng bài “Nhân quyền Việt Nam bị chỉ trích tại kỳ kiểm điểm UPR” (Trà My-VOA); ngày 07-02, đăng bài trả lời phỏng vấn Benjamin Ismail – Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) “Việt Nam hãy thôi lừa bịp thế giới về thành tích nhân quyền”… với những nội dung xuyên tạc sự thật. Nhưng, sự thật vẫn là sự thật. Chó cứ sủa, đoàn người vẫn đi. Vượt qua những động thái lăng xăng, huyên náo, không kém phần lố bịch của những kẻ luôn có thái độ định kiến và thù địch với chế độ hiện hành ở Việt Nam, cộng đồng quốc tế vẫn sáng suốt đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực thi quyền con người. Sự đánh giá cao đó không phải là cảm tính, mà dựa trên sự thẩm định nghiêm túc những nỗ lực của Việt Nam, nhất là việc thực hiện 96/123 khuyến nghị (đạt 78%) của 60 quốc gia từ phiên báo cáo định kỳ UPR lần đầu tiên vào tháng 5-2009.

Những nỗ lực không mệt mỏi đó của Chính phủ và nhân dân Việt Nam được thực hiện một cách toàn diện từ việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, đến việc triển khai rất nhiều chủ trương, chính sách để bảo đảm quyền con người cho nhân dân; trong đó, vừa khẳng định và tôn trọng về phương diện pháp luật, vừa tạo điều kiện để mọi người dân thực hiện các quyền của mình trong đời sống xã hội. Điểm nổi bật trên lĩnh vực lập pháp những năm qua, phải kể đến kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi (năm 2013). Bản Hiến pháp sửa đổi đã dành hẳn Chương II, với 36 điều để hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân; trong đó, hiến định đầy đủ các quyền và tự do của con người về dân sự, chính trị, kinh tế – xã hội và văn hóa theo các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia. Điều đó thể hiện bước tiến mới của Việt Nam trong việc nhận thức, phát huy và bảo vệ quyền con người. Cùng với đó, từ năm 2009 đến nay, Việt Nam cũng bổ sung và ban hành mới 25 đạo luật quan trọng khác, nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho việc tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người; trong đó, đáng chú ý là Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Luật sư, Luật Người cao tuổi, Luật Người Khuyết tật, Luật phòng, chống Bạo lực gia đình, Luật phòng, chống mua bán người, Luật Báo chí, Luật Xuất bản… Đối với các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam cũng đều chủ động tham gia; trong đó, có những công ước mà Việt Nam là một trong số các nước đi đầu trong việc phê chuẩn, như Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức Phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước về Quyền trẻ em (CRC). Gần đây nhất là ngày 07-12-2013, Việt Nam đã chính thức tham gia “Công ước của LHQ về chống tra tấn”, đánh dấu sự hoàn tất của Việt Nam trong việc phê chuẩn tham gia các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người. Không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, Chính phủ Việt Nam đã cụ thể hóa những quy định của luật pháp bằng việc thực thi nhiều chủ trương, chính sách hướng vào cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, như: phê duyệt và triển khai thực hiện 41 chiến lược và chương trình quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội với ưu tiên dành cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, nhất là trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số. Việc hoàn thành sớm 5 trên 8 Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs), nhất là thành tựu xóa đói giảm nghèo (với tỷ lệ hộ nghèo từ 58,1% năm 1993 xuống còn 7,8% năm 2013), cũng là vì con người. Ngay trong bối cảnh chịu sự tác động tiêu cực của tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều quốc gia (kể cả những nước kinh tế phát triển) cắt giảm đáng kể phúc lợi xã hội, nhưng trong giai đoạn 2011 – 2015, Chính phủ Việt Nam vẫn giành nguồn lực tới 364.000 tỷ đồng để xóa đói giảm nghèo. Nhiều lần Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định: ngay cả khi ngân sách khó khăn, nhưng chương trình mục tiêu giảm nghèo vẫn phải bố trí đủ vốn, không cắt giảm, không đình hoãn. Trong thực tế, chẳng những không một chương trình an sinh xã hội nào bị cắt giảm, mà Chính phủ còn chi hơn 1 tỷ USD (trong 2 năm 2011 ‒ 2012) để hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, miễn giảm học phí và trợ cấp tiền ăn trưa cho trẻ em nghèo, trẻ em người dân tộc thiểu số. Trong giai đoạn 2006 – 2012, Chính phủ vẫn dành 2,5 tỷ USD để thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi. Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, trong đó tập trung ưu tiên phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người. Điều đó cho thấy quyết tâm rất cao của Chính phủ Việt Nam trong việc chăm lo đến cuộc sống của người dân không chỉ dừng lại ở chủ trương mà được thể hiện ra bằng hành động thực tế. Chả thế mà cuối tháng 10-2013, Bà Vích-to-ri-a Qua-qua, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã phát biểu rằng: “Các chỉ số phúc lợi xã hội hiện nay (của Việt Nam) cao hơn phần lớn các nước có cùng mức thu nhập, và thậm chí cả một số nước có thu nhập cao hơn”.

Cùng với chăm lo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, 95% người dân Việt Nam có đời sống tín ngưỡng. Số tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và cấp giấy chứng nhận hoạt động tăng hơn 2 lần trong giai đoạn 2006 ‒ 2012, từ 6 tôn giáo và 15 tổ chức tôn giáo lên tương ứng là 13 và 33. Số tín đồ các tôn giáo cũng tăng từ 15% lên gần 30% số dân cả nước. Hiện nay, cả nước có gần 100 ngàn chức sắc, chức việc, nhà tu hành thuộc các tôn giáo và tổ chức tôn giáo; gần 300 ngàn cơ sở thờ tự và hơn 50 học viện, trường cao đẳng, trường trung cấp, hoặc cơ sở đào tạo của các tôn giáo và tổ chức tôn giáo. Các hoạt động tôn giáo đều được thực hiện tự do theo đúng hiến chương, điều lệ, giáo lý, giáo luật của các tôn giáo. Hàng năm, có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức ở các quy mô khác nhau trên khắp cả nước, tạo nên đời sống văn hóa phong phú, đa dạng.

Về vấn đề tự do báo chí, Việt Nam cũng đạt được những thành tựu không thể phủ nhận. Báo chí ở Việt Nam không bị kiểm duyệt và có vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực. Tính đến hết năm 2013, cả nước có 997 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm (so với các con số tương ứng của năm 2009 là 676 và 700); gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ; 01 hãng thông tấn, 67 đài phát thanh, truyền hình, 101 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh, 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội và 1.174 trang thông tin điện tử, gần 3 triệu người có blog cá nhân. Người dân Việt Nam được tiếp cận với nhiều kênh truyền hình nước ngoài, nhiều hãng thông tấn và báo chí lớn của thế giới, như: CNN, TV5, DW, NHK, KBS, Australia, BBC, VOA, AFP, RFA, v.v. Nói về quyền của người dân được tiếp cận với internet, thì tính đến tháng 12-2013, ở Việt Nam đã có 30,8 triệu người sử dụng (năm 2010 là 26 triệu), chiếm 34% dân số (trung bình của thế giới là 33%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 8 tại châu Á (theo xếp hạng vào năm 2012 của Liên minh viễn thông quốc tế ITU). Sự phát triển mạnh mẽ internet ở Việt Nam đã là một thực tế đầy sức thuyết phục để bác bỏ mọi sự vu cáo, xuyên tạc về sự hạn chế của Chính phủ Việt Nam đối với việc tiếp cận internet của người dân. Liên quan đến vấn đề này, phải nhắc đến Nghị định 72/NĐ-CP mà Chính phủ Việt Nam mới ban hành năm ngoái (có hiệu lực từ 01-7-2013), cũng nhằm để bảo đảm cho người dân được tự do, an toàn hơn khi sử dụng internet. Đó là việc làm phù hợp với xu thế chung mà chính phủ nước nào cũng thực hiện. Mới đây, Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ vừa ban hành Luật kiểm soát internet với một số quy định, như: “Các nhà cung cấp dịch vụ buộc phải lưu trữ tối thiểu 2 năm tất cả dữ liệu của người dùng và có trách nhiệm cung cấp cho an ninh nếu cần thiết”; “Cơ quan an ninh có quyền chặn bất cứ trang web nào mà không cần phải nhờ tới phán quyết của tòa án”. Trước làn sóng phản đối của cư dân mạng, Thủ tướng nước này, ông Erdogan đã nói rằng: “Luật kiểm soát internet là bảo đảm an toàn cho chính người dân, giúp cho môi trường internet an toàn hơn, tự do hơn. Chúng ta chỉ đặt ra điều luật mà bất cứ đất nước công nghiệp nào cũng đều làm. Bạn hãy sang các nước khác ở khắp châu Âu mà xem, bạn sẽ tìm thấy những bộ luật đúng như vậy. Hay bạn sang Mỹ mà xem, bên đó cũng vậy thôi, luật của nước Mỹ không có gì khác so với của Thổ Nhĩ Kỳ”.

Cần phải nhắc lại rằng, cộng đồng quốc tế còn có những nhận thức rất khác nhau về nhân quyền; và không có một nước nào được xem là hoàn hảo cả. Bên cạnh những giá trị phổ quát, vấn đề nhân quyền luôn mang dấu ấn đặc thù về lịch sử, văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc, nên không thể áp đặt tiêu chuẩn về nhân quyền của quốc gia này, dân tộc này lên quốc gia khác, dân tộc khác. Vì thế, trong khuôn khổ phiên bảo vệ Báo cáo UPR, Việt Nam nhận được những khuyến nghị của các nước khác cũng là bình thường. Với tinh thần thực sự trân trọng, cởi mở với bạn bè quốc tế, Việt Nam lắng nghe tất cả các ý kiến, dù rằng trong đó có những khuyến nghị chưa thật sát với tình hình phát triển thực tế của Việt Nam và chưa tính đến dấu ấn đặc trưng văn hóa trong sự phát triển chung của Việt Nam. Thế nhưng, lợi dụng các khuyến nghị trong khuôn khổ UPR để xuyên tạc kết quả của phiên bảo vệ Báo cáo UPR của Việt Nam, phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người những năm qua là hành động không thể chấp nhận được. Điều đáng nói là, bất cứ nước nào thực hiện bảo vệ Báo cáo UPR cũng đều nhận được những khuyến nghị, trong đó có cả những khuyến nghị không thật phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa và thực tế của quốc gia bảo vệ Báo cáo. Lần giở lại Báo cáo UPR của Mỹ năm 2010, cũng thấy Hội đồng nhân quyền LHQ phải quan ngại nhiều điều, như: khuyến nghị 30. CERD (Ủy ban giảm thiểu phân biệt chủng tộc) quan ngại về bạo lực quá mức, gây tử vong của quan chức hành pháp đối với nhóm người Mỹ gốc Phi, gốc La-tin, nhóm người nhập cư không giấy tờ , khuyến nghị 34. CAT (Ủy ban chống tra tấn) quan ngại về các hành vi tra tấn hoặc ngược đãi được các quan chức quân sự Mỹ hoặc các quan chức dân sự tại I-rắc và Ap-gha-ni-xtan cam kết, và khuyến nghị Mỹ cần có biện pháp loại bỏ mọi hành vi tra tấn và ngược đãi đối với tù nhân của các quan chức quân sự và dân sự ở các nước nằm trong quyền xét xử và điều tra sâu rộng các hành vi đó, khuyến nghị 54. Ủy ban nhân quyền quan ngại Mỹ đã và vẫn đang giám sát truyền thông tư nhân cả trong và ngoài nước mà không có sự kiểm soát độc lập hoặc có tính pháp quy nào, v.v. Vẫn tự coi mình là nước dân chủ nhất, nhưng nước Mỹ lại có quá nhiều vấn đề nhức nhối về nhân quyền như thế. Vậy, họ có xứng là người thường rao rảng về nhân quyền hay không?

Nhìn lại những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người, có thể khẳng định rằng, đó là những thành tựu to lớn, không thể phủ nhận được. Những “phát biểu”, “điều trần” của cá nhân này, tổ chức nọ nhằm bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam chỉ là những tiếng nói lạc lõng, xa lạ với dòng chủ lưu của cộng đồng quốc tế. Nó đã, đang và tiếp tục bị cộng đồng quốc tế vạch trần, lên án./.

  NGUYỄN NGỌC

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Tiểu nhân nghĩ đến điều lợi là lợi riêng cho bản thân

john lee – Việt kiều Mỹ
(Bài được đăng tải trên tạp chí nhân quyền Việt Nam 11-2013)
Displaying bia 1.jpg
Những ngày gần đây, một số người trước kia từng đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên tung ra những bài viết tỏ ra sám hối, tiếc nuối vì đã “lỡ” một thời theo Đảng. Núp dưới vỏ bọc các “Bản góp ý”, “Bản lên tiếng”, “Tâm sự cùng Đảng”… nhưng thực chất những bài viết các nhà “dân chủ cấp tiến” này không gì hơn là gây ra sự nghi ngờ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ, tạo ra và kích động mâu thuẫn nội bộ trong nước, làm rạn nứt mối quan hệ keo sơn giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước, giữa các dân tộc, tôn giáo… trong xã hội. Với luận điệu: “Đảng không những không vì lợi ích dân tộc Việt Nam mà Đảng còn hi sinh lợi ích dân tộc cho lợi ích của Đảng, cho những mục tiêu viển vông, siêu thực của Đảng, cho cuộc cách mạng vô sản thế giới hão huyền, chỉ đẩy nhân dân vào chiến tranh hận thù, chỉ lấy nhân dân làm vật thí nghiệm, vật hi sinh cho chủ nghĩa xã hội hư vô! Đưa dân tộc Việt Nam vào con đường máu lửa…”. Từ đó, họ “đòi xét lại vai trò lãnh đạo” của Đảng. Trong bài viết “Không trung thực trong Điều 4 Hiến pháp”, một nhà “dân chủ” từng có gần 40 năm theo Đảng, viết: “Phan Châu Trinh mất sớm, con đường cứu nước đúng  đắn Phan Châu Trinh vừa khởi xướng đành bỏ dở. Sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam thôi đành phó thác cho những người Cộng sản. Và dân tộc Việt Nam phải trải qua con đường đấu tranh bạo lực dằng dặc máu lửa”.
Trong một bài viết khác, vị “dân chủ cấp tiến” này lại “sám hối” với những lời lẽ cực kỳ trơ tráo: “Bất hạnh thay người dân Việt Nam không có được hạnh phúc vì Đảng Cộng sản Việt Nam không thoát ra được học thuyết giai cấp hư vô để trở về với dân tộc; không có được sự đồng cảm chia sẻ với nỗi đau khổ mất mát của người dân sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa… Đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thảm họa này đến thảm họa khác”! Và vị này lớn tiếng tuyên bố:  Không chấp nhận sự tiếp tục độc quyền thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam – một đảng đã vay nợ của nhân dân Việt Nam quá nhiều máu; một đảng đang lún sâu trong tham nhũng không phương cứu chữa”!
Trong khi ngày 8-12 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký lệnh Công bố Hiến pháp 2013, một bản Hiến pháp kết tinh ý chí, nguyện vọng của nhân dân thì một nhà “dân chủ” với học vị tiến sĩ vẫn kêu gọi lật đổ chế độ rằng: “Đảng vẫn tiếp tục phong cách cũ của mình với bản Hiến pháp sửa đổi là không có giá trị gì mới khi các sửa đổi chỉ là “lặt vặt” và với vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng vẫn được bảo tồn”. Chưa hết, vị này nói tiếp: “Không thể chấp nhận hiện trạng như thế thì sẽ phải lên tiếng, sẽ phải đấu tranh, sẽ phải tham gia bằng đủ mọi biện pháp của mình”! Thế lực thù địch. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, công kích vào sự lãnh đạo của Đảng, gây mâu thuẫn, chia rẽ nhân dân với Đảng là một thủ đoạn cực. Những phát biểu kiểu này luôn là món khoái khẩu của các thế kỳ thâm độc nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, chúng hướng mũi nhọn kích động vào giới trẻ. Mục đích của họ là làm cho các thế hệ kế tiếp phai nhạt lý tưởng và niềm tin cách mạng, ngả theo quan điểm của hệ tư tưởng tư sản, từng bước chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực chống đối Việt Nam và các phần tử cơ hội biết rất rõ rằng, sức mạnh của cách mạng Việt Nam trong quá trình đấu tranh giành lại độc lập và xây dựng đất nước là ở sự gắn bó chặt chẽ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự thống nhất giữa mục tiêu lý tưởng của Đảng và của dân tộc. Chính vì vậy mà chúng tìm mọi cách gây mơ hồ lẫn lộn giữa lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, giữa Tổ quốc với chế độ xã hội chủ nghĩa,tách Đảng ra khỏi nhân dân hòng phá vỡ khối đoàn kết máu mủ đó. Chúng đã không từ một thủ đoạn thâm hiểm nào xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, hô hào đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp; lợi dụng việc Đảng công khai tự phê bình, kiên quyết đấu tranh chống tệ tham nhũng, họ tìm đủ mọi cách, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm gieo rắc sự hoài nghi, tâm lý bất mãn, sự bất bình trong các tầng lớp nhân dân, gây mâu thuẫn, chia rẽ nhân dân với Đảng.
Hình ảnh
Sau hơn hai mươi năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc
Núp dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “tự do”, “công bằng xã hội”, họ thành lập các tổ chức để tập hợp, lôi kéo quần chúng, phát triển lực lượng chống lại Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhằm thực hiện mưu đồ xóa bỏ hoàn toàn mục tiêu mà toàn Đảng, toàn dân đang hướng tới, họ luôn tìm mọi lý lẽ chứng minh rằng,chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn sai lầm, sự tụt hậu của đất nước là do Đảng đi theo học thuyết Mác – Lênin…lược và cả khi thiết lập được quyền cai trị trên đất nước Việt Nam thì  đã có biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước, nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đó đều bị đè bẹp, bị dìm trong biển máu. Sau nhiều phong trào chống Pháp không đem lại kết quả, Đảng Cộng sản đã gánh vác sứ mệnh giải phóng dân tộc. Những ai hiểu biết về cuộc hiến tranh này, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Đáng lẽ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để xây dựng chế độ mới.
Nhưng thực dân Pháp dã tâm quay trở lại. Trong tình thế vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, tương quan lực lượng bất lợi cho một chính phủ còn non trẻ, chúng ta rất cần một khoảng thời gian để xây dựng lực lượng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh là Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp, nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và thống nhất có điều kiện. Nhưng thực dân Pháp quyết dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ nước ta. Chúng tăng quân trái phép ở miền Bắc,gây ra nhiều vụ xung đột đẫm máu, ra “tối hậu thư” đòi quân, dân ta hạ vũ khí. Vậy thì xin hỏi các nhà “dân chủ”, ở vào tình thế ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xử lý ra sao? Theo cách nói của các vị thì nên tìm một con đường không “không đổ máu”? Xin thưa với các vị, con đường không đổ máu của các vị là chấp nhận làm kiếp nô lệ! Dân tộc này không bao giờ chọn con đường đó!
Xin thưa với các nhà “dân chủ”!  khi thực dân Pháp xâm Devillers đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược, thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”. Tổng thống PhápF. Mitterrand, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam tháng 2-1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại,nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”.Kháng chiến chống lại quân xâm lược là sự lựa chọn đúng theo truyền thống của dân tộc, là một quy luật, không có sự lựa chọn nào khác. Luận điệu “ngậm máu phun người” của các vị rõ ràng là phỉ báng lịch sử. Các vị nói: “Trong khi đội quân xâm lược Pháp lực đã kiệt, thế đã tàn thì lực lượng kháng chiến giành độc lập đã lớn mạnh, đang bừng bừng xốc tới, chỉ dấn thêm một bước là cả nước sạch bóng giặc ngoại xâm. Nhưng những người Cộng sản đặt giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc thì giải phóng dân tộc không phải là mục đích duy nhất và cao nhất của họ. Với ý thức hệ giai cấp, những người Cộng sản Việt Nam coi giải phóng dân tộc không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để họ làm cách mạng vô sản thế giới”. Thật nực cười cho cái lập luận quái gở này.
Trải qua 9 năm kháng chiến với chiến thắng Điện Biên Phủ buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Geneve rút quân về nước. Theo Hiệp định Geneve, tháng 7-1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới, lập “đê chắn làn sóng đỏ” xuống phía nam đã nhảy vào xâm lược, chia cắt lâu dài đất nước ta. Một lần nữa nhân dân ta lại phải đứng lên chống xâm lược. Trên thực tế, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã gây ra “cuộc chiến tranh một phía”. Chẳng những thế, họ còn đe dọa “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”, “giải phóng cố đô rửa hận thù”. Đế quốc Mỹ còn tiến hành “chiến tranh cục bộ”, “chiến tranh phá hoại” đe dọa đưa miền Bắc nước ta trở về “thời kỳ đồ đá”. Không còn con đường nào khác, dân tộc ta phải chấp nhận đương đầu. Chủ  tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Như vậy, chính đế quốc Mỹ là thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của nhân dân Việt Nam đã được lịch sử ghi nhận, lẽ phải chỉ có một, dù các nhà “dân chủ” có cố tình phủ nhận nó.
Lịch sử Việt Nam hơn 80 năm qua đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam trung thành với lợi ích của giai cấp, dân tộc và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; Đảng đã kiên quyết khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn thách thức để đưa đất nước từng bước tiến lên con  đường xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước đã khẳng định sức mạnh và lòng trung thành với lợi ích của giai cấp, dân tộc của Đảng. Chính vì vậy, Đảng được nhân dân tiếp tục tin tưởng và giao trọng trách lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, Xin thưa với các nhà “dân chủ”, Đảng Cộng sản kêu gọi toàn nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vì vậy, chúng ta phải nói một cách dứt khoát, những luận điệu xuyên tạc lịch sử của các nhà “dân chủ”, với ý đồ bôi nhọ, chà đạp trắng trợn lên thành quả cách mạng mà toàn dân tộc phải đánh đổi bằng sinh mạng hàng triệu người con ưu tú, hàng triệu sinh mạng của dân lành cần bị  loại bỏ  ra khỏi đời sống xã hội. Vạch trần luận điệu giả dối, bóp méo, xuyên tạc của những người này chính là để chúng ta khẳng định con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và kiên định đi theo là chân lý.Hỡi các “nhà dân chủ”, các “chiến binh” trên trận tuyến chống phá đất nước, các vị đang bị sống trong ánh “hào quang” của sự tung hô, bơm thổi của các thế lực thù địch chống Việt Nam. Các vị chưa có quá trình tìm hiểu sâu về xã hội dân chủ phương Tây, chưa cảm thụ thực chất cái gọi là “tự do tuyệt đối” như các “chiến hữu” của các vị ở hải ngoại ca ngợi. Tôi vẫn biết, trong nhiều vấn đề, sự phản biện là cần thiết, là đáng hoan nghênh. Nhưng phản biện thế nào, chứ cứ nói ngược với những gì mà trước đây, khi còn  đương chức, đương quyền các vị từng nói, từng làm thì sự “phản biện” ấy ắt sẽ khiến những người có lương tâm cảm thấy khó chấp nhận.Tất nhiên, nói như một triết gia, nhận thức là một quá trình liên tục điều chỉnh, nhưng liệu có khoa học không khi sự “điều chỉnh” ấy xuất phát từ việc vị trí của các vị thay đổi, quyền lợi cá nhân của các vị bị “ảnh hưởng”. Và chẳng lẽ, “tâm huyết” của các vị chỉ thể hiện khi các vị thấy mình sẽ là tâm điểm khi được tung hô trên các trang mạng phản động? Tôi không khỏi giật mình khi nhận thấy rằng, bài viết của các vị tiếng là “đóng góp xây dựng” nhưng thực chất lại thể hiện bản chất “qua cầu rút nhịp”, lộ rõ tâm địa  “vong ơn bội nghĩa”. Lê Quý Đôn, nhà bác học của dân tộc Việt Nam thế kỷ XVIII viết: “Quân tử nghĩ đến điều lợi là lợi chung cho mọi người, tiểu nhân nghĩ đến điều lợi là lợi riêng cho bản thân”. Vậy các vị, vì vị trí, quyền lợi đã thay đổi mà phỉ báng lịch sử bi hùng của cả dân tộc mình, nguyền rủa quá khứ một thời cống hiến của bản thân thì liệu có thể gọi các vị là những người có nhân cách hay không? Các vị đã không tôn trọng ngay cả quá khứ của các vị thì một điều dễ hiểu rằng các vị sẽ không bao giờ tôn trọng những điều hiển nhiên khác.
Các nhà “dân chủ” dù có nói gì đi chăng nữa nhưng sự thật vẫn là sự thật, sự thật về một xã hội ở Việt Nam dưới sự lãnh  đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang từng ngày đổi mới dưới con mắt ái mộ của bạn bè trên thế giới. Dù còn có những hạn chế nhất định trên con đường hoàn thiện mục tiêu lý tưởng, nhưng bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà dân tộc Việt Nam đang theo đuổi là tốt đẹp và ưu việt. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt đó không phải tự nhiên mà có, đó là kết quả của biết bao công sức và cả máu xương hàng triệu người của nhiều thế hệ người Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn. Thử hỏi các nhà “dân chủ” rằng, hàng triệu người đã hy sinh để có ngày độc lập thống nhất như hôm nay, hàng triệu người đã bỏ một phần thân xác trên các chiến trường trong khi các vị đang được ung dung học hành ở một mái trường nào đó, họ có đòi dân tộc này phải “xét lại” lịch sử như các vị không? Chỉ có các vị, những kẻ phản bội lại lý tưởng, những kẻ cơ hội, những kẻ xem máu của những người ngã xuống vì nền độc lập của dân tộc là nước lã mới có những ý nghĩ quái gở như vậy.■
John lee
Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Sống ở đất Mỹ lòng nhớ tết quê

Tác Giả : John Lee
Bài đăng trên tạp chí Nhân Quyền Việt Nam số tết giáp ngọ 2014
Displaying ben me mua xuan.jpg
Chú ơi ! Chú…! Tiếng gọi không lẫn của con bé Hà Thanh du học sinh năm cuối ngành quản trị. Vừa mở cửa cho nó vào thì nó đã liến thoắng: “Chú à ngoài chợ HongKong họ trưng mai và đào đẹp lắm, hàng tết đưa sang bán không thiếu thứ gì… Chú rảnh ra ngoài đó xem đi, hôm nay đã 28 Tết rồi, con sợ người ta mua hết những cành mai đẹp…”. Ôi! Tết đã đến rồi ư? Mới đó mà đã mười tám năm tôi chưa một lần về ăn Tết quê nhà. Những cơn gió bắc cuối đông cuốn lá vàng bay xào xạc trong bộn bề cảm xúc và nôn nao nỗi nhớ. Tôi nhớ bài thơ Quê hương mà tôi yêu thích: “Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày”.Lại một mùa xuân nữa đến. Lại một cái Tết xa quê nữa của những người Việt đang miệt mài rong ruổi khắp hoàn cầu. Chắc tất cả những kẻ tha hương cùng mang một tâm sự viễn xứ như tôi, gặm nhấm nỗi nhớ Tết, nhớ quê. Ở vùng Houston này, nơi gia đình tôi sinh sống đã hơn 20 năm, tuy không đông người Việt như ở Califfornia và  cái lạnh se sắt nhưng Tết cũng nhộn nhịp lắm. Chẳng thiếu thứ gì, bánh chưng xanh, dưa hành, mâm ngũ quả, giò chả, thịt nấu đông… Tết người Việt ở Mỹ giờ cũng đậm đà bản sắc dân tộc và quốc hồn quốc túy lắm. Nhưng cái không khí nó cứ thiếu thiếu, nhàn nhạt làm sao. Có lẽ bởi, nửa vòng trái đất, bên này là thân xác hiện hữu, bên kia đã giữ trọn tâm hồn.Tết ta trên xứ người có gì đâu mà ấm áp. Ở cách xa hàng chục nghìn cây số, trắng xóa những tuyết là tuyết, giữa cái lạnh thấu xương lại càng nhớ quê hương, nhớ người thân, nhớ bạn bè. Kênh truyền hình VTV4, món ăn tinh thần, cầu nối người Việt xa xứ với quê hương, cứ mang mùa xuân chạy ầm ào, nào đào phai miền Bắc, mai vàng miền Nam, quất Phú Thượng, đào Nhật Tân… Tôi nhắm mắt cho những ký ức tuổi thơ tôi ùa về. Tôi nhớ Tết quê tôi ! Quê tôi ở miền Trung.Nắng cháy lưng mà mưa bão cũng rát mặt nên quanh năm nghèo khó. Thời chiến tranh lại càng khổ cực vì đói nghèo, vì chạy đạn bom thế nhưng, mỗi mùa xuân về thì bao nỗi lo âu hình như khuất lấp hẳn, náo nức đón Tết cổ truyền.
Displaying 5785_db453f7d-963a-41dd-926f-1f86f73ef5c3.jpg
Kể từ ngày 20 đến tận chiều 30 tháng Chạp, những phiên chợ họp đều là chợ Tết nên đông vui. Thế nào chúng tôi cũng được mẹ cho đi chợ trong những ngày này. Chợ quê nghèo nhưng khi đó là cả một thiên đường bày ra trước mắt, tôi tha hồ lang thang hết hàng tranh, hàng chữ sang hàng đồ chơi… Ngay từ hồi bé tí ấy tôi  đã bị ám ảnh với hình ảnh ông đồ già ngồi bó gốitrong gian hàng, những bức tranh và câu  đối bầy la liệt dưới nền đất, ít người mua. Mái đầu và chòm râu bạc trắng như cước phất phơ trước gió, ánh mắt buồn xa xăm qua màn mưa xuân lất phất. Hình ảnh ấy làm tôi nhiều lần thấy sống mũi cay cay… Sau này khi lớn hơn chút nữa, đủ sự tinh tế để cảm nhận những dòng thơ “Ông Đồ” của cụ Vũ Đình Liên, tôi mới hay rằng đó là “nỗi nhớ”.Tôi nhớ lắm những chiều 23 Tết, lũ trẻ đứa vác cuốc, đứa cầm bó đuốc rơm lon ton chạy theo người lớn đi khắp các cánh đồng để dọn sạch và thắp hương từng ngôi mộ tổ tiên. Nhớ lắm những ngày trước Tết tụi nhỏ chúng tôi lòng rộn ràng khôn tả,  lấy tro bếp lau lư hương đồng cho thật sáng. Nhớ nhất là chiều 30 Tết, hình ảnh bố cẩn thận sửa soạn ban thờ. Chỉ vài hộp mứt Tết, dăm bảy hộp kẹo và đặc biệt mâm ngũ quả “cây nhà lá vườn”, với nải chuối xanh, cam bưởi vàng ươm, ớt chỉ thiên đỏ rực…Thêm vài nén nhang, khói hương lan tỏa. Mẹ thì tất tưởi ngâm gạo đỗ, rửa lá dong, gói bánh chưng, bánh tét. Lá dong phải lựa lá vừa, không cần to nhưng phải thật tươi xanh mịn màng, tuyệt đối không được lốm đốm hay “hoa dề”(nấm mốc), gói bánh sẽ không ngon và nhanh thiu. Tôi nhớ ngọn lửa hồng tí tách, nồi bánh chưng xanh thơm nứt mũi, chỉ ngồi đưa củi thôi cũng đã thấy khó chịu với cái sự chờ đợi lắm rồi, nhưng lòng thì vẫn cứ lâng lâng vui sướng cảm giác háo hức thức đợi nồi bánh chín để được nhận chiếc bánh dài. Giữa đêm khuya tịch mịch, mùi bánh thơm ngào ngạt, mỗi năm một lần như vậy, tôi đều cảm nhận được cảm giác vui vẻ, thành kính và tinh khiết… khó tả nên lời, cả trăm lần như một.Tôi nhớ những ngày giáp Tết, mấy ông anh họ chọc tiết lợn kêu eng éc, làm cho mỗi nhà một hai cái giò. Mà giò thì ngon đến mức chỉ muốn ngậm ! Hồi đó, đối với những đứa trẻ cơm còn chưa no như chúng tôi, bánh chưng thực sự là một đặc sản mà sau này chúng tôi không bao giờ quên được hương vị tuyệt vời của nó, cũng như ký ức về công việc vớt bánh  đêm giao thừa. Phút giây ấy thấy yêu gia đình mình đến lạ! Tôi nhớ những làn mưa xuân phơi phới vấn vít từng nóc nhà, từng tán lá. Nhớ cái rét ngọt của đất trời. Ở quê, người dân suốt năm suốt tháng lam lũ, chỉ đến Tết bà con mới mặc quần áo mới, mang guốc mộc đi lễ chùa cầu may,đi chúc Tết họ hàng, làng xóm. Ba ngày Tết là thời gian thong thả để mọi người có dịp nghỉ ngơi. Tết Việt là dịp để đoàn viên. Ai đó đã ví rằng, Tết như là một dấu phẩy ngắt nhịp thời gian, ngắt nhịp cuộc sống tất bật để mỗi người trở về nhà, để được sống trong vòng tay ấm áp yêu thương của những người ruột thịt. Tập quán, Tết nhà nào cũng đãi khách bánh chưng, bánh tét với giò lụa, dưa hành. Ở quê tôi, chủ nhà còn đãi khách thêm món bánh tráng cuốn thịt luộc và cơm dưa vá cá kho, là những món ăn đặc biệt của miền. Đó là những cái Tết đẹp đẽ nhất tuổi thơ tôi. Có lẽ, chỉ những ai sinh ra trong một làng quê nghèo thì ký ức những cái Tết nghèo xa xưa mới ám ảnh da diết đến thế, nỗi nhớ Tết quê mới quay quắt đến thế. Nỗi nhớ thôi ư? Không chỉ là nỗi nhớ, biết phải nói thế nào cho tròn vẹn được đây? Chỉ một làn gió nhẹ mang mùi vị của quê nhà với khói bếp, rơm rạ, với mùi trầm ngan ngát cũng đã cột chặt hồn người mãi mãi với ba tiếng “Tết quê nhà”.Cái cảm giác đón Tết  ở xứ  người thật chẳng dễ chịu chút nào. Ở xứ sở này, cuộc sống đầy đủ hơn gấp nhiều lần ở miền Trung quê tôi. Người Việt ở Mỹ, nhiều gia đình vẫn tổ chức nấu bánh chưng Tết, nhưng dường như vị bánh chưng đã nhạt đi nhiều, chứ không đậm đà như bánh quê nhà. Hoặc chỉ cần ra một cái “chợ Việt Nam” hay “chợ Tàu” thì từ giò, bánh chưng đến mứt hạt sen, hạt dưa nhuộm đỏ… cái gì cũng có. Chỉ thiếu mỗi vị Tết quê nhà! Bởi vậy mà trong lòng những người viễn xứ như tôi lại cồn lên như sóng vỗ một nỗi nhớ da diết Tết quê. Những tưởng: “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” sẽ bị cuộc sống tha hương làm cho mờ nhạt. Nhưng không! Biết bao cái Tết đã đi qua, nhưng hình ảnh: “Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu, giấy đỏ” lúc nào cũng ở trong tâm trí tôi.
Displaying 212.jpg
Quê tôi giờ không còn khốn khó như xưa nữa, nhà cao tầng mọc san sát, nhà nhà ngăn cách nhau bởi những bức tường cao ngất ngưởng không còn những mái nhà tranh, những hàng rào râm bụt. Nghe nói ở nông thôn Việt Nam giờ đây, thứ gì cũng có, dịch vụ tận nơi, thậm chí ngay cả mâm cỗ cúng, chỉ cần nhấc máy điện thoại lên là có người mang đến tận nhà… Đâu còn hình ảnh tất bật của các mẹ, cái háo hức của trẻ con.Đâu còn tiếng lợn kêu eng éc, tiếng chày giã giò, mùi lá dong tươi. Tạm nghĩ thế thì liệu Tết ở quê có còn đẹp, còn nguyên bản như ngày xưa không để mà nhớ nhung,hoài tưởng. Vẫn biết văn hóa là những thói quen mang tính đặc trưng, độc đáo nhưng theo thời gian,văn hóa cũng có sự biến thiên,giao hòa nhưng lòng vẫn cứ quay quắt buồn, quay quắt nhớ chuyện Tết xưa. Nơi phương trời Tây, xa quê hương nửa vòng trái đất nhưng lúc nào lòng tôi cũng ấp ủ một ngày về để được thưởng thức đầy đủ cái Tết quê…
Houston, TexasNhững ngày cuối năm
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Chúc Mừng Năm Mới

 

 

 

 


Nhân dịp đầu năm 2014, Ban  biên tập báo Viethaingoai.net xin gửi tới toàn thể bạn đọc và gia đình lời kính chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Hình ảnh

Thưa quý bạn đoc !

Năm 2013 là một năm đặc biệt đánh dấu sự ra đời của tờ báo điện tử Viethaingoai.net, một tờ báo của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Mặc dù mới hoạt động được gần hai tháng nhưng tờ báo đã được bạn đọc ủng hộ nhiệt tình. Với tiêu chí “Sự thật và chân lý không thể đảo ngược” đã mang đến cho bạn đọc trên toàn cầu những thông tin xác thực về quê hương đất nước Việt Nam yêu dấu của chúng ta. BBT đã nỗ lực không ngừng cải thiện về nội dung và chất lượng thông tin truyền tải đến quý bạn đọc để ngõ hầu thỏa mãn nhu cầu về sự đa dạng. Với những bước đi ban đầu sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, chúng tôi luôn luôn lắng nghe những góp ý chân thành của quý bạn đọc làm sao cho tờ báo Viethaingoai.net sẽ là tờ báo “Của chúng ta” như chúng tôi hằng mong muốn. Trên cương vị là Tổng biên tập, tôi hứa sẽ luôn đồng hành với các bạn, lắng nghe và cố gắng bằng tất cả khả năng của mình và hy vọng một năm mới nhiều thành công hơn. Một lần nữa, xin kính chúc toàn thể bạn đọc năm mới SỨC KHỎE – HẠNH PHÚC – AN KHANG – THỊNH VƯỢNG

Trân trọng!

Tổng Biên Tập

John Lee (Amari tx)

Categories: Uncategorized | 2 phản hồi

Không để trái tim đặt nhầm chỗ !

Chúng tôi là những người Việt Nam đang sống tại Hoa Kỳ dù có những chính kiến khác nhau nhưng phần lớn bà con trong cộng đồng đều có tấm lòng hướng về cội nguồn dân tộc. Theo dõi trên mạng xã hội Facebook,blog , các phương tiện truyền thông “mõ làng” như RFA, RFI, VOA,BBC… đăng tải , phỏng vấn cái gọi là “lời kêu gọi biểu tình phản kháng các hành động của Bắc Kinh”. Tại Hoa kỳ các tổ chức chống cộng cực đoan (CCCĐ) hùa theo “té nước theo mưa” cùng “sáng tác” với sản phẩm đặc trưng là kích động chĩa mũi dùi công kích nhà nước Việt Nam nào là: “đàn áp”, “hèn nhát với gặc”, “tàn ác với dân”…vv. Các cá nhân , tổ chức “chống cộng cực đoan” tung lên trên internet bài viết thiếu thiện chí,xuyên tạc , bóp méo, tô vẽ, kích động đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, dù thế nào thì luận điệu của họ vẫn bị mọi người nhận ra bộ mặt thật của họ, suốt 38 năm qua không biết bao nhiêu các tổ chức CCCĐ ra đời và chết yểu như bệnh dịch dù khoác dưới vỏ bọc “yêu nước”. Đã có những bài viết hoặc trả lời trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại về lòng yêu nước từ những định kiến đối với nhà nước Việt Nam hơn là từ suy nghĩ xuất phát từ tấm lòng yêu nước chân chính. Có những người gắn dưới cái mác “nhân sĩ trí thức”, cố diễn giải , viện dẫn, nhận định vu vơ để “biện minh lý do biểu tình” lôi kéo những người khác. Để dẫn chứng tôi lấy một ví dụ trong bài phỏng vấn của “Mõ RFI” Việt ngữ đã trao đổi với một ông luật gia, một trong các đại diện “nhân sĩ trí thức” Sài Gòn đã từng gởi kiến nghị- “tôi thấy là phản ứng của Ấn Độ rồi Indonesia, Philippines – nhất là Philippines – như vậy rất là thỏa đáng. Chúng tôi ủng hộ việc làm, hành động của nhân dân Philippines. Đó là đất nước chịu rất nhiều thiên tai, vừa rồi họ bị cơn bão, mấy trăm người đã mất, nhưng mà đứng về chống bá quyền Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông thì thái độ họ rất là quyết liệt, rất là rõ ràng. Thì chúng ta ít nữa cũng phải như là người dân Philippines chứ không thể nào thụ động ngồi chờ được” ?.

Thật ngạc nhiên khi được nghe những lời phát biểu của vị này khi sử dụng ngôn từ kích động thù hận dân tộc, thậm chí kích động chiến tranh. Họ còn hăng hái phát biểu khi được báo chí nước ngoài phỏng vấn đưa ra những nhận định phiến diện, hồ đồ và các bài viết, bài phỏng vấn của họ được báo chí CCCĐ ở hải ngoại “tung hứng”, “giật tít” với các chức vụ hiện tại hoặc trước đây từng đảm nhiện trong chính quyền. Họ càng viết, càng nói càng nhận ra họ không muốn giữ gìn hòa bình để phát triển đất nước, dường như trong thâm tâm, họ không cần quan tâm tới vận mệnh của dân tộc Việt Nam đang vượt qua mọi khó khăn để giữ gìn sự vẹn toàn của đất nước, để xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh . Họ tìm đủ mọi lý lẽ để kết luận phải đi biểu tình chống nước khác mới là yêu nước?

Một vị hiện đang nắm giữ chức vụ Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM trong cuộc phỏng vấn của “Mõ RFI” nói : nhân dân phải có quyền nói lên sự thật rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam và theo ông, nếu cứ để cho Trung Quốc ” nói láo trước thiên hạ về những điều chúng không có, về những gì chúng cướp giựt của chúng ta …”, là chúng ta “đắc tội với tổ tiên, là đắc tội với các thế hệ mai sau.”? Hoặc có vị với học vị giáo sư có nhiều cuộc phỏng vấn trên các “mõ làng”, ngày 5-12-2012 đã phát biểu trên trang mạng BBC Việt ngữ rằng “Càng ca ngợi cái gọi là “tình hữu nghị” càng biểu tỏ sự lúng túng trong đối sách, hơn nữa, đó chính là sự xúc phạm tinh thần dân tộc, làm cho người dân không hiểu thực chất thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam là thế nào.” và”Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng hiểu điều này. Họ phải tìm cách gỡ thế bí vì lợi ích của dân tộc. Nếu đặt Tổ quốc lên trên hết, họ sẽ gỡ ra được. Nếu không, họ quay lại đối lập với dân, sợ dân biểu tình chống Trung Quốc lại quay ra chống mình.”?

Là người Việt Nam sống xa tổ quốc chúng tôi luôn theo dõi những biến động về chính trị, an ninh, kinh tế đối với quê hương, gần đây, trước những vấn đề nhạy cảm và phức tạp liên quan đến lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, lòng yêu nước và ý thức dân tộc trỗi dậy mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước. Một số “nhân sĩ, trí thức” đã kiến nghị nhà nước cho phép “biểu tình chống Trung Quốc”. Song các thế lực thù địch với Việt Nam và những phần tử chống cộng cực đoan ở hải ngoại nhất là tại Hoa Kỳ ra sức lợi dụng, kích động lôi kéo quần chúng “tham gia biểu tình để biểu thị lòng yêu nước”, vu cáo Nhà nước Việt Nam “thỏa hiệp”, truyền bá về sự đối lập “lòng yêu nước của quần chúng” với “lòng yêu nước của lãnh đạo”, mà thực chất là nhằm làm rạn vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động hằn thù, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước láng giềng, v.v. Trên thực tế cũng có một bộ phận người dân chân chính tham gia vào các hoạt động này với mong muốn thể hiện tình cảm, thái độ của mình đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy những người “đầu tàu” nhất trong việc kích động, kêu gọi và trực tiếp tham gia tuần hành, biểu tình đều là những nhân vật có những “tỳ vết” và bất mãn lý do cá nhân trong quá khứ . Họ luôn “thể hiện” ,”đánh bóng” tên tuổi khi cơ hội đến ,những nhân vật này khi họ luôn được một số trang mạng xã hội trong và ngoài nước tung hô, ca ngợi kiểu “đi tàu bay giấy”.

Vì vậy chúng ta thật dễ hiểu khi họ luôn cho rằng, chỉ có những người tham gia biểu tình, tuần hành là những người có lòng yêu nước. Và trong thực tế, trên các trang mạng họ đã ra sức phỉ báng những người không “xuống đường” giống họ là hèn, là phản bội Tổ quốc. Với cách suy nghĩ như họ thì hóa ra 90 triệu người dân Việt Nam và gần 4 triệu người Việt ở hải ngoại không “xuống đường” cùng họ là không yêu nước? Sự ngộ nhận ấu trĩ đó khiến cho nhiều người dân yêu nước chân chính bị lôi kéo tham gia vào các hoạt động này đã nhanh chóng nhận ra bộ mặt thật của những người này. Theo tôi thì thực tế những gì đã và đang diễn ra trên thế giới cho thấy rằng, một quốc gia dân tộc sẽ mất ổn định về chính trị, xung đột nội bộ xảy ra và lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng nếu bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan. Giáo sư Michio Kaku đã có lý khi cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô là do “không có người cầm lái, không có một cương lĩnh hay một hệ tư tưởng chỉ đạo ngoài chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa bè phái …”

Thể hiện lòng yêu nước phải bắt đầu từ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc xây dựng, phát triển một nền kinh tế quốc dân hùng mạnh, giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc giàu bản sắc nhân văn, từ nền tảng, tinh thần yêu nước phải được nuôi dưỡng trên cái nền tảng văn hóa dân tộc và nền kinh tế vững chắc như cha ông ta thường nói “có thực mới vực được đạo”. Bên cạnh đó, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi một số đối tượng bị kích động, lôi kéo, tập hợp tham gia các hoạt động này là người có những “vướng mắc” với chính quyền, với pháp luật . Tuần hành, biểu tình phản đối Trung Quốc chỉ là hình thức bên ngoài, còn thực chất bên trong là tạo ra những hoạt động tập hợp lực lượng đòi hỏi những điều như “dân chủ, nhân quyền…”chống phá chế độ, gây mất ổn định về đời sống chính trị được bọn phản động lưu vong giật dây. Chính vì vậy ta nhận diện không khó khi xâu chuỗi các sự kiện xảy ra từ cách “bày binh bố trận” cho đến kết quả cuối cùng là “lên án chế độ”. Hùa theo là một số cơ quan truyền thông “Mõ làng” cùng các diễn đàn CCCĐ ở hải ngoại đều cố đua nhau đưa tin kiểu xào nấu, thêm bớt và kèm theo là các gia vị “khách mời”, “bình luận gia” “phân tích, đánh giá” mang gam màu chủ đạo là kích động chống phá đất nước. Lòng yêu nước chân chính trên tinh thần yêu chuộng hòa bình, sự tôn trọng lẫn nhau dựa trên các giá trị mang tính chuẩn mực quốc tế sẽ giúp mỗi quốc gia, mỗi dân tộc giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời bảo đảm hòa bình và sự hưng thịnh của các quốc gia và của toàn nhân loại trong một thế giới toàn cầu hóaChính nhân tố đại đoàn kết dân tộc là hạt nhân tư tưởng, là cội nguồn sức mạnh trường tồn dân tộc và bản sắc riêng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam . Đây là chiếc nỏ thần bách chiến bách thắng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta .

Một đất nước không thể mạnh lên nếu chúng ta không thuận theo xu thế của thời đại. Ở vào những thời điểm đầy thách thức, mỗi người dân cần thể hiện lòng yêu nước của mình bằng những công việc, hành động cụ thể nhằm góp phần xây dựng quốc gia hưng thịnh. Muốn vậy phải phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hơn 90 triệu người Việt Nam chung sức đồng lòng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời tỉnh táo, linh hoạt nhưng kiên quyết gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở những bằng chứng lịch sử, pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng không cho phép bất cứ cá nhân, thế lực nào lợi dụng để hành động đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, lợi ích của đất nước, phá hoại những thành quả cách mạng đã được các thế hệ cha ông dày công vun đắp bằng cả mồ hôi và xương máu. Đúng vậy ! Yêu nước luôn gắn liền với xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Hiểu rõ về kế sách “dĩ bất biến ứng vạn biến” kiên trì với chiến lược hòa bình của người Việt Nam trong việc giải quyết mọi tranh chấp quốc tế, kế thừa và thực hiện sáng tạo tư tưởng của cha ông “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo” để “mở nền thái bình muôn thuở” không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn vì hòa bình, ổn định, hợp tác và cùng phát triển trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Trên bất kỳ phương diện nào, thời kỳ lịch sử nào thì lòng yêu nước phải là một giá trị văn hóa sâu sắc, phù hợp với đạo lý, văn minh chứ không thể là sự ngộ nhận, lạm dụng để đánh bóng tên tuổi hoặc bị lợi dụng.

John Lee

Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Những Nội dung cơ bản của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày 28 tháng 11 năm 2013, với tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (486/488, chiếm 97,59%), Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi là Hiến pháp). Đây là sự kiện chính trị – pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta.

Bản Hiến pháp vừa được Quốc hội Khóa XIII thông qua tạo cơ sở chính trị – pháp lý vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ mới. Đây là bản Hiến pháp vừa kế thừa được các giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992, vừa thể chế hóa các quan điểm, phương hướng, nội dung phát triển đã được khẳng định trong trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) (sau đây gọi là Cương lĩnh).

Với bố cục 11 chương, 120 điều, giảm 1 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện sâu sắc và toàn diện sự đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị; thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quy định rõ ràng, đúng đắn, đầy đủ và khái quát hơn về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước, về hiệu lực và quy trình sửa đổi Hiến pháp. Sau đây là những nội dung cơ bản của Hiến pháp:

1. Về Lời nói đầu

Lời nói đầu của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở chắt lọc, lựa chọn  ý tứ, từ ngữ để nêu bật được một cách ngắn gọn, súc tích tinh thần, nội dung của Hiến pháp, phản ánh được lịch sử hào hùng của dân tộc, những mốc lịch sử quan trọng, thành quả cách mạng to lớn mà Nhân dân ta đã đạt được. Ngay từ Lời nói đầu, Hiến pháp đã thể hiện rõ mục tiêu dân chủ và khẳng định chủ quyền của Nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Về chế độ chính trị (Chương I)

Chương I của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở sửa đổi tên Chương I của Hiến pháp năm 1992 (Nước Cộng  hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Chế độ chính trị) và gộp với Chương XI của Hiến pháp năm 1992 (Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh) vì đây là những nội dung gắn liền với chế độ chính trị của quốc gia. Về cơ bản, Hiến pháp tiếp tục kế thừa, khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị đã được xác định trong Cương lĩnh và Hiến pháp năm 1992; đồng thời làm rõ hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn các vấn đề sau đây:

- Khẳng định Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời (Điều 1).

- Tiếp tục thể hiện xuyên suốt, nhất quán quan điểm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” nhưng bổ sung một điểm mới quan trọng đó là: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ (Điều 2).

- Kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân nhưng bổ sung và phát triển nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) theo tinh thần của Cương lĩnh. Đây là điểm mới quan trọng của Hiến pháp so với các bản Hiến pháp trước đây vì lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, nguyên tắc “kiểm soát quyền lực” được ghi nhận trong Hiến pháp. Kiểm soát quyền lực là nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền để các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực thi có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp và pháp luật, tránh việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực. Nguyên tắc này đã được thể hiện trong các Chương V, VI, VII, VIII và IX của Hiến pháp và tạo cơ sở hiến định cho việc tiếp tục thể chế hóa trong các quy định của các luật có liên quan.

- Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp” được ghi nhận và phát triển thành nguyên tắc trong Hiến pháp. Theo đó, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6) mà không chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm 1992. Nguyên tắc này được thể hiện nhất quán trong toàn bộ Hiến pháp, từ chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đến các thiết chế trong bộ máy nhà nước cũng như trong việc sửa đổi Hiến pháp.

- Tiếp tục kế thừa quy định tại Điều 4 của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp tiếp tục khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp có sự bổ sung và phát triển quan trọng vì đã khẳng định và làm rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Chính do bản chất và nền tảng tư tưởng của Đảng như vậy nên Nhân dân ta thừa nhận vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng và ghi nhận vào Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước. Đồng thời, Hiến pháp đã bổ sung vào Điều 4 quy định về trách nhiệm của Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Sự bổ sung này thể hiện bản chất tiên phong, cách mạng, quy định rõ trách nhiệm chính trị – pháp lý của Đảng đối với Nhân dân và chính vì vậy, Nhân dân ta mới giao trọng trách cho Đảng là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Bên cạnh đó, Hiến pháp không chỉ khẳng định các tổ chức của Đảng mà còn quy định trách nhiệm của đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

- Hiến pháp tiếp tục khẳng định “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5). Đây cũng là điểm mới quan trọng so với Hiến pháp năm 1992.

- Tiếp tục khẳng định và thể hiện rõ hơn tư tưởng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong Lời nói đầu, trong quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn (Điều 9, Điều 10) và trong các điều khoản cụ thể khác của Hiến pháp. Cụ thể, Hiến pháp tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1992 quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân nhưng bổ sung vai trò của Mặt trận trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, giám sát, phản biện xã hội; đồng thời tiếp tục khẳng định trách nhiệm của Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 9). Tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1992 về Công đoàn, Hiến pháp đã bổ sung vai trò, trách nhiệm của Công đoàn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước (Điều 10). Bên cạnh đó, Hiến pháp có sự bổ sung, phát triển quan trọng trong việc ghi nhận vị trí, vai trò của Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị – xã hội nòng cốt trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình, cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoản 2 Điều 10).
- Sửa đổi, bổ sung chính sách đối ngoại của nước ta cho phù hợp với tình hình mới; khẳng định nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới (Điều 12).

3. Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương II)

Chương II của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại Chương V của Hiến pháp năm 1992 (Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) thành Chương: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và đặt trang trọng sau Chương I – Chế độ chính trị. Đồng thời, chuyển các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân tại các chương khác của Hiến pháp năm 1992 về Chương này. Sự thay đổi về tên gọi và bố cục này nhằm khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới có những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân sau đây:

- Khẳng định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14). Quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Bởi vì, Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân (Điều 50). Hiến pháp đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 14). Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà phải “theo quy định của luật”.

- Khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo hướng: quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15).

- Tiếp tục làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Đồng thời, Hiến pháp sắp xếp lại các điều khoản theo các nhóm quyền để bảo đảm tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, bảo đảm tính khả thi hơn.

- Bổ sung một số quyền mới là thành tựu của gần 30 năm đổi mới đất nước; thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân.  Đó là quyền sống (Điều 19), quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36), quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), quyền xác định dân tộc (Điều 42), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43),… Việc ghi nhận các quyền mới này hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên, thể hiện sự nhận thức ngày càng rõ hơn về quyền con người và khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện quyền con người.

- Tiếp tục kế thừa các nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 như nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44), nghĩa vụ quân sự (Điều 45), nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46); riêng nghĩa vụ nộp thuế được sửa đổi về chủ thể là mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định (Điều 47) mà không chỉ công dân có nghĩa vụ nộp thuế như Hiến pháp năm 1992.

- Về cách thức thể hiện, Hiến pháp có sự đổi mới quan trọng theo hướng Hiến pháp ghi nhận mọi người có quyền, công dân có quyền; quyền con người là quyền tự nhiên, bất cứ ai cũng có quyền đó; quyền công dân là quyền của những người có quốc tịch Việt Nam. Để mọi người, công dân thực hiện các quyền của mình thì Hiến pháp quy định trách nhiệm của Nhà nước là phải ban hành luật hoặc pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người và công dân thực hiện tốt các quyền của mình.

4. Về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường (Chương III)

Chương III của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở gộp Chương II – Chế độ kinh tế và Chương III – Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ của Hiến pháp năm 1992 nhằm thể hiện sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường.

4.1. Về kinh tế

Hiến pháp đã làm rõ hơn tính chất, mô hình kinh tế (Điều 50, Điều 51), vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (Điều 52), tài sản công thuộc sở hữu toàn dân (Điều 53), việc quản lý và sử dụng đất đai (Điều 54) và bổ sung một điều mới (Điều 55) về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và các nguồn tài chính công khác; cụ thể như sau:

- Về tính chất, mô hình nền kinh tế: Trên cơ sở kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp quy định nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Điều 50). Quy định như vậy vừa thể hiện được bản chất, vừa thể hiện được động lực và mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội.

- Về các thành phần kinh tế: Hiến pháp quy định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo (Điều 51); khẳng định Nhà nước và kinh tế nhà nước có vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hiến pháp không nêu cụ thể tất cả các thành phần kinh tế như Hiến pháp năm 1992. Cách thể hiện này phù hợp với tính chất quy định của đạo luật cơ bản, còn tên gọi và vai trò của từng thành phần kinh tế sẽ được xác định trong luật và các chính sách cụ thể của Nhà nước. Hiến pháp quy định các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật (Điều 51). Lần đầu tiên, vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân được ghi nhận trong Hiến pháp (khoản 3 Điều 51). Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải hoạt động theo cơ chế thị trường, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp, các cơ chế, chính sách tạo ra sự bất bình đẳng.

- Về các hình thức sở hữu: Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng đa dạng hình thức sở hữu, bảo hộ quyền sở hữu tư nhân cả về tư liệu sản xuất, các quyền tài sản và sở hữu trí tuệ. Kế thừa và phát triển quy định về sở hữu toàn dân trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp tiếp tục khẳng định đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53).

- Về quản lý và sử dụng đất đai: Đất đai là lãnh thổ thiêng liêng của quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước. Vì vậy, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Hiến pháp bổ sung quy định “quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” (khoản 2 Điều 54) để thể hiện thái độ tôn trọng, bảo vệ của Nhà nước đối với quyền sử dụng đất của công dân, vừa tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục phòng, chống và xử lý nghiêm minh các trường hợp sai phạm trong thực hiện pháp luật về đất đai. Hiến pháp quy định Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (khoản 3 Điều 54). Trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay, vẫn cần thiết phải thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, để tránh tình trạng thu hồi đất tràn lan, tùy tiện, Hiến pháp quy định việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội gắn trực tiếp với các mục tiêu vì lợi ích quốc gia, công cộng; việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 54). Hiến pháp bổ sung quy định về trưng dụng đất có thời hạn trong một số trường hợp đặc biệt như chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh, trường hợp phải đối phó với nguy cơ hoặc khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh (khoản 4 Điều 54) để thống nhất với quy định tại Điều 32 của Hiến pháp về trưng dụng tài sản, đồng thời làm cơ sở cho việc cụ thể hóa các quy định về trưng dụng đất trong Luật đất đai và các luật có liên quan.

- Về tài chính công: Hiến pháp bổ sung một điều quan trọng về chính sách tài chính công (Điều 55) nhằm khẳng định vai trò của tài chính công, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức sử dụng tài chính công và tạo cơ sở hiến định cho việc thiết lập kỷ luật tài chính. Theo đó, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia. Các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán và do luật định.

4.2. Về xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường

Hiến pháp cơ bản kế thừa những nội dung về từng lĩnh vực này trong Hiến pháp năm 1992 nhưng được thể hiện một cách tổng quát, mang tính nguyên tắc, còn những vấn đề và chính sách cụ thể sẽ do luật định (các Điều 57, 58, 59, 60, 61, 62 và 63); cụ thể như sau:

- Về chính sách lao động: Hiến pháp quy định Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định (Điều 57).

- Về chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân: Hiến pháp quy định Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình (Điều 58).

- Về chính sách xã hội: Kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp tiếp tục quy định Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước; Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác (Điều 59).

- Về chính sách văn hóa: Hiến pháp tiếp tục quy định Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân (Điều 60).

- Về chính sách giáo dục: Hiến pháp quy định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý; Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề (Điều 61).

- Về chính sách khoa học và công nghệ: Hiến pháp quy định phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ (Điều 62).

- Về chính sách bảo vệ môi trường: Kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp quy định Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại (Điều 63).

5. Về bảo vệ Tổ quốc (Chương IV)

Trên cơ sở giữ nội dung và bố cục của Chương IV của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp xác định bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, phải được thể hiện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Hiến pháp khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, sự gắn kết giữa nhiệm vụ đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong việc xây dựng đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện nghĩa vụ quốc tế và góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

6. Về bộ máy nhà nước

Tiếp tục kế thừa bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy nhà nước trong Hiến pháp năm 1992, thể chế hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp định danh và làm rõ hơn nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; xác định rõ hơn chức năng, thẩm quyền của cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và điều chỉnh lại một số nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này; bổ sung một số thiết chế hiến định độc lập là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước.

6.1. Về Quốc hội (Chương V)

Vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cơ bản giữ như quy định của Hiến pháp năm 1992; đồng thời, có sửa đổi, bổ sung để phù hợp với chức năng của cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp và mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; cụ thể như sau:

Về Quốc hội:

- Sửa đổi, bổ sung Điều 83 của Hiến pháp năm 1992, khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69).

- Quy định rõ, khả thi và phù hợp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước (khoản 3 Điều 70) để xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm, quyền quyết định của Quốc hội và quyền quản lý, điều hành của Chính phủ.

- Tiếp tục quy định Quốc hội quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; bổ sung thẩm quyền Quốc hội quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ (khoản 4 Điều 70).

- Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (khoản 7 Điều 70) để phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình Tòa án nhân dân, làm rõ hơn vai trò của Quốc hội trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đồng thời nâng cao vị thế của Thẩm phán theo tinh thần cải cách tư pháp.

- Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc giám sát, quy định tổ chức và hoạt động, quyết định nhân sự đối với Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập (các khoản 2, 6, 7 và 9 Điều 70).

- Tiếp tục quy định việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (khoản 8 Điều 70).

- Quy định rõ và hợp lý hơn các loại điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn hoặc bãi bỏ của Quốc hội (khoản 14 Điều 70). Đó là những điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội.

- Hiến định thẩm quyền của Quốc hội trong việc thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định được quy định tại Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Luật tổ chức Quốc hội (Điều 78). Đồng thời, bổ sung quy định giao Quốc hội quyết định việc thành lập, giải thể Ủy ban của Quốc hội (Điều 76).

Về Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

- Hiến pháp làm rõ hơn thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với tư cách là cơ quan thường trực của Quốc hội (Điều 73); chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội (khoản 5 Điều 74);

- Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 8 Điều 74). Việc điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính là vấn đề quan trọng, không chỉ liên quan đến việc thay đổi về địa giới hành chính mà còn liên quan đến vấn đề tổ chức bộ máy, nhân lực, tài chính, đặc biệt là phải bảo đảm thể hiện được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương. Do đó, vấn đề này cần được Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân quyết định. Do đặc thù Quốc hội nước ta hoạt động không thường xuyên, khối lượng công việc trong các kỳ họp là khá lớn nên Hiến pháp giao thẩm quyền này cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội – cơ quan thường trực, hoạt động thường xuyên của Quốc hội là hợp lý;

- Bổ sung thẩm quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước (khoản 6 Điều 74);

- Bổ sung thẩm quyền phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 12 Điều 74). Bởi vì, vị trí của đại sứ là đại diện đặc mệnh toàn quyền của nước ta ở nước ngoài nên việc quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn để Chủ tịch nước bổ nhiệm, cử, triệu hồi đại sứ là cần thiết. Quy định này cũng là sự kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.

Về Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội:

Xuất phát từ tính chất hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, cũng như yêu cầu của công tác cán bộ ở nước ta, Hiến pháp quy định theo hướng Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban; còn Phó Chủ tịch Hội đồng và Ủy viên Hội đồng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban và Ủy viên Ủy ban do Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn (Điều 75, Điều 76). Đồng thời, Hiến pháp quy định rõ hơn về quyền yêu cầu cung cấp thông tin và bổ sung quyền yêu cầu giải trình của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (Điều 77).

Về đại biểu Quốc hội:

Hiến pháp tiếp tục quy định vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; đồng thời, khẳng định đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu và bổ sung quy định đại biểu Quốc hội có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội.

6.2. Về Chủ tịch nước (Chương VI)

Hiến pháp tiếp tục giữ các quy định của Hiến pháp năm 1992 về vị trí, vai trò của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Cách thể  hiện như vậy phù hợp với bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị của nước ta do Đảng lãnh đạo. Hiến pháp sắp xếp, bổ sung để làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; cụ thể như sau:

- Trong mối quan hệ với Quốc hội: Giữ quy định về thẩm quyền công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh và đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh như quy định của Hiến pháp năm 1992 (khoản 1 Điều 88);

- Trong mối quan hệ với Chính phủ: Giữ quy định về thẩm quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (khoản 2 Điều 88); làm rõ hơn thẩm quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ, yêu cầu Chính phủ bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước (Điều 90)…;

- Trong mối quan hệ với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân: Giữ quy định về thẩm quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (khoản 3 Điều 88); làm rõ hơn thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội; bổ sung nhiệm vụ, thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán các Tòa án khác để phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp (khoản 3 Điều 88)…;

Đồng thời, Hiến pháp bổ sung và làm rõ hơn thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc quyết định đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế hoặc quyết định phê chuẩn, gia nhập điều ước quốc tế theo thẩm quyền do Quốc hội quy định (khoản 6) thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (khoản 5 Điều 88). Hiến pháp cũng bổ sung quy định mới về Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch có quyền quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới (Điều 89).

6.3. Về Chính phủ (Chương VII)

Hiến pháp tiếp tục kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 về vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và bổ sung quy định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp (Điều 94).

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ: kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới đã sắp xếp, cơ cấu lại nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ cho phù hợp với vị trí, chức năng của Chính phủ với tính chất là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và cơ quan thực hiện quyền hành pháp và bổ sung, điều chỉnh những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Bổ sung thẩm quyền đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành pháp quy định tại Điều 96 của Hiến pháp.

- Phân định rõ thẩm quyền của Chính phủ trong việc tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70 của Hiến pháp.

Về Thủ tướng Chính phủ: Hiến pháp sắp xếp, cơ cấu lại nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm tương thích với nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; làm rõ hơn thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia; bổ sung thẩm quyền quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 98).

Về Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ: Hiến pháp làm rõ hơn mối quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ. Nhằm tăng cường trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hiến pháp quy định các thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ (Điều 95). Hiến pháp bổ sung quy định “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý” (khoản 2 Điều 99).

6.4. Về Tòa án nhân dân (Chương VIII)

Trên cơ sở tiếp tục kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân, Hiến pháp bổ sung quy định Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102). Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (khoản 3 Điều 102); sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức Tòa án (khoản 2 Điều 102) cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp theo hướng không xác định cấp Tòa án cụ thể trong Hiến pháp mà để luật định, làm cơ sở hiến định cho việc tiếp tục đổi mới hoạt động tư pháp, phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.

Đồng thời, Hiến pháp không quy định việc thành lập các tổ chức thích hợp ở cơ sở để giải quyết các tranh chấp nhỏ trong nhân dân như Điều 127 của Hiến pháp năm 1992 mà để luật quy định. Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án, theo yêu cầu cải cách tư pháp, Hiến pháp đã sắp xếp và bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm (Điều 103).

6.5. Về Viện kiểm sát nhân dân (Chương VIII)

Hiến pháp tiếp tục kế thừa và khẳng định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như Hiến pháp năm 1992 (khoản 1 Điều 107). Đồng thời, thể chế hóa yêu cầu về đổi mới hệ thống tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và để phù hợp với mô hình Tòa án nhân dân, Hiến pháp đã sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức Viện kiểm sát cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp (khoản 2 Điều 107).

Hiến pháp bổ sung và làm rõ hơn nguyên tắc “khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát” (khoản 2 Điều 109).

6.6. Về chính quyền địa phương (Chương IX)

Chương IX của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở đổi tên Chương IX (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) của Hiến pháp năm 1992 và quy định một cách tổng quát về phân chia đơn vị hành chính, còn những vấn đề về tổ chức, thẩm quyền của từng cấp chính quyền địa phương sẽ do luật định. Cụ thể như sau:

- Về đơn vị hành chính: Hiến pháp tiếp tục kế thừa quy định của Hiến pháp hiện hành về các đơn vị hành chính nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, ổn định trong cấu trúc hành chính ở nước ta; đồng thời bổ sung quy định về đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, đơn vị hành chính tương đương với quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó, nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường; đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập (Điều 110).

- Về tổ chức chính quyền địa phương: Hiến pháp quy định khái quát theo hướng: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định” (Điều 111). Việc tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cụ thể ở từng đơn vị hành chính sẽ được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở tổng kết việc thực hiện chủ trương của Đảng thí điểm một số nội dung về tổ chức chính quyền đô thị và kết quả tổng kết thực hiện Nghị quyết 26 của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và các nguyên tắc phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương.

- Về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương: Hiến pháp quy định chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó (Điều 112).

- Về địa vị pháp lý và chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương: Kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp tiếp tục khẳng định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, các vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương (Điều 113). Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên (Điều 114). Hiến pháp cũng sắp xếp lại và làm rõ hơn tính chất, trách nhiệm, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân để phù hợp với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thống nhất và mối quan hệ giữa trung ương và địa phương trong tình hình mới (Điều 113, Điều 114).

6.7. Về Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước (Chương X)

Để làm rõ hơn quyền làm chủ của Nhân dân, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp bổ sung 2 thiết chế hiến định độc lập vào Chương X gồm Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước.

- Về Hội đồng bầu cử quốc gia: Hiến pháp bổ sung thiết chế Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (Điều 117). Việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia nhằm góp phần thể hiện tính khách quan trong chỉ đạo tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Về Kiểm toán nhà nước: Hiến pháp hiến định địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước trong Hiến pháp để tăng cường vị thế và trách nhiệm của cơ quan Kiểm toán nhà nước. Đây là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, có chức năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công (Điều 118).

Do các cơ quan này là những thiết chế hiến định mới nên Hiến pháp chỉ quy định một cách tổng quát, còn các vấn đề cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, số lượng thành viên và nhiệm kỳ của thành viên của các cơ quan này do luật định.

7. Về hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp (Chương XI)

Hiến pháp tiếp tục khẳng định Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất; mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp; đồng thời, bổ sung và quy định rõ mọi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý cũng như trách nhiệm của Quốc hội và các cơ quan nhà nước cũng như toàn dân trong việc bảo vệ Hiến pháp (Điều 119).

Về quy trình sửa đổi Hiến pháp, Hiến pháp đã cụ thể hóa các quy định về thẩm quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp, thủ tục soạn thảo Hiến pháp, quy trình thông qua Hiến pháp (Điều 120). Theo đó, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định (Điều 120). Đây là một điểm mới quan trọng, thể hiện chủ quyền của Nhân dân.

8. Về kỹ thuật lập hiến

Để Hiến pháp thực sự là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có tính ổn định lâu dài, Hiến pháp chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc cần thể hiện khái quát, cô đọng, súc tích. Theo đó, những vấn đề về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước được quy định rõ trong Hiến pháp còn quy trình, thủ tục, cách thức tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ cần để luật điều chỉnh. Một số chủ trương, chính sách cụ thể về phát triển ngành, lĩnh vực (kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, y tế, thể dục, thể thao) không quy định trong Hiến pháp mà để luật điều chỉnh để bảo đảm tính linh hoạt trong bổ sung, hoàn chỉnh chủ trương, chính sách và trong quản lý, điều hành.

9. Về hiệu lực của Hiến pháp và việc thi hành Hiến pháp

Để có căn cứ pháp lý cho việc triển khai thi hành Hiến pháp mới, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 64/2013/QH13 quy định một số điểm thi hành Hiến pháp, trong đó quy định rõ thời hạn công bố chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày thông qua, thời điểm Hiến pháp mới có hiệu lực là từ ngày 01/01/2014, đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp, trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp nhằm bảo đảm Hiến pháp được tuân thủ và chấp hành nghiêm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Bộ Mặt Thật Của Các Nhà “Dân Chủ”

 

        Một số phần tử cơ hội, bất mãn cá nhân, thành phần “trở cờ” trong đó có cả những người nhẹ dạ ở trong nước và tổ chức cực đoan nước ngoài đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước CHXHCNVN. Chiêu bài đó được một số tổ chức không có thiện chí với Việt Nam, các cơ quan truyền thông việt ngữ ở nước ngoài  bơm, thổi phụ  họa. Đây là việc làm sai trái cần đấu tranh, phê phán và vạch mặt kịp thời để mọi người thấy được bộ mặt thật của họ, nhằm góp phần bảo vệ sự ổn định của Đất nước xây dựng Tổ quốc dân chủ và phồn vinh.

 Hình ảnh nội tuyến 1

 Internet- Tốc độ phát triển “thần kỳ” ở Việt Nam

Gần đây, một số người đã có những bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, thóa mạ những thành tựu mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã đạt được kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành. Vậy họ là ai? Đó là một số người có quan điểm chính trị cơ hội một cách rõ ràng, có hiểu biết, có một thời gian nắm một số vị trí trong hệ thống chính trị, họ có tham vọng chính trị lớn, trong đó có cả những người có chức sắc tôn giáo, một số người bất mãn, một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường lầm lạc.Thông qua Internet, các blogger, họ đã cấu kết với nhau phát tán trên các mạng truyền thông việt ngữ ở nước ngoài như VOA- RFA-RFI- BBC, tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, vu cáo, bôi đen chế độ ở Việt Nam.

Nhìn vào các bài viết của họ ta có thể thấy rằng ,nói chung, mục tiêu chủ yếu của họ vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công trực diện vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng CSVN đang lãnh đạo toàn diện. Họ tìm mọi cách bóp méo, suy diễn, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam bất chấp lẽ phải,cường điệu hóa một vài vụ việc liên quan đến pháp luật từ đó họ hồ đồ kết luận là: đó là “Bản chất” của chế độ. Không những thế họ còn mạnh miệng bôi nhọ quá khứ cách mạng một cách vô liêm xỉ, chà đạp lên giá trị truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng mà Đảng và nhân dân Việt Nam dành cho các anh hùng liệt sĩ đã vì nước hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng như “có cần thiết hay không khi Đảng phát động toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ”? hay “Nếu không có Đảng CSVN thì dân tộc này đã ở một vị thế khác…” !?..vv… xuyên tạc lịch sử, hòng chia rẽ Đảng với Nhà nước; cô lập, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, kích động một số thành phần mà họ cho là “Nhạy cảm” dễ thâm nhập nhất đó là: trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh, kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn vì trước khi còn đang làm việc đã có một số vấn đề mà không được “Thỏa mãn”  cái “tôi” của họ nay đã hạ cánh thì “Trở cờ” hòng thực hiện ý đồ “trong biến thì phất cờ”. Họ nhắm vào điểm cốt yếu đó là: chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ các vùng, miền trên đất nước với âm mưu thâm hiểm hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hướng tới mục đích cuối cùng là làm suy yếu Đảng, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái  nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác mà theo lý luận của họ là sẽ “Dân chủ hơn, sáng sủa hơn” !? Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua gần 30 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”. Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên!”

Họ đã lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để nhen nhóm tổ chức ra những đảng phái; thảo ra những “điều lệ”, “tuyên ngôn”, “cương lĩnh” và đề ra những hình thức, phương pháp hoạt động, hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống phá Nhà nước, chế độ, gây mất  ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đó chính là bộ mặt thật của cái gọi là “những tổ chức đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” và đó cũng chính là những hành động vi phạm pháp luật. Việc xét xử nghiêm minh những người vi phạm pháp luật là việc làm bình thường, theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Một số thế lực ở nước ngoài tìm cách tiếp tay, kích động những phần tử chống phá Nhà nước và chế độ. Khi các phần tử này bị xử lý theo pháp luật thì họ kêu la, hò hét rằng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng,  đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến. Đó là sự xuyên tạc thô bạo, đổi trắng thay đen nhằm che giấu những âm mưu đen tối của họ.

Để đạt mục tiêu đó, họ thực hiện sự kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nước, nhưng hướng chính là khơi dậy từ bên trong, tiến tới xây dựng lực lượng chống đối từ trong nước, tạo dựng “Ngọn cờ”, nhân vật “Nòng cốt”, chờ thời cơ để thành lập các tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản. Phụ họa theo các nhà “Dân chủ, nhân quyền” có các tổ chức gọi là “Theo dõi nhân quyền” thường sản xuất ra những cái gọi là: “Nghị quyết”, “Báo cáo” về tình hình tự do, nhân quyền trên thế giới trong đó có Việt Nam, họ đòi áp đặt cho Việt Nam những khái niệm về “Tự do, dân chủ” theo kiểu của họ, bất chấp tính đặc thù của quốc gia đó. Mỗi dịp như vậy các nhà “Dân chủ” trong nước được dịp thể hiện cái gọi là “Bức xúc” trước “Thảm trạng” về tự do, dân chủ, nhân quyền trong nước. Một loạt các đối tượng đưa ra xét xử như: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê công Định, Lê Thăng Long, Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Trần, Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Nguyễn Phương Uyên…. những người vi phạm đó chỉ vì một chút định kiến, động cơ cá nhân không trong sang đưa ra những thông tin méo mó, bôi đen sự thật về xã hội Việt Nam, họ liên hệ với những tổ chức, phần tử người việt chống cộng cực đoan ở hải ngoại chống đối nhà nước Việt Nam, đòi lật đổ chế độ hiện hành. Nhiều vị luật sư bào chữa cho các bị cáo nói rằng: Những người này không phạm luật vì họ đã sử dung quyền tự do ngôn luận của mình !? vậy có phải đây là một lập luận đúng? Xin thưa rằng: đó là điều hoàn toàn sai lầm, thực ra ở đây họ đánh tráo khái niệm này. Vấn đề là ở chỗ, trong luật quốc gia và luật quốc tế thì quyền tự do ngôn luận (Và nhiều quyền khác) không phải là quyền “tuyệt đối” như các vị biện minh, ngụy biện cho hành vi phạm pháp của mình mà là những quyền có giới hạn, nói một cách khác là quyền bị hạn chế. Trong công ước Quốc tế về quyền con người, tại khoản 3 điều 19 quy định: “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định. Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Như vậy là việc các bị cáo dựa vào luật quốc tế về quyền con người để biện hộ cho mình là sai, họ đã phớt lờ về khoản 3 điều 19 liên quan đến tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận của các bị cáo thì điều 88 bộ luật hình sự 1999 quy định: “Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN:

1.  Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng  hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến 12 năm:

a. Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân…

c. Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”..

Việc các bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng không có bằng chứng về hậu quả của hành vị phạm tội của các bị cáo là không có cơ sở pháp lý. Tội “tuyên truyền” vốn là tội phạm mang tính chất “bất bạo động” theo cách nói của mấy nhà “luật học mạng”, blogger. Các vị đòi hỏi phải có bằng chứng về hậu quả của những tội phạm này gây ra ư? chẳng lẽ nhà nước Việt Nam phải ngồi chờ đến khi nào luồng gió sặc “Mùi hoa” như việc đã xảy ra ở Trung đông, bắc phi thì mới có cái gọi là “bằng chứng” như các vị yêu cầu? Xin thưa hậu quả việc phạm tội của các bị cáo đó là: bạo loạn, lật đổ chính quyền, nội chiến, là sự can thiệp của nước ngoài.vv… Trên thế giới không có một quốc gia nào quy định chứng cứ về hậu quả xã hội của loại tội phạm này. Ngay tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ  cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Như vậy là với chứng cứ mà các bị cáo khai nhận tại tòa “Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài lieu có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã đủ cấu thành tội phạm và chiếu theo luật hiện hành, thì mức án mà các bị cáo này phải nhận là đúng người, đúng tội, điều này không thể chối cãi được. Xã hội chính trị lành mạnh luôn hướng dẫn, khích lệ, cổ vũ những động lực đúng đắn của mỗi cá nhân, khi cá nhân đó hành động với động cơ phù hợp với ợi ích chung của cộng đồng thì khi ấy xung đột xã hội sẽ giảm thiểu, tạo ra sự hài hòa, đồng thuận cùng tồn tại và phát triển, ngược lại những cá nhân đi ngược lại dòng phát triển chung sẽ bắt buộc xá định lại nhu cầu của mình nếu không sẽ bị đào thải và bị pháp luật trừng phạt, quyền tự do bị tước đoạt. Thực tế cho chúng ta thấy rằng: không tránh khỏi có những ý kiến khác nhau trong các tầng lớp trong xã hội và khác với quan điểm, đường lối của Đảng. Đó cũng là lẽ bình thường không có điều gì “Ghê gớm”  vì như chúng ta đã biết nhận thức là một quá trình, chân lý cũng là một quá trình. Do nhiều yếu tố tác động nên không tránh khỏi có những ý kiến, cách tiếp cận khác với đường lối, quan điểm của Đảng. Nhưng phải là những ý kiến đóng góp chân thành chứ không phải là quan điểm chống lạị.

Và một thực tế không thể phủ nhận được đó là: Từ một nước thuộc địa, dân bị nô lệ, chúng ta đã giành được cái nhân quyền lớn nhất là quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ một nước nghèo, lạc hậu, chúng ta đã phấn đấu xóa đói, giảm nghèo, nâng trình độ phát triển kinh tế lên ngày một khá hơn. Từ một nước có mặt bằng dân trí thấp, Việt Nam đã là một quốc gia có trình độ văn hóa phổ thông cao hơn mức trung bình của thế giới và là quốc gia đạt chỉ số  phát triển con người (HDI) vào hàng cao so với nhiều quốc gia khác.Đời sống nhân dân trong nước được cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được giữ vững, xã hội ổn định, vị thế Việt Nam không ngừng được nâng cao, là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước trong đó có cả cường quốc trước đây là “Cựu thù”. Rõ ràng, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Việt Nam giờ đây là địa chỉ tin cậy cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài, báo chí quốc tế đã phản ánh nhiều điều “mắt thấy tai nghe” của du khách quốc tế viếng thăm đất nước sôi động và trẻ trung sau khi tới Việt Nam hòa mình vào cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân ở nhiều góc cạnh. Việt Nam ngày nay chứng tỏ là một quốc gia thiên đường cho du khách quốc tế. Sẽ là hết sức sai lầm nếu ai còn tin vào những điều ma muội của những kẻ luôn gắn hình ảnh Việt Nam với chiến tranh và sự nghèo đói, mất tự do, dân chủ và bị “kềm kẹp” dưới chế độ “Cai trị của Đảng CS”. Ngược lại, có đến mới biết Việt Nam xinh đẹp và thân thiện và người dân luôn được pháp luật bảo hộ quyền công dân một cách đầy đủ và mang tính nhân văn nhất. Chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ Ông John Kerry ngày 14-12-2013 đã nói lên điều kỳ diệu này “Không ai không ngạc nhiên khi thấy VN hiện đại đã thay đổi thế nào chỉ trong 20 năm. Thật đáng kinh ngạc” – ông nói và nhấn mạnh “đây không phải ngẫu nhiên, mà có sự cam kết và tầm nhìn của rất nhiều người” Ông dẫn chứng: “Kim ngạch thương mại song phương của chúng ta đã tăng 50 lần kể từ năm 1995 lên 25 tỉ USD/năm. Chúng ta sắp đạt mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ sang VN như tuyên bố của Tổng thống Obama năm năm trước”. Đất nước từng bị cô lập vì cấm vận cách đây hơn 20 năm giờ “có thể là một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Mỹ tại khu vực và chúng ta sẽ cố để thực hiện điều đó”. Còn ông Fred Burke, giám đốc điều hành của Hãng luật Baker McKenzie và là người từng ở VN gần 20 năm, thừa nhận những gì ngoại trưởng Mỹ nói. “Những gì ông nói hoàn toàn đúng những gì tôi đã trải qua. Giờ rất nhiều thứ chúng ta xem nhẹ khi nghĩ lại VN đã thay đổi thế nào, từ điện thoại di động cho đến chất lượng cuộc sống” – ông Burke nói. Theo ông, VN giờ đây là “một cơ hội” cho người Mỹ khi rất nhiều người trẻ muốn sang VN để làm các lĩnh vực như công nghệ thông tin hay kinh doanh. Những ai vẫn tồn tại quan điểm bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống hãy suy nghĩ lạị, chỉ một dẫn chứng nhỏ về việc này đó là:  hằng năm số lượng người Việt Nam sống xa Tổ  quốc về thăm đất nước luôn luôn tăng, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam tham quan, du lịch và ký kết hợp tác làm ăn cũng ngày càng nhiều, không ít người đến hẳn Việt Nam sinh sống và làm việc. Điều đó chứng tỏ những gì mà các nhà “Dân chủ” kêu gào chỉ là điều nực cười mà thôi.

Viết tại Dallas Dec-14-2013

Amari TX

Categories: Uncategorized | 1 phản hồi

Kính Mời Các Bạn Đọc Báo Mới

Trong một thời gian ngắn, với sự nỗ lực cao báo  http://www.viethaingoai.net/ đã ra đời. Thời gian chạy thử nghiệm đã kết thúc, ngày 7-12-2013 báo chính thức hoạt động. Với tiêu chí đem lại cho bạn đọc thông tin trung thực, nhanh, nội dung đa dạng. Đặc biệt báo có các chuyên mục dành cho các bạn có nhu cầu đăng tải các tác phẩm của mình. Chúng tôi sẽ làm cho các bạn thỏa mãn nếu nội dung đúng tiêu chí của báo. Rất dễ dàng bạn chỉ cần một thao tác bấm vào chữ GỞI BÀI trên thanh menu nằm ngang là bài của bạn đã đến tay ban biên tập. Rất mong được sự ủng hộ và quan tâm của các bạn

TBT

John Lee

Categories: Uncategorized | 2 phản hồi

Hiến Pháp Là Sự Thể Hiện Ý Chí , Đồng Thuận Của Cả Một Dân Tộc

  hiến pháp, Đảng, dân chủ
Là những người con Việt xa xứ, nhưng chúng tôi vẫn dõi theo tình hình biến chuyển của quê hương. Con người với những số phận và hoàn cảnh khác nhau mặc dù mang quốc tịch là công dân của nước sở tại nhưng cuội nguồn vẫn là người Việt Nam. Tin vui nối tiếp tin vui, Sáng nay 28-11-2013, 486/488 đại biểu đã ấn nút đồng ý với Hiến pháp sửa đổi. Hiến pháp được thông qua thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, của toàn dân tộc Việt Nam. Ngày 23-11-2012, tại kỳ họp thứ tư, quốc hội khóa 13 đã thông qua nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992, thi hành hiến pháp, pháp luật và góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN của dân, do dân, vì dân, bắt đầu từ ngày 2-1-2013 và kết thúc vào ngày 31-3-2013. Nhưng có một số ý kiến lo ngại rằng việc lấy ý kiến nhân dân quá gấp , thể theo nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân nên tại kỳ họp QH thứ 5 (tháng 5/2013). QH đã quyết định kéo dài thời gian tiếp tục lấy ý kiến cho đến tháng 9.  Bản thân chúng tôi cũng đã có một số ý kiến đóng góp của mình trong cuộc trưng cầu dân ý về việc sửa đổi hiến pháp 1992 của Việt Nam. Theo chúng tôi suy nghĩ thì mỗi bản hiến pháp đều là sản phẩm của thời đại trong đó chúng được làm ra vì vậy không có bản hiến pháp nào gọi là hoàn hảo , việc sửa đổi là điều không có gì lạ.

Chúng tôi đã  có nhiều sự kỳ vọng cho cơ hội lịch sử này. Việc sửa đổi Hiến pháp là cơ hội rất quan trọng để thiết kế tương lai, là cơ hội để thực hành dân chủ , là cơ hội lịch sử để tạo nên những động lực cải cách bởi đất nước, chúng ta không thể vượt lên phía trước nếu như vẫn quẩn quanh với những “Ràng buộc” cứng nhắc và ấu trĩ. Điều tâm đắc nhất đó là bản hiến pháp sửa đổi năm 2013 có thể thấy điều này thể hiện một sự hòa nhập mạnh mẽ trong trào lưu thế giới đó là, Chương V của Hiến pháp năm 1992 hiện hành có quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong Hiến pháp sửa đổi lần này, đã đưa nội dung này từ Chương V lên sau Chương I về Chế độ chính trị, đặt ở Chương II của bản Hiến pháp. Riêng bố cục như vậy đã thể hiện tầm quan trọng và vị trí của chương về quyền con người. Tên chương cũng đã có sự thay đổi, trong Hiến pháp năm 1992 hiện hành là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, còn trong bản Hiến pháp sửa đổi QH vừa thông qua là: quyền con người và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân để khẳng định Nhà nước Việt Nam cam kết bảo đảm, bảo vệ, tôn trọng quyền con người, quyền công dân đúng như những công ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên. Và đây cũng là thành quả của hơn 30 năm đổi mới, phát triển của đất nước Việt Nam. Cho nên, có thể nói, trong chương này có rất nhiều điều, khoản làm rõ quyền con người; quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước trong vấn đề bảo đảm quyền con người và quyền, nghĩa vụ của công dân. Và bản Hiến pháp cũng khẳng định những trường hợp nào hạn chế đến quyền con người, quyền công dân thì phải theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết và vì những lý do thật cụ thể đã quy định rõ trong Hiến pháp sửa đổi lần này so với Hiến pháp trước đây. Quyền về tự do, dân chủ, quyền lập hội, biểu tình đã được quy định không phải chỉ trong bản Hiến pháp lần này mà tất cả các bản Hiến pháp trước đều đã hiến định. Đây là những quyền hiến định..Về  vai trò của Đảng trong quá trình sửa đổi Hiến pháp-   Điều 4 vẫn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Các bản Hiến pháp trước chưa nói rõ trách nhiệm của Đảng, lần sửa đổi này đã đưa vào và nhấn mạnh sự gắn bó mật thiết với nhân dân là sức sống của Đảng, Đảng phải phục vụ, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.., ngay bản hiến pháp của Hoa kỳ được biết đó là bản hiến pháp lâu đời nhất nhưng nó cũng đã được bổ sung bằng các tu chính án đó là sự uyển chuyển của hiến pháp cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Bản thân Hiến pháp Mỹ không phải là một điều quan trọng nhất. Điều quan trọng là, nước Mỹ đã vận hành nó trong “trạng thái kế thừa” trong suốt hơn 200 năm qua.
Hiến pháp là sự thể hiện ý chí đồng thuận của cả một dân tộc về việc thành lập một nhà nước và người dân trao quyền vận hành đất nước cho chính phủ đó là lý do người dân ủng hộ nhà nước. Hiến pháp như là điều gì đó vừa thiêng liêng, vừa gần gũi, “của mình” qua tinh thần, nội dung, qua cách thể hiện ngay trong bản Hiến pháp, Có nghĩa là Hiến pháp cần được thiết kế để nhân dân ủy quyền mà vẫn không mất quyền . Điều quan trọng là mỗi ý kiến của người dân đã có cơ hội phát biểu đóng góp, mọi đề xuất đóng góp sửa đổi đã  được cân nhắc và cơ chế hiến pháp hiến pháp có đủ sự uyển chuyển để theo kịp sự chuyển biến của tương lai xã hội. Hiến pháp vừa mang tính thiêng liêng nhưng đồng thời nó cũng gần gũi với với người dân, hiến pháp phải được mọi người dân coi là tài sản chung “của chúng ta”, người dân cảm nhận thấy đó là Hiến pháp của mình, khi họ có thể sử dụng Hiến pháp do chính mình làm ra và chuẩn y để bảo vệ các quyền và tự do của mình, bảo vệ nền dân chủ. Những tiến bộ trong bản Hiến pháp (sửa đổi) rất đáng ghi nhận và kỳ vọng sẽ tạo ra những điều tốt đẹp trong xã hội. Tuy nhiên, quan trọng nhất là những điều, những điểm mới nhiều tiến bộ trong Hiến pháp phải đi vào trong cuộc sống, để người dân được thừa hưởng nó.
Sự tham gia rộng rãi, thực sự của nhân dân vào quá trình hình thành và sửa đổi Hiến pháp cũng làm cho người dân sẽ viện đến Hiến pháp nhiều hơn, tuân thủ Hiến pháp tốt hơn, tức là làm cho Hiến pháp có tác dụng trên thực tế, chứ không phải Hiến pháp  “chết”. Lời nói đầu của hiến pháp có giá trị biểu tượng rất cao, tạc nên chân dung của một xã hội đồng lòng, “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân”  – nền tảng cho bất kỳ trật tự hiến pháp nào muốn trường tồn, mặc dù các thành viên của xã hội có thể có những quan điểm, cái nhìn, nguyện vọng khác nhau. Mục đích hiến pháp sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải thích hiến pháp. Khi ngôn từ trong từng điều khoản của hiến pháp có chỗ chưa rõ thì mục đích của hiến pháp là ngọn hải đăng dẫn đường cho quá trình giải thích. Không những thế, Hiến pháp là sự thể hiện ý chí của cả dân tộc. Đó là sự phản ảnh lịch sử, những nỗi lo ngại, mối quan tâm, nguyện vọng, tầm nhìn, và quả thật, soi rọi tâm hồn của dân tộc đó. Một bản Hiến pháp buộc phải tìm ra mong muốn của đa số công dân, nhưng khi làm điều đó, phải tính đến những nỗi lo ngại, mối quan tâm của các nhóm thiểu số. Đồng thời, Hiến pháp là một bản văn mà trong đó các nhóm khác nhau trong xã hội gắn kết với nhau để bảo vệ nền dân chủ. Vì vậy, toàn thể công dân cần phải được hưởng quyền sở hữu Hiến pháp, tôn trọng, kính trọng Hiến pháp”.  Chính vì tính chất “của nhân dân” này, ghi nhận và thể hiện ý chí, chủ quyền tối thượng của nhân dân, Sự ủy quyền của cử tri cho các đại biểu Quốc Hội là có thời hạn, trong khi chủ quyền nhân dân được ghi nhận trong Hiến pháp là vô hạn. Như vậy, tính chất “của nhân dân” là cơ sở vững chắc tạo ra tính chính danh cho hiến pháp .
 Hoa kỳ- ngày lễ tạ ơn
28-11-2013
 AMARI TX
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Mối Liên Hệ Đó Không Thể Tách Rời

Thời gian những ngày gần đây, một số người thường được các cơ quan truyền thông việt ngữ ở hải ngoại gọi là “nhà dân chủ” đang ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam,  lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ.., khai thác một cách “triệt để” những tiêu cực trong xã hội, thổi phồng, suy diễn và quy kết vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Họ  xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn của đất nước sau 27 năm đổi mới, đưa ra những so sánh khập khiễng, mù mờ với các nước cùng khối Asean, thậm chí có kẻ mạnh miệng phán rằng “Việt nam chạm đáy với những nước nghèo nhất” ?! các nhà “dân chủ” đồng thanh ngợi ca chủ nghĩa tự do, những quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, và vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc tài” cho việc thực hiện dân chủ…?! Những luận điệu này đã bị sự thật bẽ gãy bằng những  chứng cứ sự thật hiển nhiên đó là: không những người dân trong nước được thừa hưởng những thành quả đó mà nó còn được dư luận quốc tế đánh giá cao và lấy Việt Nam là điểm sáng trong trong nhiều lĩnh vực mà đặc biệt trong việc xóa đói giảm nghèo. Sức mạnh của Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, hơn bao giờ hết, đang được hiện diện thông qua một tổng thể biện pháp từ kinh tế, hành chính, đến luật pháp, giáo dục, trong đó các biện pháp kinh tế và luật pháp giữ vai trò quan trọng nhất, đủ sức đáp ứng sự phát triển không ngừng cả về quy mô, tốc độ và chiều sâu vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua đó và nhờ đó, sức mạnh, uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và trực tiếp đối với Nhà nước không ngừng được nhân lên. Nay các “Nhà dân chủ” lại tung ra chiêu mới hết sức thâm độc đó là đánh thẳng vào mối quan hệ sống còn giữa Đảng và nhân dân. Các nhà “dân chủ” đã viết ra những điều như những kẻ mất trí rằng: “Dưới con mắt cường quyền, Nhân dân hiện ra như bầy cừu chỉ có khả năng biểu cảm bằng tiếng “be be”, suốt đời cần được bề trên “chăn dắt”; hay như đám học trò thiểu năng, “giáo dục” suốt mấy chục năm mà vẫn không khá lên được, thành thử mãi vẫn chưa đủ tầm dân trí, để xứng đáng hưởng những quyền tự do dân chủ, mà thế giới vẫn coi là quyền tối thiểu…” và ” Họ (ĐCSVN) không thèm hỏi ý kiến của toàn Dân, thậm chí cố tình lờ đi hay bóp méo ý nguyện của Nhân dân, rồi độc quyền áp đặt cho Nhân dân cái ý nguyện “đảng tạo”, thông qua thủ thuật hiến định… ” ?!
Trong suốt một thời gian dài kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc cải tổ, mở cửa hòa nhập với thế giới bên ngoài thì một số cá nhân cơ hội kết hợp thế lực thù địch bên ngoài liên tiếp tung ra những luận điểm sai trái , ý đồ kích động, lôi kéo quần chúng nhân dân quay lưng lại với Đảng, đào sâu hố ngăn cách, chia rẽ sự đồng thuận. Đây là một ý đồ vô cùng nham hiểm, dù xuyên tạc, bóp méo sự thật gì đi chăng nữa thì cũng xin thưa với các vị “dân chủ” rằng điều đó chỉ là sự hoang tưởng vì Đảng cộng sản Việt Nam đã biết cách tự chỉnh đốn, làm mới mình cho phù hợp với trào lưu thời cuộc mà cốt lõi nhất đó là “Lấy dân làm gốc”. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được Chủ Tịch Hồ Chí Minh xác định là mối quan hệ biện chứng, nó hình thành và phát triển gắn với quá trình cách mạng. Người chỉ rõ cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, Đảng chỉ là người hướng dẫn, tổ chức, lãnh đạo mọi hoạt động của phong trào cách mạng ấy. Người nhắc nhở mọi người phải hiểu sâu sắc ý nghĩa, vai trò của nhân dân trong mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Bởi theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhân dân là gốc, gốc có vững thì cây mới bền. Đảng chỉ có thể xây “lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Lênin đã từng nói: “một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất đối với Đảng là: Tự cắt đứt mối quan hệ với quần chúng”. Đồng thời với việc chỉ ra mối nguy hiểm đó, Lênin cũng nêu lên một cách cô đọng những nguyên tắc và nội dung những việc phải làm để “Đảng là của dân” và “Dân là của Đảng”, đó là “sống trong lòng quần chúng. Biết đến với quần chúng giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Làm việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt…” “Dễ mười lần không dân cũng chịu- Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.
ĐCSVN là bộ phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Sự ra đời và hoạt động của Đảng chính là phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, giải phóng dân tộc, mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng từ nhân dân mà ra, phục vụ lợi ích của nhân dân, ngày càng gắn bó với nhân dân và chính quan hệ mật thiết ấy tạo nên sức mạnh của Đảng và sức mạnh của dân tộc. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ hai chiều gắn bó, tương hỗ như một lẽ tự nhiên. Nhân dân cần có Đảng lãnh đạo thì mới có hướng đi đúng đắn và cách mạng mới giành được thắng lợi. Đảng cần có dân để có sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, để có năng lực chèo lái con thuyền cách mạng. Trên thực tế, suốt 83 năm phấn đấu và hy sinh, Đảng đã và luôn tỏ rõ “là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất”. Vì hơn bất cứ một lực lượng chính trị nào, Đảng CSVN luôn luôn và mãi mãi phấn đấu: “Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”. Và trên thực tế, Đảng CSVN tranh đấu, không vì và không có lợi ích nào khác, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân và của dân tộc Việt Nam.
Những luận điệu xuyên tạc của các “nhà dân chủ” nói rằng “Đảng đã áp đặt ý nguyện ‘Đảng tạo” lên ý nguyện của nhân dân” ?! đúng hay sai thì chính lịch sử đã có lời giải đáp. Năm 1930, ĐCSVN ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, sự gắn kết từ nhân dân với Đảng. Với sự dẫn đường và tiên phong của Đảng, nhiệm vụ giải phóng dân tộc do nhân dân tiến hành đã hoàn toàn thắng lợi. Trên con đường đi tới, lý tưởng về một đất nước hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh đã trở thành mục tiêu chung mà Đảng và nhân dân cùng phấn đấu để thực hiện. Tiến bước trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, quan hệ giữa Đảng và nhân dân ngày càng củng cố vững chắc, trở thành quy luật phát triển của Đảng và của đất nước. Đảng tin ở sức mạnh của nhân dân và phục vụ nhân dân. Lòng tin của Đảng với nhân dân theo quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là “muốn tập hợp tất thảy những người yêu nước vào sự nghiệp cách mạng của Đảng” và “Nhân dân là những người yêu nước, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, gái trai… đều là những con Rồng cháu Tiên đều nặng lòng yêu nước”. Chủ Tịch Hồ Chí Minh quan niệm: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết: “Trong bầu trời này không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân”. Dân là gốc của nước, của cách mạng, dân là chủ, “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân…. quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Chủ Tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải xây dựng, củng cố niềm tin sâu sắc vào nhân dân, dựa chắc vào nhân dân, mọi việc làm của Đảng đều phải xuất phát từ nhân dân và trở về với nhân dân. Người thường xuyên căn dặn cán bộ, đảng viên phải kính trọng, yêu mến, tin tưởng, học hỏi và tận tâm phục vụ nhân dân: “phải phê phán nghiêm khắc mọi biểu hiện tự cao, tự đại, hách dịch, quan liêu cửa quyền đặt mình trên nhân dân” . Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và đã cùng với Đảng làm nên thắng lợi vẻ vang cho cách mạng và dân tộc Việt Nam suốt 83 năm qua. Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Trước thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, lợi dụng chức quyền hà hiếp, tham nhũng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân và đất nước, nhân dân rất đau lòng và lo lắng cho Đảng và vận mệnh của đất nước. Mặc dù vậy, chưa bao giờ nhân dân, những người Việt Nam chân chính đối lập với Đảng, mà thật sự chân thành mong muốn Đảng quyết tâm và thành công trong sửa chữa khuyết điểm. Khi Đảng mắc sai lầm, khuyết điểm nhân dân lại sẵn sàng chia sẻ và hợp sức với Đảng để sửa chữa, đưa cách mạng và đất nước phát triển. Vai trò lãnh đạo của Đảng với mặt trận và các đoàn thể của nhân dân, lãnh đạo nhưng không phải là áp đặt, Đảng phải tự tỏ ra xứng đáng với vai trò lãnh đạo của mình: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình… chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được vị trí lãnh đạo”.
Như chúng ta đã thấy việc thành lập các mặt trận như Mặt trận Việt Minh (1941), Mặt trận Liên Việt (1951), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960) và những hoạt động của các tổ chức này là những minh chứng hùng hồn cho một quan điểm nhất quán  về vai trò của nhân dân trong cách mạng. Dưới ngọn cờ đoàn kết, Đảng cộng sản Việt Nam đã tập hợp được mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ, lãnh đạo họ làm cách mạng, đưa họ từ địa vị người nô lệ thành địa vị người chủ. Ở thời điểm lịch sử hiện nay với ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, được sự ủng hộ của nhân dân thì không có bất cứ lý do gì Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên lại không thể tự sửa chữa khuyết điểm, vươn tới với ý chí và sinh lực mới.” Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp, không thể xem thường. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình hình thế giới thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường. nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ yếu. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Việt Nam là tất yếu lịch sử, nhưng muốn giữ vững được vai trò của đảng cầm quyền, Đảng ấy trước hết phải là một tổ chức “có tính quần chúng”, bao gồm những người ưu tú của dân tộc. Một Đảng như vậy sẽ thực sự là một đảng lãnh đạo tư tưởng, chính trị, đường lối cho một nhà nước dân chủ mới: nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân. Lịch sử  83 năm xây dung và phát triển của Đảng đã chứng minh rằng: Mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không chỉ là nhu cầu tự thân của bản thân quần chúng nhân dân, của sự nghiệp cách mạng, mà đó còn là nhu cầu tự thân của Đảng cầm quyền. Lịch sử đã cho chúng ta biết rằng ai xứng đáng là người lãnh đạo, ai là người công bộc của nhân dân.
Với hơn 83 năm qua Đảng được nuôi dưỡng trên nền tảng và hòa quyện trong đạo lý truyền thống mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam, mối qua hệ máu thịt đó không thể gì cắt chia, không thể ai phá vỡ. Không những thế, Đảng CSVN  là đứa con của nhân dân lao động, cho dù chịu muôn vàn hy sinh, mất mát, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, khó khăn, gian khổ đến đâu, và có thể sai lầm ở mức độ này hay khác một điều khó tránh khỏi trong tiến trình cải tổ và hoàn thiện, phương châm chuyển đổi cho phù hợp với tiến trình của thế giới chứ không phải là sự chuyển hướng. Đảng CSVN vẫn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn bền bỉ, xứng đáng, được cả dân tộc Việt Nam nuôi dưỡng và bảo vệ, trong vị thế là người lãnh đạo cách mạng, người đày tớ thật trung thành của nhân dân lao động Việt Nam. Bất cứ ai có ý đồ không thiện chí muốn kích động, chia rẽ mối quan hệ khăng khít máu thịt giữa Đảng và nhân dân  thì hay thức tỉnh và phải hiểu rằng đó là điều không thể, việc làm đó sẽ bị chính nhân dân Việt Nam lên án mạnh mẽ.
Ngày 11-11-2013
 Amari Tx
Categories: Uncategorized | Để lại phản hồi

Blog at WordPress.com. The Adventure Journal Theme.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.