RFA muốn thổi “gió dân chủ” từ Hồng Kong về Việt Nam !

Vẫn giọng điệu hằn học vốn là bản chất của cơ quan ngôn luận kiểu mõ làng, RFA việt ngữ chưa bao giờ có thiện chí với chính phủ Việt Nam, khi đọc bài của cái họ tự xưng là: “Nhóm phóng viên tường trình từ VN”?! với giật tit “Giới trẻ Việt Nam với tin biểu tình ở Hồng Kong” thì người đọc hiểu ngay là RFA muốn gì. Bằng cách gọi là trích dẫn nội dung “Phỏng vấn” của một số bạn trẻ tên A,B,C…vv… ở một số nơi ở trong nước, nói lên suy nghĩ của mình về những gì đang diễn ra ở Hồng kong để lồng ghép, suy diễn ý đồ của mình với mục đích kích động, xuyên tạc những gì mà chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực duy trì sự ổn định để dốc tâm vào công cuộc xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Với giọng lưỡi thể hiện bản chất thâm căn cố đế luôn coi thể chế chính trị ở Việt Nam là cái gai trong mắt họ, RFA việt ngữ luôn dùng những ngôn từ hằn học trong bài viết như “Trong lúc các sinh viên Hồng Kông đồng loạt biểu tình yêu cầu người đứng đầu Hồng Kông Lưu Chấn Anh từ chức và yêu cầu nhà cầm quyền Trung Quốc hãy để người Hồng Kông tự quyết định vận mệnh của họ, tự bầu giới thiệu, ứng cử và bầu chọn lãnh đạo của họ, có thể nói là một cuộc biểu tình hết sức gay cấn và làm thế giới thay đổi cách nhìn về Á Châu… Thì tại Việt Nam, ở thành phố Hà Nội, thủ đô của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, giới trẻ yêu nước đã bắt đầu thể hiện thái độ ủng hộ sinh viên Hồng Kông bằng nhiều hoạt động khác nhau, dường như cuộc biểu tình của giới trẻ Hồng Kông đã truyền lửa rất mạnh cho giới trẻ Hà Nội nói riêng và giới trẻ Việt Nam nói chung” ?! Xin hỏi các vị RFA rằng: có cái kiểu xuyên tạc đến mức nhố nhăng như các vị thế nào là “Hà Nội, thủ đô của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam”?!  cách nói hằn học này đủ để mọi người hiểu rõ bản chất truyền thông “Trung thực” của RFA việt ngữ. Xin nói cho các vị được rõ thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, của toàn thể hơn 90 triệu con tim Việt cả trong và ngoài nước, Hà Nội không là của riêng của bất kể thể chế chính trị nào. Xuyên tạc lịch sử, gây hồ nghi cho lớp trẻ, lợi dụng nhiệt huyết yêu nước, kích động tư tưởng mà các vị ra rả là “cấp tiến”  mục đích là tạo nên một làn sóng chống lại chính quyền, vi phạm pháp luật …gây đảo lộn trật tự xã hội ở trong nước. Với những ý đồ  tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược hòng nắm lấy lực lượng “chiến lược” này, các tổ chức chống cộng ở hải ngoại và một số tổ chức cá nhân “nhà dân chủ” được sự cổ vũ “nhiệt tình” của các tổ chức nước ngoài cha đẻ của các “phúc trình”, “báo cáo”…vv.. luôn nuôi giấc mộng “Chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không khói thuốc súng”  đang tấn công mạnh mẽ trên các lĩnh vực tư tưởng-văn hoá, coi đây là mũi đột phá nhằm xoá bỏ chế độ hiện tại ở Việt Nam mà điểm mấu chốt là nhắm vào giới trẻ là học sinh, sinh viên, chính là làm chuyển hoá tư tưởng dẫn tới quá trình “tự diễn biến” theo cách họ nói là “biểu tình ôn hòa” !? RFA đã lộ rõ ý đồ của họ khi thể hiện quan điểm áp đặt một các phi lý khi họ luôn nói thể chế chính trị ở Việt Nam là độc tài? ô hay các vị cố tình đánh lận con đen giữa “độc tài” và “độc Đảng”? chính cái kiểu nói trời ơi đó đã hướng dư luận đến cái đích mà RFA mong muốn là: “mọi hoạt động của các công dân trong các quốc gia độc tài luôn nằm ở dạng chỉ định và bị áp đặt. Chính sự chỉ định và áp đặt nhằm phục vụ lợi ích cho phe nhóm độc tài đã làm cho tầm quan sát cũng như mọi tri kiến của mọi cộng dân bị giới hạn trong lăng kính của kẻ độc tài. Và một khi con người hiểu được nhu cầu cần tiến bộ, cần văn minh của mình, nhất định người ta sẽ loại bỏ độc tài ra khỏi suy nghĩ và đời sống của họ” ?!…..
Thời gian qua, các thế lực thâm thù với Việt Nam tìm mọi cách thực hiện âm mưu hòng “phá vỡ thế đồng nhất một khối của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “làm cho phân tán chế độ cộng sản Việt Nam thành nhiều trào lưu đối kháng nhau” như tuyên bố đầy tham vọng và ảo tưởng của một số kẻ chống cộng cực đoan là người Việt sống lưu vong và một số cơ quan truyền thông như RFA việt ngữ. Thế giới ngày nay, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều quốc gia đang xung đột từ trong nội tại, dẫn đến đau thương, chết chóc, hoang tàn, đất nước tan rã, một thời điểm mà lợi ích của các quốc gia đều có sự ràng buộc lẫn nhau. Không dễ gì một quốc gia có thể bị ảnh hưởng, bị chia cắt bởi một biến cố nào đó. Nhưng bằng cách này hay cách khác, nhiều quốc gia đã, đang và có thể sẽ tiếp tục tan vỡ. Những bài học đó khiến chúng ta không thể chủ quan. Họ luôn quảng cáo cho mô hình “xã hội dân chủ”, họ nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, kiểu như “dám nghĩ, dám làm” … trong giới trẻ nhằm tạo ra sự đối lập với hệ tư tưởng của thế hệ cha ông đang theo đuổi từ đó tạo ra sự xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, giữa các thế hệ. Đặc biệt, trên mạng in-tơ-net, họ đưa nhiều thông tin sai lệch, bịa đặt, lấp lửng, gật gân để nhiều người trẻ truy cập và mời chào tham luận làm ra vẻ “Vô tư, khách quan” và luôn thòng theo một câu “chúng tôi tôn trọng ý kiến cá nhân, đây là quan điểm của bạn” và ” Bài viết này không phản ánh quan điểm của báo” ?!  khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội được báo chí trong nước đăng tải hướng luồng dư luận vào những vụ việc này để kích động lớp trẻ bất mãn với cái họ gọi là “Thảm trạng của đất nước”?! qua đó đã có những tác động rất xấu đến nhận thức, tình cảm, văn hóa, lối sống của một bộ phận giới trẻ là cư dân mạng…
Thế hệ trẻ Việt Nam được nuôi dưỡng trong bầu nhiệt huyết yêu nước nồng nàn hun đúc bằng ngọn lửa 4000 năm dựng nước và giữ nước của cha ông. Lịch sử của chúng ta đã chứng minh một điều là: vũ khí chưa bao giờ mang tính quyết định sự thắng bại của cuộc chiến. Chúng ta  tự tin vào sự đoàn kết của dân tộc dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Chúng ta tự tin vào sức mạnh của đất nước trong một bối cảnh đang có rất nhiều cơ hội và thách thức.Thanh niên là lực lượng xã hội có vị trí, vai trò to lớn, là rường cột, là người chủ tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ, động viên, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của thanh thiếu niên, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cách mạng. Coi trọng công tác giáo dục cho thanh thiếu niên, đây là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn, rất quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, khả năng sẵn sàng thực hiện thắng lợi công cuộc bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ tương lai của đất nước. Làm được điều đó thì mọi “Nỗ lực” của các vị không thiện cảm với Việt Nam như RFA việt ngữ sẽ là vô vọng mà thôi.

John Lee (Amarri TX)

Hoa Kỳ oct-11- 2014
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Xuyên tạc, bôi nhọ chủ Tịch Hồ Chí Minh là những kẻ không có con tim và khối óc !

Mấy ngày gần đây cộng đồng mạng rộ lên những bài viết, clip, comment trên các kênh như Facebook, Blog, youtube… về việc trang mạng phố Bolsa TV đăng tải clips một nhân vật thuộc loại “Bựa” nhất trong cộng đồng chống cộng cực đoan người Việt tại Hoa Kỳ đó là ông Ngô Kỷ. Nội dung bài phỏng vấn nói về Chủ Tịch Hồ Chí Minh với những ngôn từ xấc xược đã làm phẫn nộ những người Việt Nam chân chính cho dù ngay lúc này một bộ phận những người Việt Nam sống tại Hoa Kỳ họ vẫn tự coi mình là “Người Việt Quốc Gia” cũng không thể chấp nhận được những gì Ngô Kỷ đã nói. Phản ứng ngay sau đó của Phố Bonsa TV là có lời xin lỗi bạn đọc và gỡ bỏ Video clip đó. Đây cũng là một bài học cho cái gọi là “Truyền thông đa chiều” ở xứ Mỹ, họ đã vô tình “Quảng bá” cho những loại người như Ngô Kỷ.
Vậy thì tại sao những kẻ như Ngô Kỷ lại có những ngôn từ xuyên tạc, chửi rủa, hằn học, thâm thù, ấu trĩ về Hồ Chí Minh sặc mùi cực đoan đến như vậy? ở đây có phải là một sự ngộ nhận ? Xin thưa không phải như vậy, theo dõi các bài viết của rất nhiều vị nói xấu, bôi nhọ về Hồ Chủ Tịch trên các trang điện tử thì chúng ta nhận thấy ngay không khó khăn gì đó là các vị đó là ai?, đang làm gì? và nguyên nhân tại sao lại hành động như vậy. Họ thường dùng đủ lời lẽ, lập luận để vu cáo, xuyên tạc thậm chí dùng những ngôn từ côn đồ, chợ búa “đá cá lăn dưa”. Có hai hạng người trên cùng một “Chiến tuyến” này. Một là những kẻ vô công rồi nghề, nhân cách còn gọi Chí Phèo là “ông tổ” như Ngô Kỷ là một điển hình, những vị này biến mình thành “Lính đánh thuê” cho một số tổ chức chống cộng ở Hải ngoại, theo kịch bản đã dựng sẵn cứ “Đến hẹn lại lên” khi trong quốc nội có những ngày lễ lớn trọng đại hoặc như Đảng, nhà nước Việt Nam phát động phong trào “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thì những con rối này bắt đầu “Hành nghề” theo đơn đặt hàng một cách “Khí thế” nhất, làm sao cho không uổng đồng tiền bát gạo của kẻ thuê mình, có như vậy lần sau mới được sự tín nhiệm….Loại thứ hai tôi muốn nói đó là một số vị có trình độ học thức nhất định nhưng họ vẫn cố tình xuyên tạc, bôi nhọ một cách rất tinh vi. Những người này làm ra vẻ là những người “trong cuộc”, là những chứng kiến, là lấy kính lúp “Soi” từng góc cạnh, so đọ từng sự kiện được cho là bí ẩn thuộc tài liệu “Thâm cung bí sử” kiểu tiểu thuyết hậu cung lịch sử trung hoa, gật gân, huyền bí hòng dẫn người đọc lạc vào một mê hồn trận từ đó “bái phục” những vị này….vậy thì tại sao họ làm như vậy? mục đích gì? xin thưa chẳng qua cũng vì tư lợi mà thôi. tỷ như “sự kiện” năm 2009 một nhóm người làm một cái gọi là bộ phim tài liệu ““Sự thật về Hồ Chí Minh“ nội dung  những luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim này đã bị rất nhiều những nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở trong nước và trên thế giới lên án. Với nội dung đơm đặt, các tình tiết bị bóp méo hòng gợi ý tò mò mục đích bán cho thật nhiều băng dĩa kiếm tiền, thế nhưng hỡi ơi! họ đã thất bại thảm hại ngay trên sân chơi của họ sau đó mớ băng dĩa này gởi cho không  bà con trong cộng đồng mà chẳng ai muốn nhận bèn tống hết vào thùng rác. Cũng làm một bộ phim tư liệu về Hồ Chí Minh nhưng những người Mỹ họ đã nói lên điều gì với bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” của Hãng phim History Channel (Mỹ)? Họ đã ca ngợi lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả của Hồ Chí Minh dành cho dân tộc Việt Nam, chứ không như những luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh“, mặc dù có những đánh giá chưa đúng hết tầm vóc của Hồ chí Minh nhưng chúng ta dễ chấp nhận vì họ nhìn về một “Định hướng” khác. Những kẻ như Ngô Kỷ và một số vị ở hải ngoại theo tôi nghĩ họ không phải là sự ngộ nhận mà là ý đồ cố tình xuyên tạc. Như mọi người đều biết nếu họ thiếu thông tin mà dẫn đến ngộ nhận thì khác, mà ở đây họ đã thể hiện cái dã tâm đen tối bằng những giọng điệu cực đoan, chửi rủa, xấc xược hòng thể hiện ta đây dám đánh thẳng vào “Tượng đài” và nhảy múa vô tư trên “hệ tư tưởng” của cộng sản ta mới là anh hùng ?! mà một khi đã như vậy thì “Xin” gì cộng đồng cũng phải chiều mà thôi, nếu không họ sẽ chụp cho chiếc “Nón cối” thân cộng thì khốn khổ trong công việc làm ăn.
Tôi đã đọc một số bài viết, xem các clips loại này khá nhiều ở hải ngoại cũng như một số vị “Phản tỉnh” ở trong nước. nhưng theo tôi nghĩ. Sự phê bình hoặc chỉ trích nào cũng cần cái chất văn hóa, cái đó rất cần thiết vì nó tôn trọng độc giả và mới thể hiện tầm trí tuệ, thì sản phẩm đưa ra công chúng mới có tác dụng, và qua đó cũng có thể hy vọng làm cho đối tượng được phê bình, phê phán tâm phục khẩu phục. Nhưng ngược lại nếu phê phán một cách dung tục, bỉ ổi  chửi cho sướng cái miệng như Ngô Kỷ thì không thể “tiêu hóa” nổi kể cả những người khác về quan điểm chính trị. Vấn đề xuyên tạc nói xấc xược về Hồ Chí Minh, tôi xin nói cho ông Ngô Kỷ biết rằng không phải vì lấy cái cớ “Nhà tui thâm thù cộng sản” như ông đã khoác lác mà xấc xược đến vị lãnh tụ của cả một dân tộc là không thể chấp nhận được. Hình ảnh của Hồ Chủ Tịch không ai có quyền xuyên tạc và xúc phạm bởi đó là hình ảnh một danh nhân văn hóa đã được Tổ chức Văn hóa và giáo dục Liên hợp quốc thừa nhận “Hồ Chí Minh như mọi người chúng ta mà thôi, nhưng cũng khác chúng ta bởi vì Hồ Chí Minh làm được tất cả những điều bình dị mà cao cả ấy một cách tự nhiên, hầu như dễ dàng như hít thở khí trời, như sinh ra là để làm những điều như vậy. Hồ Chí Minh là con người bằng xương bằng thịt ở ngay trước mắt chúng ta, ở trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam yêu nước, chứ không phải là điều tưởng tượng, không phải thánh thần quanh quất đâu đây.”

Hoa Kỳ 4-10-2014
AMARI TX (John lee) –  VHN.NET

Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Nhật Bản, những bước chân đầu tiên

Nhật bản không phải là cường quốc xã hội , đất hẹp , người đông , của khó những trải nghiệm của một du học sinh thập niên  60- 70 thế kỷ trước đánh dấu thời kỳ nước Nhật trên con đường phát triển để trở thành một quốc gia hiện đại, hùng cường. Du học Nhật là để trải nghiệm và học tập sự  kiên nhẫn, chịu đựng và hòa hợp. Tinh thần thích nghi và hòa hợp của người  Nhật là điểm son tuyệt vời trong tính cách người Nhật , nó giúp con người mạnh mẽ và tự tin trước những thử thách.

Nhật Bản, những bước chân đầu tiên

Hình ảnh nội tuyến 1
Tranh vẽ một ohuro – phòng tắm công cộng ở Nhật thời xưa 

Trước ngày khăn gói  lên đường du học xứ hoa anh đào, tôi đã chuẩn bị cho mình một cuộc sống tự lập nơi xứ người. Nói là tự lập chứ vẫn còn “cơm cha , áo mẹ, công thầy ” vẫn là  “nhất ẩm, nhất trác giai do tiền ( money ) định”.

Anh trai tôi, người du học trước tôi 4 năm đã cảnh báo : “đi du học ở Nhật Bản là đi đày, sau đó là đi cày, ở Nhật không được sung sướng như ở nhà đâu em gái ạ ” Anh tôi cũng biết ở nhà cha mẹ tôi, đặc biệt cha tôi rất thương chiều con gái. Ông thương con gái  như ông thường nói : ” thân gái mười hai  bến nước, trong nhờ đục chịu con gái lấy chồng biết có được sung sướng như những ngày ở với cha  mẹ không ?” Tôi được đi du học nhờ tư tưởng phóng khoáng, không ” trọng nam khinh nữ ” của cha tôi.
Cha tôi theo nghiệp buôn bán, lăn lộn trong thương trường  nhưng ông  thường quan niệm: chỉ có học vấn mới giúp con người lập nghiệp, tiến thân một cách đàng hoàng và rạng rỡ nhất. Được tiếp tục sự học  ở một nước tiên tiến còn giữ truyền thống tốt đẹp của phương Đông như Nhật Bản là sự lựa chọn ưu việt, sự quan tâm ưu ái , sự hy sinh vô bờ bến ông đã  dành cho anh em tôi, cánh chịm đầu đàn của bẩy, tám đứa em còn nhỏ dại, ngày tôi ra đi em trai út tôi mới lên sáu.
Anh trai tôi cùng với  ông bà  người bảo đảm ra đón tôi từ phi trường  Haneda về nhà ga Gotano  vùng  ngoại ô của Tokyo, nơi tôi sẽ sống những ngày đầu tiên với gia đình họ. Ông chủ nhà  là người Nhật, bà vợ là người Việt Nam cùng sống với cậu con trai bảy  tuổi. Buổi tối đầu tiên đặt valise bước vào nhà, sau khi đã tháo hết giày để ngoài genkan theo    phong tục Nhật, tôi khám phá căn nhà Nhật sao mà nhỏ bé, chật hẹp, đơn sơ đến không ngờ.Khi mọi lễ nghi trà nước,thăm hỏi tặng quà đã xong, anh tôi ra về và hẹn sáng mai trở lại.Tôi hỏi nhỏ bà chủ nhà : Thưa bác phòng cháu ở đâu ạ ? Bà chỉ cái phòng khoảng độ 9 mét vuông, để cái TV 16 inche, cái bàn thấp nhỏ, cái tủ và cái máy may. Bà nói : – Cháu ở đây, buồi tối dẹp cái bàn, cháu trải cái futon (nệm ) và ngủ ở đó.
Tôi giật mình, phòng này cách phòng ông bà chỉ bằng một cánh cửa lùa bằng gỗ, dán giấy, và
nó bé đến nổi hai cái va li của tôi đề ở góc phòng, căn phòng trông giống như một kho chứa đồ đạc. Bà chì phòng ngủ hai ông bà  lót chiếu, cũng là phòng ăn, phòng khách  luôn, nói kiểu bây giờ   là 3 trong 1. Bên cạnh phòng ông bà có một  phòng be bé cũng không có cửa đóng then cài, đây  là phòng cậu con trai ờ.
  
Hình ảnh nội tuyến 2
Ohuro ở các nhà quý tộc xưa, 
 
Tôi hỏi : Thưa bác, bác  chỉ cho cháu phòng tắm để cháu thay quần áo ạ. Bà trả lời : – Nhà bác không có phòng tắm , cả nhà đi tắm công cộng.Tôi nghe mà tưởng như ” sét đánh ngang tai.” Thất vọng, hoang mang không biết tắm công cộng ở Nhật là như thế nào.Tôi hỏi tiếp : – Thưa bác, cháu muốn thay quần áo ở đâu ạ? Bà chỉ cái phòng kế bên genkan chỗ ra vào. Tôi bước vào và ngạc nhiên đây là nhà vệ sinh kiểu cổ, không có bàn cầu giật nước.Ở Việt Nam tên gọi tượng hình là  cái “hố xí bệt”. Có nghĩa là các chất thải được tích trử ở một   cái thùng chôn sâu dưới nền nhà, và cứ hai  tuần một lần, người ở sở vệ sinh sẽ mang xe đến  lấy từ tất cả nhà ở khu phố. Rửa mặt thì ở ngay trong bếp, cái bếp nhỏ xíu chỉ vừa chỗ cho một người đứng nấu.
Nước Nhật vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước, một gia đình có thu nhập trung bình, người đàn ông đi làm ở hãng (salary man) được cấp nhà, chỗ ăn ở  như thế  này, nhiều người nói là khá lắm rồi. Đất hẹp, người đông, đến nay nước Nhật chưa bao giờ là một cường quốc về an sinh xã hội,vấn đề  nhà ở chẵng hạn. Đến nước Nhật , học ở người Nhật  bài học đầu tiên  là tính thích nghi và hòa hợp chữ “Hòa”. Là tên gọi tắt ,” nickname “của nước  Nhật,” Hòa thực” là thức ăn Nhật, ” Hòa phục”  là quần áo Nhật. Ngôn ngữ Nhật có kính ngữ vá khiêm ngữ. Thí dụ như chữ Ô, hay Gô là tiếp đầu ngữ chỉ sự trang trọng .” Han ” có nghĩa là cơm, âm Hán đọc là phạn, thêm tiếp đầu ngữ Gô là ” Gohan”. Thức ăn chính ở Nhật và  các nước có nền văn minh lúa nước là cơm ,  tôn trọng thức ăn nuôi sống con người nên cơm được gọi là ” Gohan ” ” Ngự phạn .”
Tiếng Nhật đầu tiên tôi học khi đặt chân đến thành phố Tokyo trong một căn nhà Nhật đơn sơ nhỏ bé là ” Ohuro ”  Furo có nghĩa  là nhà tắm, đọc “ohuro”  có nghĩa trang trọng vì cái việctắm táp cũng là chuyện quan trọng. Nhưng từ đây về sau  tôi biết rằng không có cái nhà tắm riêng tư  dành cho người ở trọ như tôi , mà mỗi ngày tôi phải trả 15 yen cho cái khoản gọi là đi ” Ô HU RÔ “
  Hình ảnh nội tuyến 1
  Ohuro trong thùng bằng gỗ Hinoki  ( một loại gỗ thông ) 
Theo sự hướng dẫn của bà chủ nhà, tôi mang cái thau nhỏ đựng  xà phòng, bàn chải , gương lược, khăn tắm đi bộ khoảng 100 mét đến một nhà tắm công cộng dành cho cả nam và nữ. Sau khi cất đôi dép vào cái ngăn nhỏ, tôi cùng bà chủ nhà mở cánh cửa kính vào phòng tắm mờ mịt hơi nước.
Hình ảnh đập vào mắt tôi làm tôi ” hoảng ” nhất là mọi người già trẻ, lớn bé, các bà các cô đều trần truồng, “tô hô” toàn bộ.
Còn người thu tiền ngồi trên cái ghế cao quan sát  và thu tiền khách  của cả hai phòng nam nữ lại là một gã đàn ông đứng tuổi mồm miệng lanh chanh chào hỏi. Xóm nhỏ, nhà nhỏ hình như ai cũng biết nhau. Trong chớp mắt không hiểu sao tôi nói với bà chủ nhà : ” thôi bác ạ cháu không tắm đâu, cháu đi về đây “. Tôi mở cửa ,ôm cái thau  nhựa  lấy đôi dép và chạy nhanh khỏi cái nhà tắm khỏa thân toàn phần, thật tình mới thấy đầu tiên  trong đời. Cái sự ” nhập gia không tùy tục ” đầu tiên của tôi chính là cái kiểu tắm ” tô hô ” này.
Ôi nước Nhật ! Tôi chỉ biết qua hình ảnh  hoa anh đào, núi Phú Sĩ, những thiếu nữ khuôn mặt hình trái xoan  khép nép trong cánh áo kimono, những  chàng samurai trừ gian diệt bạo bằng những đường kiếm tuyệt chiêu chỉ cần nghe trong gió, những  bộ phim tình cảm như ” Người phu xe ” tài tử chính Toshiro Mifune đã lấy của tôi bao nhiêu nước mắt. Còn nữa, Keichiro Akagi, James Dean của màn bạc Nhật trong những phim hành động mà ngày tôi ra đi, bạn tôi, một con nhỏ rất ” thần tượng ” tài tử này căn dặn nhớ gửi hình ảnh, tin tức về Akagi cho nó đọc ” đã đời”. Ơ hơ,  chắc nó tưởng Tokyo nhỏ như Saigon , như nhà nó gần mấy cái rạp hát Lê Lợi, Vĩnh Lợi chuột chạy dưới chân muốn đi xem phim muốn có hình tài tử điện ảnh  quá dễ dàng như ăn kẹo. Nó đâu ngờ tôi, người bạn thân yêu của nó đang đứng trước câu hỏi vĩ đại, vĩ mô của
văn hào Shakespear nhằm giải quyết  một vấn đề vi mô, nhỏ như con thỏ ở cái xứ nổi tiếng ăn ở vệ sinh, sạch sẽ tươm tất này.
 ” Ohuro or not Ohuro that is a question “.
Đúng là question, là vấn nạn thật rồi, Suốt đêm hầu như tôi không ngủ được, phần thì lạ nhà, lạ chỗ, người bứt rứt  do không được “khỏe vì nước” thêm cả nỗi lo lắng về nhiều điều lạ lẫm, khó khăn  thử thách trong chuyện học hành lẫn đời sống hằng ngày ở đây.

Ông bà ta thường nói: ” cái khó bó cái khôn”, Sự khó khăn, thiếu thốn thường làm con người khó sáng tạo.Tôi thì nghĩ khác. chính cái khó  mới ” ló “cái khôn, chịu khó  động não sẽ có ý tưởng và tìm ra giải pháp. Sau khi cùng với cả nhà ăn bữa cơm sáng đầu tiên, mỗi người một con cá chiên nhỏ, một bát canh tương miso siri  ” toàn quốc ” , ( có thể hiểu chỉ có nước hay cả nước Nhật đều ăn loại  canh này ) vài ba miếng củ cải muối, thằng bé con bà chủ nhà có  thêm quả trứng gà sống đánh tan trộn vào bát cơm nóng, thêm chút xì dầu, nó ăn ngon lành.

Người Nhật ăn sáng rất nhanh, vội vội vàng vàng để kịp ra ga tàu điện đi làm, trẻ con đi học trường gần nhà, chúng đi bộ cũng rất nhanh. Tác phong của công dân một nước công nghiệp phát triển là nhanh chóng, gọn nhẹ và tiết kiệm, nhất là tiết kiệm thời gian vì thời gian không thể tính bằng tiền, có khi nó quý hơn cả tiền.Trở lại “cái khó mới ló cái khôn”  của tôi, thật ra chả phải phát minh gì lớn lao, sau khi mọi người ra khỏi nhà, tôi hỏi bác chủ nhà: Nhà mình có cái ống  cao su nào dài dài không bác? Tôi giải thích tôi sẽ nối cái ống cao su khoảng 3 mét vào cái  vòi nước chảy xuống bồn rửa bát ra chỗ genkan ( khoảng trống để giày dép trước khi bước vào nền thảm, hay chiếu trong nhà ) diện tích khoảng độ 1 mét vuông   để làm cuộc tẩy trần, đầy đủ quần áo như trẻ con tắm mưa. Tôi đang rất cần nước, con cá nó sống nhờ nước, tôi đang là con cá mắc cạn đây. Bà chủ gật đầu tỏ vẻ chấp thuận và lôi trong góc bếp cái vòi cao su dài ngoằng. Bà nói : Bác cũng làm như vậy để rửa cái genkan và tưới mấy bụi cây tùng trồng trước cửa nhà. ( Ha ha, đúng là chỉ có phụ nữ Việt Nam mới ” ló ” cái khôn tuyệt vời như vậy ).
Sau khi  đã  “khỏe vì nước ” xong, quần áo tươm tất. tôi ngồi chờ anh tôi đưa đi xem phố xá Tokyo, anh tôi phải đi cửa sau vào nhà, vì genkan lau chưa kịp khô. Được bà chủ nhà  “báo cáo thành tích” : đêm qua tôi chạy trốn kiểu tắm khỏa thân ở phòng tắm công cộng, và sáng nay tôi đã phát minh kiểu tắm mưa  ở genkan, thì ông im lặng chẵng nói chẵng rằng (thế mới sợ! ) Chỉ khi trên đường ra nhà ga ông mới nhỏ nhẹ thuyết phục tôi nên đi tắm công cộng: ” Có gì đâu mà mắc cỡ, ai cũng như ai mà, tắm ohuro tốt cho sức khỏe, anh bây giờ ghiền đi ohuro …”  Tôi gật đầu đưa 3 ngón tay hẹn anh ” sự bất quá tam “, cho tôi “tắm mưa” hai lần nữa. Anh lắc đầu, kiểu dứt khoát  rất “quyền huynh thế phụ “.
Suốt một ngày cùng với anh đi shopping, lê la khắp những khu mua sắm cao cấp, khu bán đồ   điện tử, leo lên các cầu thang ở nhà ga, hai chân tôi mõi nhừ, đau “tê tái”. Thêm một trải nghiệm về cái sự đi bộ như chạy của người Nhật, nhà ga, tàu điện, siêu thị bách hóa  (depatoo ) đông người khủng khiếp, chả biết người ở đâu ra mà lắm thế. Ngay buổi tối hôm đó, trở về nhà  tôi quyết định đi ohuro một mình. Đúng là không có gì mà  “ầm ỹ”,  cứ vô tư bắt chước người bản xứ , dân Nhật và dân  Israel nghe nói là sạch sẽ nhất thế giới, Israel thì tôi không biết chứ người Nhật họ xem việc tắm rửa   là  hoạt động thường ngày rất quan trọng đối với họ. Họ có thể đứng ăn, húp xì xụp một bát mì nóng ở nhà ga chỉ trong 5 phút, nhưng họ dành cho việc đi tắm cả nửa giờ đồng hồ có khi hơn.
  Hình ảnh nội tuyến 1
  Ohuro công cộng hiện nay

Người Nhật không e ngại việc trần truồng trước người khác.Trong gia đình vợ chồng con cái tắm chung là chuyện bình thường. Họ bắt đầu bằng việc làm sạch người thật tỉ mỉ bằng xà phòng. Khi đã cảm thấy sạch sẽ rồi, họ bước vào hồ hay thùng  nước nóng khoảng 45 độ ngâm một lúc lâu, bước ra thì thân thể đỏ như con  tôm luộc. Người Nhật quen với việc ngâm nước thật nóng, xây hoặc chứa nước nóng  trong các bể  bằng gạch hay thùng  bằng gỗ Hinoki rất chắc và bền. Nhật Bản là đất nước của núi lửa và suối nước nóng nhiều vô số kể, thuận lợi cho việc du lịch nghỉ dưỡng, ngoài chuyện đi chơi  ăn uống, tắm cũng là một trong nhiều thứ ” khoái ” làm cho người Nhật thích thú và hưởng thụ hết mình.

  Hình ảnh nội tuyến 1
  Ohuro ở khách sạn

Ở  cái nhà tắm công công trong một khu phố nhỏ ngoại ô Tokyo, ai đến đây hình như cũng đều biết nhau. Họ trần truồng, cúi rạp người chào nhau lễ độ, và thân thiện. Họ còn nhờ người quen kỳ lưng hộ, nhất là các bà đi tắm với con dâu hay con gái hoặc bạn hàng xóm. Tính cộng đồng trong gia đình, láng giềng ở Nhật rất đặc sắc, có lẽ bắt đầu từ cái chuyện đi tắm công cộng này. Nó có từ rất xưa, ở thôn quê còn có những nhà tắm công cộng các ông các bà tắm chung, các nhà nghỉ ở vùng có suối nước nóng, hồ tắm bể ngâm có thể sử dụng chung cho tất cả mọi người không phân biệt nam nữ. Về mặt y học, việc tắm và ngâm nước nóng rất tốt cho sức khỏe. Nước nóng làm máu huyết  lưu thông gân, xương, khớp được thư giản một cách nhẹ nhàng, dễ chịu.
Tắm nước nóng  giúp cho giấc ngủ ngon và sâu. Người Nhật có tuổi thọ cao có lẽ nhờ biết vệ sinh thân thể một cách bài bản, các cụ già càng thích tắm nước nóng, càng có cơ hội kéo dài tuổi thọ vì trước tiên họ sẽ có một giấc ngủ tốt, thức dậy tinh thần sảng khoái. Đi tắm công cộng có cơ hội gặp gỡ, giao lưu với cộng đồng, dù cộng đồng chỉ là vài ba người bạn già. Tuổi già cần bạn, còn sống, còn được kỳ lưng cho nhau là hạnh phúc. Hạnh phúc đơn giản mà quý giá ở tuổi xế chiều.
  Hình ảnh nội tuyến 1
Ohuro ở suối nước nóng ( onsen )

Những bước chân đầu tiên của tôi ở Nhật Bản cũng đơn giản  bình thường như thế đó. Phải  nhiều năm tôi mới nhận ra đây  là những bước đi căn bản của cuộc đời tôi, vươn ra và hội nhập với một thế giới bao la, xa lạ, đầy những khám phá thú vị  khi ấy  tôi chưa tròn 19 tuổi. Những khó khăn vất vả nơi xứ người. Ở một đất nước thường xuyên bị thiên tai, bị tàn phá  nặng nề sau chiến tranh, nhìn người Nhật lao động và và học tập đã giúp tôi trưởng thành, mạnh mẽ. Những dấu ấn đặc sắc trong đời sống người Nhật, văn hóa, phong  tục, tập quán nước Nhật  tôi đã được học hỏi, giờ đã trở thành những trải nghiệm, những  kỷ niệm khó quên.
Nhớ về  quãng đường dài của hàng triệu triêu bước chân tôi đã  đi trên trái đất này,  tôi  đã  gom nhặt và lưu giữ kỷ niệm về những bước chân trên  nước Nhật những ngày xa xưa ấy, như  đang  đặt những viên kẹo gói bằng những mảnh giấy nhiều mầu sắc, nhiều hoa văn rất đẹp  vào cái lọ thủy tinh trong  suốt . Để rồi ..thỉnh thoảng lấy ra ngắm, thỉnh thoảng  nhón một
 cái ngậm trong lưỡi. Hương vị  tan dần, tan  dần, lan tỏa một nổi niềm hạnh  phúc rất …bâng  khuâng, ngọt ngào.
   

Phùng Kim Yến
Chiba – Shi 
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam

http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler/Upload/UploadPhotoAlbum/2014/1/2/2BaoAnh212014114049414_wh890_590.JPG
Nhân dân Việt Nam chào đón năm mới 2014
 

Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình.

 
Hơn ai hết, Việt Nam từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, sự vi phạm lớn nhất quyền con người hiểu rõ rằng quyền con người là thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác. Việt Nam cho rằng, cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng,quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì chương về quyền con người được đặt vào vị trí hết sức quan trọng. Trước đây, Hiến pháp Việt Nam chỉ nêu ở phần sau, bây giờ đặt hẳn một chương về quyền con người, mà đó là xu hướng của thế giới. Việc Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền liên hợp quốc là một đòn giáng mạnh vào một số cá nhân , tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam. Từ bấy lâu nay họ luôn “Hòa tấu” bài ca nhân quyền, họ xem đó là gót chân “Asin” của Việt Nam, để ngăn cản bất cứ chuyện gì mà Việt Nam hòa nhập với thế giới. Với cái gọi là ”Bảo bối” nhân quyền này một số cá nhân, hội đoàn người Việt có tư tưởng cực đoan ở hải ngoại mà đặc biệt tại Hoa Kỳ có lúc đã tác oai, tác quái, hết “Thư ngỏ” đến “Thỉnh Nguyện thư” gởi đi các nơi đặc biệt là các nhân vật hiện là dân biểu trong thượng hạ viện Mỹ hòng dùng chiêu bài này bôi nhọ hình ảnh nhân quyền ở Việt Nam. Trong các vấn đề về quyền con người. Phải khẳng định rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến bảo đảm an sinh xã hội. Đó là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra mặc dù thời gian qua kinh tế xã hội hết sức khó khăn, thế nhưng đầu tư cho an sinh xã hội vẫn được đảm bảo rất cao. Nhưng các nhà “Dân chủ” hoặc những thành phần chống cộng cực đoan cùng với một số cơ quan truyền thông việt ngữ ở hải ngoại vẫn cố tình không chấp nhận một sự thật hiển nhiên đã xảy ra là: Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất. Kết quả đó đã phản ảnh đúng những gì mà Việt Nam phấn đấu, hoàn thiện trong suốt một thời gian dài. Thực tế hàng năm Việt Nam rất tích cực đối thoại nhân quyền, mở rộng cửa sẵn sàng đối thoại. Qua đối thoại trực tiếp các nước, các tổ chức họ mới nhận thức được rằng, giữa thông tin sai lệch của một số đối tượng thì hoàn toàn khác xa với thực tế đang hàng ngày, hàng giờ đang diễn ra ở Việt Nam. Những mong muốn, quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người đã xóa tan sự nghi ngờ, phản bác lại những luận điệu vu khống, thóa mạ về nhân quyền Việt Nam của những người không thiện chí. Là thành viên của tổ chức nhân quyền Liên Hợp Quốc Việt Nam sẽ thể hiện trách nhiệm của mình một cách đầy đủ nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa , lúc sinh thời luôn có một ước vọng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Ý nguyện đó đã phản ánh khát vọng của toàn dân tộc Việt Nam. Thực hiện những giá trị thiết yếu về quyền con người, là mục đích, tôn chỉ hoạt động xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, sắc tộc, tôn giáo đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi thử  thách, gian khổ, hy sinh to lớn để giành và giữ các quyền cơ bản đó. Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân Việt Nam nêu tám yêu sách gửi Hội nghị Véc-xây (năm 1922), yêu cầu chính quyền Pháp trả lại những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho người dân Việt Nam, trong đó có cải cách nền pháp lý Đông Dương, thay đổi chế độ sắc lệnh bằng luật pháp, mà người dân Việt Nam phải được hưởng đầy đủ các quyền tự do báo chí, tư tưởng, tự do lập hội, tự do cư trú ở nước ngoài, tự do học tập… Đến bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã có bước phát triển mang tính cách mạng. Mở đầu với việc khẳng định những quyền cơ  bản mà tạo hóa ban cho mỗi con người và khép lại bằng lời tuyên bố trịnh trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”, bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam, trong đó thừa nhận các quyền cơ bản của con người, đồng thời, lần đầu tiên, quyền cá nhân được mở rộng thành quyền dân tộc, và quyền con người. Sự bình đẳng của mỗi cá nhân được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với quyền dân tộc, đó là quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết.
 
Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều 1 của cả 2 Công ước quốc tế cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về  các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị.
Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Quyền con người có cội rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của một dân tộc luôn nêu cao tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, đồng thời phản ánh nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam mà dân tộc này từng là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược và bị tước đoạt những quyền và tự do cơ bản nhất. Là thành viên của tổ chức nhân quyền LHQ, Việt Nam sẽ có tiếng nói rất quan trọng trong việc xác định để làm cho thế giới rõ hơn vấn đề quyền con người ở mỗi quốc gia và đặc biệt là để hiểu rõ hơn về quyền con người ở Việt Nam.Trước đây Việt Nam không ở trong Hội đồng, cho nên các nước thành viên chỉ nghe theo “Kênh” một chiều thù địch như “Phúc trình”,, “Báo cáo thường niên”..vv, họ nói hoặc thậm chí họ ra các nghị quyết mà Việt Nam không được tham gia, không có cơ hội chứng minh, phản biện những quy kết kiểu “Chụp mũ” thì nay Việt Nam ở trong Hội đồng rồi thì chúng ta có quyền phát biểu, chứng minh bằng hành động, chứng minh bằng điều kiện thực tế để họ nhận thức và thấy rõ quyền con người ở Việt Nam. Có thể nói, vấn đề quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề cao, nhận thức tích cực và áp dụng phù hợp với Việt Nam. Nhờ đó, từ một dân tộc bị tước  đoạt cả những quyền tự do cơ bản nhất, người dân Việt Nam đã được thụ hưởng ngày một đầy đủ và toàn diện hơn các quyền của mình. Mặc dù hiện nay, trên thế giới còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề quyền con người và thậm chí một số thế lực thù địch đã lợi dụng điều này để vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, song những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đạt được trong những năm qua là bằng chứng không thể phủ nhận cho những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực này./.
 
 Hoa Kỳ 8-2014
 John Lee TBT VHN.NET
Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Quyền con người được tôn trọng và ngày càng thăng hoa khi đất nước ổn định và phát triển

 

 

 

 

 

Hình ảnh
Đem “con chữ” lên vùng cao

Dân tộc Việt Nam có một bề dầy về lịch sử  và một nền văn hiến lâu đời. Trong hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, mặc dù có hàng ngàn năm bị đô hộ của ngoại bang nhưng vẫn quyết đứng lên giành lại độc lập, đó là cách thể hiện nhân quyền cao nhất của một dân tộc, và sau này cả dân tộc Việt Nam tuyên bố với thế giới bằng bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo. Đó là một tuyệt tác, nó nhắc lại một lần nữa bản tuyên ngôn độc lập của cường quốc Hoa Kỳ năm 1776. Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng là bản tuyên ngôn về nhân quyền cho dân tộc Việt Nam, về ý nghĩa nó bao trùm tất cả những điều mà loài người tiến bộ trên toàn thế giới theo đuổi. 

Thành tựu nhân quyền Việt Nam là một thực tế khách quan, được đông đảo các nước trên thế giới công nhận và điển hình là việc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tín nhiệm bầu Việt Nam là thành viên của hội đồng này, tại phiên họp diễn ra năm ngoái. Việt Nam rất thiện chí trong việc tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức nước ngoài vào tìm hiểu tình hình nhân quyền, từ đó có cách nhìn khách quan, đúng đắn hơn, đồng thời sẵn sàng đối thoại để làm rõ những vấn đề còn khác biệt.
Một nguyên tắc cơ bản nhất bảo vệ quyền con người đó là các nước nhỏ chống lại tham vọng tước đoạt độc lập, chủ quyền của các nước lớn, chống lại áp bức, chống lại kiếp làm nô lệ, chống lại bạo quyền, chống độc tài. Bất cứ một sự can thiệp nào của nước lớn vào công việc nội bộ của một nước mà chính phủ đó do dân bầu ra, chính phủ đó vì dân thì sự can thiệp chỉ là một cái cớ áp đặt hòng thao túng theo ý đồ nước lớn. Dân tộc Việt Nam sẽ phản đối đến cùng sự áp đặt đó, quyền con người được tôn trọng và ngày càng thăng hoa khi chủ quyền quốc gia được giữ vững, đó là điều kiện tiên quyết.
Quyền con người là giá trị chung của các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, thể chế quốc gia và bản sắc văn hóa. Đó là giá trị cốt lõi, đặc trưng của nhân loại. Chính vì vậy, các quốc gia không chấp nhận bất cứ hành động nào nhằm chính trị hóa vấn đề nhân quyền. Một dân tộc trải qua hai cuộc chiến tranh thần thánh, một dân tộc luôn bị tư tưởng bành trướng hăm dọa nhưng vẫn cương quyết bảo vệ chân lý đã được cả thế giới ngợi ca về lòng quả cảm về nhân phẩm con người thì không có một lý do gì lại không bảo vệ thành quả xương máu đó mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ một quốc gia độc lập.
Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn cho mình một định chế xã hội và ý thức hệ, mỗi quốc gia độc lập thì tuỳ theo thực tế mỗi nước mà lựa chọn riêng cho mình. Nội dung quyền về con người là một vấn đề riêng của mỗi nước, nó cũng giống như chủ quyền quốc gia vậy, vấn đề về nhân quyền không thể nào tách riêng ra khỏi lịch sử của đất nước đó hoặc những nét đặc thù riêng của từng quốc gia.Vấn đề nhân quyền cho thấy nó đòi hỏi tất cả các nước phải chấp nhận một thực tế là những chuẩn mực của một nước hoặc là một nhóm các nước không thích hợp và thiếu thực tế để áp đặt những chuẩn mực đó lên một nước khác. Trong một thời gian dài nhiều thông tin về Việt Nam bị một số cá nhân, tổ chức không có thiện cảm  cố tình bôi nhọ, bóp méo, nên việc chắt lọc thông tin, thái độ góp ý xây dựng, sự tìm hiểu khách quan những tiến bộ thì những tồn tại sẽ giúp các bên xích lại gần hơn trong vấn đề này. Đây cũng là lý do mà nhiều năm qua, Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tổ chức có trách nhiệm của quốc tế và các nước vào tìm hiểu và đối thoại thẳng thắn, nắm bắt thông tin chính xác về nhân quyền. Một quan chức bộ ngoại giao đã nói:“Khi họ vào đây, chúng tôi cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho đi tìm hiểu các địa phương. Hôm chia tay đoàn nghị sĩ Nghị viện Châu Âu, khi được hỏi “các ngài thấy thế nào, họ trả lời, quả thực chứng kiến những tiến bộ về quyền con người ở Việt Nam, người ta có câu “trăm nghe không bằng một thấy”, các ngài nói câu ấy, giờ tôi mới hiểu, mới tâm đắc”. Năm 2013, đối thoại Nhân quyền Việt Nam – Hoa Kỳ lần thứ 17 đã diễn ra tại Hà Nội và tại cuộc đối thoại, hai bên đã thẳng thắn trao đổi thông tin về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm, trong đó có các vấn đề liên quan đến nhà nước pháp quyền, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền của người khuyết tật, người đồng tính, việc thực hiện khuyến nghị cơ chế báo cáo UPR, tình hình thực thi và bảo vệ các quyền con người ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong thời gian ở Việt Nam, đoàn Phó Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Baer đã được tạo điều kiện gặp một số cá nhân phía Hoa Kỳ quan tâm và người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Thanh Nghị nói.  “Chúng tôi tin rằng việc Việt Nam và Hoa Kỳ duy trì đối thoại thường xuyên về các vấn đề, trong đó có vấn đề quyền con người, trên tinh thần cởi mở, xây dựng, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau sẽ góp phần tăng cường hiểu biết, thúc đẩy hợp tác, vì lợi ích của nhân dân hai nước”. Bên cạnh đó, một vấn đề cũng hết sức quan trọng là bảo đảm nâng cao khả năng tiếp cận quyền của người dân. Hiến pháp, pháp luật đã ghi nhận các quyền cơ bản của con người, của công dân. Tuy nhiên, khả năng người dân có thể tiếp cận, sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền của mình phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau cũng như phụ thuộc vào mức độ hiểu biết, cơ chế, thủ tục bảo đảm thực thi các quyền. Vấn đề này đặt ra trách nhiệm đối với các cơ quan nhà nước, từ việc phổ biến, tuyên truyền các nội dung mới của Hiến pháp liên quan đến các quy định mới về quyền con người, quyền công dân, đến việc hoàn thiện pháp luật và thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy để bảo đảm thực thi. Trong tuyên bố của mình, Hạ nghị sỹ Faleomavaega hoan nghênh Báo cáo rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Việt Nam vừa được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua ngày 8/2/2014 tại Geneva.  Hôm 7/4/2014, Hạ nghị sỹ Eni Faleomavaega, thành viên cao cấp của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đã thiện chí trao cho Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Cường bản ghi nhận của Quốc hội Mỹ, trong đó ghi lại toàn văn tuyên bố của ông Faleomavaega về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Cũng theo Hạ nghị sỹ Faleomavaega, trong các chuyến thăm Việt Nam với tư cách là Chủ tịch và thành viên cao cấp của Tiểu ban châu Á – Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, ông đã có cơ hội tham dự nhiều buổi lễ tôn giáo tại các địa điểm thờ tự khác nhau, qua đó có thể khẳng định Việt Nam là một quốc gia tạo thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo và đang tích cực bảo vệ các tổ chức tôn giáo theo luật pháp. Bản ghi nhận này sẽ được sử dụng làm tài liệu chính thức của Hạ viện.
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ quy định rõ ràng, đúng đắn và đầy đủ về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước, đã bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hiến pháp đã tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992. Đồng thời, Hiến pháp cũng đã bổ sung một số quyền mới. Đó là thành tựu của gần 30 năm đổi mới đất nước, thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. Thử hỏi các vị “dân chủ” trong nước và các tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam đã có những nhận xét không khách quan khi phát biểu về tình hình thực tế những gì đang diễn ra ở Việt Nam là: có bao giờ Việt Nam lại đi ngược lại những mục tiêu mà cả một dân tộc đã 69 năm phấn đấu trường kỳ đầy xương máu để có ngày hôm nay? Chỉ có kẻ mang tư tưởng hẹp hòi, trục lợi, nước lớn khi muốn áp đặt ý muốn của mình lên các nước nhỏ thì họ luôn khoác trên mình một chiếc áo ý thức hệ phổ quát, dùng chiêu bài này để xoá bỏ những đặc thù riêng của mỗi dân tộc, xoá nhoà văn hoá, biên giới lãnh thổ quốc gia, không thèm đếm xỉa đến quyền tự chủ của dân tộc đó, đem ý thức hệ của mình áp đặt lên dân tộc khác.
Trong một thế giới có sự xáo trộn mạnh như ngày nay thì nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền là chìa khoá duy nhất để thực thi trật tự trên nguyên tắc cùng sống chung, chỉ có những quốc gia nào hành xử không theo những nguyên tắc chung mà hiến chương liên hợp quốc đề ra về quyền con người thì nhất định quốc gia đó cần có sự can thiệp một cách hợp lý nhất. Việt Nam là đất nước của hơn 90 triệu con người, một dân tộc có những nét đặc trưng rất thú vị cho các dân tộc khác, một dân tộc trọng tình nghĩa, chia ngọt sẻ bùi với các dân tộc láng giềng, một dân tộc đã lấy máu của mình để cứu cả một dân tộc khác, một dân tộc sẵn có lòng vị tha cho kẻ thù đã giết hại hàng triệu người cùng dòng máu, một dân tộc nén nỗi đau của di hoạ chiến tranh vì không muốn khơi lại hận thù, một  dân tộc đi lên từ đống tro tàn đổ nát của cuộc chiến đẫm máu, họ đã nuốt mước mắt vào trong để nở một nụ cười, chìa tay ra với các dân tộc khác để làm bạn bè cho dù đó là kẻ thù của ngày hôm qua. Có đât nước nào mà suốt chiều dài đi đâu cũng gặp những nghĩa trang của những người con Việt, một đất nước mà đã một thời gian ngập chìm trong khói lửa chiến tranh những bà mẹ Việt Nam nghèo khó tiễn đưa những đứa con cuối cùng của mình ra trận để rồi “Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ….các anh không về….”  họ đã nằm xuống ở tuổi thanh xuân vì một lý tưởng cao đẹp là độc lập mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ thực sự đất nước mình. Dân tộc Việt Nam đang là chủ nhân thực sự của đất nước mình, họ đang sống, làm việc và vun đắp cho hạnh phúc trường tồn của dân tộc, không một ai có thể tước đoạt hoặc áp đặt một giá trị lạ lẫm lên cuộc sống và văn hoá của dân tộc này, cho dù để bảo vệ phẩm giá thiêng liêng đó phải đối đầu không ít khó khăn, trở ngại nhưng với bản chất kiên trì và tâm hồn trong sáng dân tộc Việt Nam quyết không lùi bước, như cha ông đã dặn dò “chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo ”./.
 
Hoa Kỳ 24-8-2014
John Lee – VHN.NET
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Đừng Lợi Dụng Danh Nghĩa “Xã Hội Dân Sự” Để Làm Điều Xằng Bậy

 Bài Viết Của John Lee – VHN.NET Đăng tải trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam 8-2014

 Hình ảnhHình ảnh

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam cũng không ngoại lệ, việc hội nhập mạnh mẽ như hiện nay đã làm thay đổi rất nhiều kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, khi mà đời sống vật chất, tinh thần của mỗi người dân trong nước được nâng cao thì quyền con người ngày càng được luật pháp quốc gia tôn trọng, bảo vệ. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vượt bậc trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, được thế giới ghi nhận và cổ vũ. Đặc biệt là Sau khi Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, nhiều đại diện quốc gia đã bày tỏ vui mừng và chúc mừng Việt Nam. Ông Masood Khan, Trưởng phái đoàn Pakistan tại LHQ nói: “Đây là một thành công kỳ diệu. Tôi xin được chúc mừng Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng như phái đoàn Việt Nam tại LHQ”. Ông Santos Sergio, Trưởng phái đoàn thường trực Brazil tại LHQ cho rằng: “Việc Việt Nam nhận được số phiếu cao nhất trong các nước ứng cử cho thấy sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế với đất nước các bạn”. Trưởng phái đoàn Saudi Arabia tại LHQ, Abdallah Al-Muallimi cho biết: “Tôi cho rằng Việt Nam hoàn toàn xứng đáng trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền LHQ. Chúng tôi đánh giá cao những thành tựu của nhân dân Việt Nam và hy vọng sự tham gia của Việt Nam sẽ góp phần tăng cường và thúc đẩy những giá trị cũng như hoạt động của Hội đồng nhân quyền LHQ… Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì vị thế của mình tại Hội đồng nhân quyền LHQ”.
Ấy vậy mà một số cá nhân, tổ chức của cái gọi là “nhà dân chủ”  không “hài lòng” những gì mà dân tộc này đã nỗ lực phấn đấu đạt được, họ đã ra sức lợi dụng quyền tự do, dân chủ để che dấu hoạt động chống phá nhà nước, thóa mạ những thành quả cách mạng mà cả một dân tộc đã giành được khi phải hứng chịu những cuộc chiến tranh tàn khốc và những năm tháng cấm vận nghặt nghèo. Hành động của các nhà “Dân chủ” và các “Hội, đoàn…”  được sự tiếp sức, hà hơi của những cá nhân người Việt chống cộng cực đoan  ở hải ngoại mà đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Những Hành động đó không chỉ làm xấu đi hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam luôn yêu hòa bình, một đất nước luôn mở rộng vòng tay chào đón bạn bè trên khắp thế giới, một xã hội an toàn cho mọi người trong một thế giới đầy biến động. Hành động đó còn xâm phạm trực tiếp đến những quyền lợi hợp pháp khác  và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, gây bất ổn cho  an ninh quốc gia. Họ đã dùng những “Lý lẽ” viện dẫn những điều trong hiến pháp sửa đổi năm 2013 về các quyền của con người, lôi kéo những người không tỉnh táo, phụ họa, cổ súy cho những luận điệu như: đòi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi tam quyền phân lập, xây dựng “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, đòi “chuyển đổi thể chế chính trị …vv.

Trong những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến một số thành công của mô hình “thúc đẩy xã hội dân sự” lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông bằng các cuộc “Cách mạng màu”. “Cách mạng hoa” bắt nguồn từ các “xã hội dân sự”. Lợi dụng quyền tự do lập hội để lập ra nhiều hội, nhóm không đúng quy định pháp luật, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng, thậm chí trá hình, hoạt động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Để “Hợp thức hóa” âm mưu thâm độc thì những hội, nhóm này khoác lên trên mình những vỏ bọc nghe chừng vô hại như: các câu lạc bộ xã hội, hội nghề nghiệp, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, hội ủng hộ….vv. Đọc qua điều lệ ta không thấy họ lộ ra mục đích chống lại sự lãnh đạo của Đảng, chính phủ nhưng thực tế qua các vụ án với những lời khai trước tòa thì lộ ra những điều thực tế đó là: Thực hiện các hoạt động gây hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội bằng cách như: lôi kéo, móc nối người phát triển lực lượng trong nước và ngoài nước, xuyên tạc, vu khống,  tán phát, đăng tải các tài liệu, tin, bài viết kích động gây ngờ vực, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, bôi đen tất cả những thành quả mà nhân dân  cùng Đảng và chính phủ đã nỗ lực đạt được trong công cuộc đổi mới, xuyên tạc cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Một số tổ chức trong nước dựng lên những Website mời gọi những kẻ gọi là “Nhà dân chủ hải ngoại” viết bài theo kiểu “Bịt mắt nói càn” bất chấp lẽ phải bằng việc xuyên tạc, bóp méo, bôi đen tình hình nhân quyền Việt Nam, kêu gào các tổ chức, cá nhân ở một số nước có những thành kiến với Việt Nam làm ra những “Thỉnh nguyện, nghj quyết, phúc trình….” thông qua đó gây áp lực với quốc tế hòng vu cáo Việt Nam như: “Chính quyền Việt Nam đã làm cho tình trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay suy thoái rất trầm trọng ,… Tòa án Việt Nam càng ngày xử càng nhiều những bloggers,… người dân phản đối chính quyền chiếm đất đai, nhà cửa của họ chính quyền đàn áp quyền tự do bày tỏ ý kiến và tự do hội họp của rất nhiều người thuộc mọi giới”… Chúng ta nhận thấy rằng thời gian này, một số cá nhân và nhóm người đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải tôn trọng và bảo đảm quyền công dân, quyền con người . Trong những quyền đó, người ta đặc biệt nhấn mạnh đến nhóm quyền dân sự chính trị. Họ ngụy tạo bằng những từ ngữ trong các “Tuyên cáo” như: Đấu tranh “Ôn hòa, bất bạo động…” hòng che dấu những ý đồ đen tối mà những cá nhân tổ chức này cố tình phớt lờ một điều quan trọng trong việc “đòi” của họ đó là: Bản chất gốc của các tổ chức xã hội dân sự ra đời không phải để đấu tranh chính trị mà là để thẩm định chất lượng quản trị đất nước của chính phủ.Tổ chức xã hội dân sự bày tỏ chính kiến của mình với mục đích cùng chính phủ quản lý tốt hơn các chính sách đã đề ra chứ không phải là “lật đổ” chính phủ hiện hành, đấu tranh chống đối nhà nước. Xin thưa với các nhà “Dân chủ” rằng: tất cả những điều các vị cao giọng về những hoạt động “ôn hòa bất bạo động”, thì thực tế nhãn tiền đã xảy ra ở các nước bắc phi, trung đông, đông âu, thực tế đời sống chính trị trên thế giới cho thấy lợi dụng xã hội dân sự làm quân bài chiến lược để thu hút đám đông và làm vỏ bọc cho mình thực hiện mưu đồ bạo loạn để trục lợi.

Vậy thì ở Việt Nam có các tổ chức dân sự không? Xin nói ngay rằng không những có mà rất đa dạng, người dân trong nước không lạ lẫm gì với các hội, đoàn mà họ đã và đang tham gia, toàn quốc đã có khoảng 460 hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp có phạm vi hoạt động trong toàn quốc, liên tỉnh, thành phố; 20 tổ chức công đoàn ngành, trên 36.000 tổ chức hội, hiệp hội, câu lạc bộ ở các địa phương hoạt động, ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Với số lượng các tổ chức dân sự nhiều và đa dạng đáp ứng hoàn toàn nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, mọi người dân hoàn toàn tự nguyện và thỏa mãn nhu cầu của mình, như vậy không thể nói xã hội dân sự ở Việt Nam là “Con số không tròn trĩnh” như các nhà “Dân chủ” lu loa được, và một điều tuyệt nhiên các tổ chức xã hội này không “đòi” lật đổ chế độ hiện hành như các vị.
Trong thời đại thông tin kỹ thuật bùng nổ và đa dạng như ngày nay, cho dù có không ít người, tổ chức đã lợi dụng nó để dẫn dắt một bộ phận người dân chưa có điều kiện tiếp nhận thông tin, họ đã tạo ra dư luận, để xuyên tạc, bôi nhọ, cản trở Việt Nam trên con đường hội nhập quốc tế để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc. Song không phải lúc nào và ở đâu họ cũng có thể làm được điều mình mong muốn. Mọi người dân luôn sáng suốt nhận diện những cá nhân, tổ chức với mưu đồ bất chính của họ cho dù được bọc bằng những ngôn từ mĩ miều như thế nào chăng nữa thì hành động của họ sẽ bị chính người dân Việt Nam yêu hòa bình và công lý nhận diện và lên án
Nói về quyền con người thì như vũ trụ bao la! đâu là giới hạn cuối cùng ? đến nay chúng ta chưa hình dung hết được, một khi loài người càng tiến về phía trước thì dường như cái đích càng lùi xa…. nguyên do là tư tưởng con người không có giới hạn, nhu cầu đòi hỏi về vật chất không có điểm dừng…. bởi vậy cho nên mọi sự phấn đấu của mỗi một con người, sự tận tâm, tận lực của Đảng, nhà nước Việt Nam sẽ làm rất nhiều việc để cho cuộc sống của mỗi một người dân bảo đảm những quyền được hưởng về cả tinh thần lẫn vật chất như tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình.

Viết tại Texas Hoa Kỳ 20-7-2014

AMARI TX

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Hãy cảnh giác với ý đồ “Đánh bùn sang ao” của các vị “Dân chủ” !


Tại Mỹ ngày 18/5/2014,con phố nhỏ mang tên International Place vốn chẳng mấy người qua lại tại thủ đô Washington DC tràn ngập trong sắc đỏ của quốc kỳ Việt Nam cùng một rừng biểu ngữ phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Đoàn biểu tình vừa tuần hành quanh sứ quán Trung Quốc vừa hát vang quốc ca Việt Nam, biểu thị sự đoàn kết muôn người như một trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.

Trước việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981  trái phép sâu trong thềm lục địa của Việt Nam, nhân dân cả nước và kiều bào  ở nước ngoài đã phẫn nộ trước sự ngang ngược thô bạo của Trung Quốc. Sự phẫn nộ đó được thể hiện bằng nhiều hình thức sôi động thể hiện lòng yêu nước chân chính một cách ôn hòa . Đã có rất nhiều cuộc mít tinh, hội thảo, tuần hành của đồng bào ta ở trong nước và kiều bào ở khắp nơi trên thế giới kiên quyết phản đối hành động sai trái của Trung Quốc được bạn bè ở các nước sở tại ủng hộ và tham gia. Hình ảnh đó đã được phản ảnh đậm nét trên các tờ báo uy tín trên toàn thế giới. Với chủ trương ủng hộ đối sách của Chính phủ Việt Nam trong việc yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hàng triệu con tim mang dòng máu Việt ngày đêm hướng về  Hoàng Sa với nỗi lo âu và phẫn nộ trước những hành động ngang ngược, hung hãn của các lực lượng hộ tống dàn khoan 981 của Trung Quốc. Những hành động thiết thực của nhân dân trong nước và bà con kiều bào ở nước ngoài đã tô thêm trang sử hào hùng của dân tộc suốt chiều dài hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Trong lúc này, hơn bao giờ hết, mong muốn mọi người: Vì Đất nước, hãy đoàn kết, thể hiện lòng yêu nước đúng cách, phù hợp với pháp luật Việt Nam. Chúng ta đã được thế giới biết đến là những Người Việt Nam luôn đoàn kết và yêu chuộng hòa bình. Và chúng ta hãy thể hiện điều đó, hãy tỉnh táo để biểu thị lòng yêu nước, không gây ảnh hưởng đến hình ảnh của con người và Dân tộc Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã kêu gọi người dân hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt, không để kẻ xấu kích động, giữ gìn an ninh trật tự, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
Trong lúc toàn dân tộc Việt Nam kết thành một khối đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ thì có những kẻ đã lợi dụng sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam, họ đã làm một việc hết sức sai trái là hùa theo đám phản động lưu vong và các thế lực thù địch với đất nước ở nước ngoài hò hét, rêu rao, kích động rằng : “Trước hành động vi phạm chủ quyền trắng trợn của Trung Quốc, Việt Nam đã nhu nhược trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc, không có nhiều biện pháp bạo lực xua đuổi Trung Quốc ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ “đấu tranh miệng” theo kiểu nửa vời” ! Đồng thời họ lớn tiếng cho rằng, “chúng ta cần phải sử dụng biện pháp quân sự, cần “sống mái”, quyết chiến với Trung Quốc một phen” ! Trên các trang mạng họ viết bài xuyên tạc tình hình trong nước, vu khống Đảng, Chính phủ là “Nô bộc của Trung Quốc” từ đó, họ kêu gọi Việt Nam phải thực hiện chế độ đa đảng với những kết luận hồ đồ là: “Rõ ràng là nhóm lãnh đạo đã không ngang tầm với trách nhiệm bảo vệ đất nước chống bành trướng và xâm lược, còn ngáng trở cuộc đấu tranh của nhân dân, không đi cùng với nhân dân, luôn tỏ ra lập trường hai mặt….”  và “Các lực lượng dân chủ nhân quyền trong xã hội dân sự hãy mở tiếp mặt trận đối ngoại năng động và sáng tạo ra ngoài biên giới nước ta. Anh chị em vận động dân chủ và nhân quyền vừa qua đã tỏ ra là một mũi nhọn xung kích của nền ngoại giao nhân dân đúng nghĩa, bổ sung và thay thế cho nền ngoại giao nhà nước ù lỳ, nhu nhược, vừa chống vừa run trước thế lực bành trướng” ! v.v, ý đồ của các cá nhân và cái gọi là “Nhóm, hội..” này là:  nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo  của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Núp dưới danh xưng “Yêu nước” chuyển từ biểu tình phản đối Trung Quốc sang thành biểu tình chống Nhà nước, lật đổ chế độ hòng vừa được tiếng là “yêu nước”, nhưng lại tạo ra được sự mất ổn định chính trị trong xã hội, tạo ra những “Ngòi nổ” cho cuộc chính biến trong toàn quốc, tiến hành “cách mạng màu”.
Xin nói cho các nhà “Dân chủ” biết rằng: Việt Nam là một nước nhỏ, trong bối cảnh thế giới liên tục có biến động, các nước lớn vì quyền lợi của họ sẵn sàng chà đạp lên những lời nói hoa mỹ, những cam kết hùng hồn. Một nước nhỏ muốn tồn tại trong thế nhiễu nhương đó  không phải dễ. Điều cần thiết là phải có chính nghĩa và toàn dân tộc phải kết nối thành một khối vững chắc quanh Đảng và chính phủ.  Lòng ái quốc là tình cảm vô cùng thiêng liêng, nó cần được khơi dậy đúng lúc. Lòng yêu nước không phải là một thứ để cho bất cứ những kẻ có dã tâm lợi dụng phục vụ cho mưu đồ đen tối.
Từ xưa tới nay, mỗi khi đất nước có nguy biến thì các bậc quân vương của dân tộc Việt đều có những bản hịch hiệu triệu muôn dân. Trong thời điểm này thì những lời kêu gọi “bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt” từ những nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước đáng để mỗi người Việt Nam phải suy ngẫm về trách nhiệm trước Tổ quốc khi lựa chọn cách thể hiện lòng yêu nước. Trên tinh thần đó, chúng ta cần phải tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo kế sách giữ nước mà Đảng ta đã nêu trong Nghị quyết Trung ương tám (khóa IX và khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là “giữ cho trong ấm, ngoài êm”.
AMARI TXNhững ngày Biển đông sôi sục 7-2014
Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Phủ nhận hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân: HÀNH ĐỘNG CỦA NHỮNG KẺ HOANG TƯỞNG VÀ ÁC ĐỘC

 

Bài viết của John Lee VHN.net Đăng trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam 7-2014
Hình ảnhHình ảnh: Bà Mẹ Việt Nam anh hùng : "Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Các anh không về..... Mình mẹ lặng im "

Chiến tranh! Khi nhắc đến hai từ đó người ta thường nhớ đến một quá khứ hào hùng và bi tráng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cũng chính vì thế, nhiều người trên thế giới mỗi khi nói đến Việt Nam lại nghĩ ngay đến chiến tranh. Rất nhiều sách báo đã nói về một Việt Nam anh hùng với lòng cảm phục. Mấy nghìn năm lịch sử dựng nước cũng là từng ấy thời gian dân tộc Việt Nam phải chống giặc giữ nước. Một lịch sử quá đậm nét sử thi từ thời Hùng Vương đến một “Điện Biên chấn động địa cầu” và cuối cùng là một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Vậy thì làm sao không nhắc đến chiến tranh khi chính ở trong đó, dân tộc Việt Nam đã có nhiều bài học đau thương, mất mát vô bờ bến vùng lên từ đống tro tàn đổ nát, trưởng thành và vững vàng cho đến ngày nay! Phải thế chăng mà người Việt Nam sẽ còn nhắc mãi và không bao giờ quên niềm tự hào về những gì mà cả một dân tộc “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Ấy vậy mà thời gian gần đây, một số người ở trong nước lại tung ra các bài viết, những phát biểu đòi “xét lại lịch sử”. Những người này, vốn trước đây “từ nhân dân mà ra”, từng theo Đảng, theo bộ đội đánh đuổi thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ xâm lược nay lại tỏ ra “sám hối”, tiếc nuối vì đã “lỡ” một thời theo Đảng. Họ lớn tiếng đòi “xét lại vai trò lãnh đạo” của Đảng, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam “đặt lợi ích Đảng lên trên lợi ích dân tộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào con đường binh đao máu lửa hơn 30 năm”. Họ phát biểu ào ào vô trách nhiệm rằng: “Đảng chỉ lấy dân làm vật thí nghiệm, vật hi sinh cho chủ nghĩa xã hội hư vô, đưa dân tộc Việt Nam vào con đường máu lửa”…
Chúng ta là người Việt Nam chân chính. Chúng ta phải nói một cách dứt khoát rằng, đây lại là một luận điệu xuyên tạc lịch sử với ý đồ bôi nhọ, chà đạp trắng trợn lên thành quả cách mạng mà toàn dân tộc phải đánh đổi bằng sinh mạng hàng triệu người con ưu tú, hàng triệu sinh mạng của người dân lành để đổi lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Luận điệu này chúng ta phải hết sức cảnh giác bởi nó dễ gây nên sự hiểu lầm, vì đối tượng phát tán tài liệu đã từng là người trải qua chiến tranh, và đã một thời đứng trong hàng ngũ của Đảng. Điều nguy hiểm là một số ít người thiếu hiểu biết lịch sử đất nước và lớp người trẻ sinh ra sau chiến tranh sẽ nhận thức sai lầm dẫn tới phủ nhận thành quả cách mạng, mất lòng tin vào chế độ, vào con đường đi tới của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Một người bất mãn – một nhà “dân chủ” tự phong đã viết trên RFA Việt ngữ: “Phan Châu Trinh mất sớm, con đường cứu nước đúng đắn Phan Châu Trinh vừa khởi xướng, đành bỏ dở! Sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam thôi đành phó thác cho những người Cộng sản! Và dân tộc Việt Nam phải trải qua con đường đấu tranh bạo lực dằng dặc máu lửa”. Thưa với nhà “dân chủ”, ông ngủ gật trong giờ học lịch sử hay sao? Lịch sử của dân tộc Việt Nam diễn tiến rất đúng quy luật và truyền thống như thế này: Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và cả khi thiết lập được quyền cai trị trên đất nước Việt Nam thì dân tộc này đã kháng cự lại. Đã có biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước. Nhưng tất cả các cuộc kháng cự đó đều bị đè bẹp và bị dìm trong biển máu. Ông cho rằng vì cụ Phan Châu Trinh mất sớm, nếu không dân tộc này sẽ đi theo con đường của Ấn Độ đòi lại độc lập từ người Anh? Điều này cho thấy ông đã cố tình bẻ cong sự thật lịch sử và cố tình suy diễn theo cái lối “nói cho sướng miệng”. Sự thật thì sau nhiều cuộc khởi nghĩa và các phong trào chống Pháp không đem lại kết quả, đứng trước vận mệnh của đất nước, Đảng Cộng sản đã gánh vác sứ mệnh giải phóng dân tộc. Phong trào chống xâm lược do những người Cộng sản phát động có cùng mục đích như các phong trào khởi nghĩa trước đó là giành, giữ độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam có “hiếu chiến” như ông và các nhà “dân chủ” cùng hội cùng thuyền với ông quy kết không? Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề này. Những ai hiểu biết về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Đáng lẽ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để xây dựng chế độ mới. Nhưng thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược Việt Nam. Trong tình thế tương quan lực lượng bất lợi cho một chính phủ còn non trẻ, rất cần một khoảng thời gian để xây dựng lực lượng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp. Chúng ta đã nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và nền thống nhất có điều kiện, cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc để đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi, khẳng định việc Nam Bộ có trở về với nước Việt Nam hay không là tùy thuộc vào kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân. Nhưng thực dân Pháp quyết dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ nước ta. Chúng tăng quân trái phép ở miền Bắc, gây ra nhiều vụ xung đột đẫm máu và cuối cùng gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta, đòi quân, dân ta hạ vũ khí. Vậy thì xin hỏi các nhà “dân chủ”, ở vào tình thế như vậy, theo các vị thì Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xử lý ra sao? Nếu theo cách nói của các vị thì nên chọn con đường “không đổ máu” ư? Xin thưa, không đổ máu mà vẫn giữ được độc lập như các vị nói thì chỉ là con đường chấp nhận làm kiếp nô lệ mà thôi! Dân tộc này không bao giờ chọn con đường đó! Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Chúng ta nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Nhà sử học Pháp Philip Deville đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”. Sau này Tổng thống Pháp F.Mitterand, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam, tháng 2-1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”. Đến đây hẳn các “nhà dân chủ” đã hiểu là các vị đang chụp mũ cho Đảng Cộng sản. Còn giả sử như không hiểu thì có lẽ chăng đầu óc các vị đã bị thiểu năng.
Các vị còn hồ đồ rằng: “Trong khi đội quân xâm lược Pháp lực đã kiệt, thế đã tàn thì lực lượng kháng chiến giành độc lập đã lớn mạnh, đang bừng bừng xốc tới, chỉ dấn thêm một bước là cả nước sạch bóng giặc ngoại xâm. Nhưng những người Cộng sản đặt giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc thì giải phóng dân tộc không phải là mục đích duy nhất và cao nhất của họ.
Với ý thức hệ giai cấp, những người Cộng sản Việt Nam coi giải phóng dân tộc không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để họ làm cách mạng vô sản thế giới”. Thật nực cười cho cái lập luận méo mó, quái gở này. Các vị vì ngu dốt hay vì cố tình xuyên tạc cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta là cuộc chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh ủy nhiệm, miền Bắc xâm lược miền Nam? Hiệp định Geneve quy định Pháp phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân về nước. Theo Hiệp định Geneve, tháng 7-1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước. Nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, lập “đê chắn làn sóng đỏ” xuống phía Nam nên đã hất cẳng Pháp, nhảy vào xâm lược chia cắt lâu dài đất nước ta. Ngô Đình Diệm từng tuyên bố khi sang thăm Mỹ: “Biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17”. Trên thực tế, Mỹ và chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa đã gây ra “cuộc chiến tranh một phía”. Họ dọa “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”, “giải phóng Cố đô rửa hận”. Sau này, đế quốc Mỹ còn thực hiện cuộc “chiến tranh cục bộ”, đưa trên nửa triệu quân Mỹ vào xâm lược miền Nam, và tiến hành cuộc “chiến tranh phá hoại”, đe dọa đẩy miền Bắc nước ta trở về “thời kỳ đồ đá”. Như thế thử hỏi có con đường độc lập, thống nhất không đổ máu ư? Không có gì quý hơn độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Nhân dân Việt Nam, bạn bè trên thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ và cả một số người trong chính giới Hoa Kỳ hẳn vẫn không quên, trong suốt hơn 40 năm thù địch Việt Nam, Hoa Kỳ đã trực tiếp làm cho hơn 3 triệu người Việt Nam phải hy sinh và hàng triệu người khác bị tàn tật, phải chịu di hại của chiến tranh, của chất độc da cam, bao vây cấm vận làm cho nhân dân Việt Nam vốn đã khốn khó do phải khắc phục hậu quả chiến tranh lại càng thêm khốn khó.
Trong một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam được tổ chức tháng 3-2007 tại tiểu bang Texas, các học giả Mỹ đã phân tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết luận: Sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến trường. Tổng thống Nixon đã cay đắng thừa nhận: “Sai lầm nghiêm trọng của chúng ta là không biết một trong những quy luật của chiến tranh. Đó là, đừng bao giờ bước vào cuộc chiến tranh, nếu không biết cách nào để ra khỏi cuộc chiến tranh đó”. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam” đã viết: “Chúng tôi ở trong chính quyền Kennedy và Johnson, tham gia vào các quyết định về Việt Nam, đã hành động theo những gì mà chúng tôi coi là nguyên tắc và truyền thống của dân tộc này. Chúng tôi đã ra các quyết định dưới ánh sáng của các giá trị đó. Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp”. Lẽ phải chỉ có một. Những người chủ mưu trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã thú nhận thì những lập luận kiểu “giá như” của những kẻ xuyên tạc, bóp méo lịch sử như các “nhà dân chủ” đều trở nên vô nghĩa. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của nhân dân Việt Nam đã được lịch sử ghi nhận.
Dân tộc Việt Nam từ thủa khai sơn phá thạch cho đến hôm nay luôn chủ trương sống và hành động theo tư tưởng “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo”, “lấy chính nghĩa để thắng phi nghĩa” không thể là một dân tộc “nồi da nấu thịt”, “tắm máu” đồng bào như luận điệu xuyên tạc của những kẻ vì động cơ cá nhân, mục tiêu tư lợi đã lớn tiếng phê phán, chà đạp lên truyền thống tổ tiên… Thực tế lịch sử đã minh chứng, sau thắng lợi mùa Xuân năm 1975 không có chia cắt, chỉ có thống nhất; không có “tắm máu”, chỉ có hòa hợp dân tộc, thống nhất, hòa bình, xây dựng đất nước.
Thế giới đã bước sang giai đoạn mới, trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại, tư duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở nên lỗi thời. Lịch sử dân tộc đã chứng minh, dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nâng niu từng mối quan hệ bang giao hữu hảo nhưng nếu độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bị xâm phạm thì dân tộc này quyết không chịu lùi bước. Các “nhà dân chủ” trong khi phủ nhận hai cuộc chiến tranh thần thánh của nhân dân nhưng lại nuôi dã tâm gây ra “biến cố” làm mất ổn định đất nước hòng mong muốn trong sự rối loạn trục lợi cho những toan tính cá nhân. Thật chỉ là hành động của những kẻ hoang tưởng và ác độc!■
Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Trung Quốc có bành trướng hay không?

 

Hiện nay, Trung Quốc đang ở giai đoạn “hưng thịnh” – kinh tế và nhân khẩu tăng trưởng, mặc dù giới tinh hoa Trung Quốc đã kìm hãm được sự tăng dân số, nhưng đổi lại, đã nhận lấy “sự già hóa” của dân cư và giảm số lượng nữ giới.

Kinh tế Trung Quốc (không phải là không có sự giúp đỡ của Mỹ) đang có sự phát triển rất nhanh chóng, đã vượt qua Đức, Nhật và đang đuổi kịp Mỹ. Nhưng trong sự tăng trưởng đó có một cái bẫy chết người, nếu sự tăng trưởng dừng lại, Trung Quốc sẽ đối mặt với những vấn đề kinh tế-xã hội kinh hoàng, chúng chắc chắn sẽ gây ra sự khủng hoảng chính trị nội địa, các cuộc nổi loạn của nông dân và các khu vực Hồi giáo. Kết quả, Trung Quốc sẽ chuyển sang giai đoạn “suy vong”.

Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rõ quy luật lịch sử này và hoàn toàn logic khi giả định là họ đã tìm ra được cách để vượt qua, hay ít ra là kéo dài khung thời gian của thời kỳ “tăng trưởng”. Các triết gia Trung Quốc cho rằng, tồn tại khả năng có một giai đoạn “đại hài hòa”.

Những dấu hiệu giai đoạn “suy vong” đang đến gần

- “Sự quá nóng” của kinh tế Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng quá nhanh đã dẫn tới việc nếu như trong nước bắt đầu sự trì trệ (mà điều đó thì có thể xảy ra do khủng hoảng thế giới, lượng cầu ở Mỹ, châu Âu, Nga… suy giảm, mặc dù người ta đang tìm cách duy trì nó một cách nhân tạo bằng cách bơm tiền không được bảo đảm, nhưng điều đó không thể kéo dài mãi); thì các vấn đề kinh tế-xã hội sẽ bùng phát dữ dội ở Trung Quốc.

- Cuộc chạy đua vũ trang ráo riết mà Trung Quốc phát động từ những năm 1990 đã khiến cả Đông Nam Á lao vào chạy đua vũ trang.

- Sự bất mãn gia tăng trong các tầng lớp dân chúng nghèo khổ nhất (nông dân), mà đến nay vẫn chiếm đa số dân số. Ví dụ, bộ phim Avatar được yêu thích ở Nga thì ở Trung Quốc người ta cũng rất thích. Người Trung Quốc tự so sánh mình với dân tộc hoang đường “navi”, bởi vì chính quyền tiến hành chính sách xua đuổi dân chúng khỏi các vùng đất quê hương để dành chỗ cho các dự án xây dựng quy mô. Tạm thời sự bất mãn được bù đắp bởi khả năng tìm việc làm ở các thành phố.

- Sự gia tăng chủ nghĩa hưởng lạc, sự phân hóa “những người Trung Quốc mới” – ngày càng nhiều hơn du thuyền, casino, hàng xa xỉ. Trung Quốc đang dần dần để cho các loại vi rus hủy diệt – những người có triệu chứng thoái hóa (chuyển giới, đồng tính nam) nhận được ngày càng nhiều tự do. Tham nhũng gia tăng trong bộ máy đảng và nhà nước, sự thật tạm thời bị kiềm chế bởi các cuộc xử bắn công khai.

- Sự gia tăng bạo lực tự phát, nhất là đối với trẻ em (một dấu hiệu rất xấu, khi thái độ đối với trẻ em là rất đáng lo ngại), nói lên sự gia tăng tiêu cực trong thế giới tiềm thức của văn minh Trung Quốc.

Những lối thoát

- Tìm kiếm những con đường hòa bình để chuyển sang giai đoạn “Đại hài hòa”. Điều đó chỉ có thể với thiện chí của giới tinh hoa Trung Quốc và sự hợp tác rất chặt chẽ với nền văn minh Nga. Nhưng xét tới yếu tố bản thân Nga cũng đang đi tìm kiếm… thì…

- Bành trướng ra ngoài, kể cả bành trướng quân sự, để kéo dài quãng thời gian của giai đoạn “tăng trưởng” cần có những vùng lãnh thổ mới và các nguồn tài nguyên – đặc biệt gay gắt là vấn đề nước sạch và đất nông nghiệp.

Các dấu hiệu Trung Quốc chuẩn bị bành trướng quân sự

- Chạy đua vũ trang: Từ một nước thường thường bậc trung về quân sự, trong vòng 20 năm, Trung Quốc đã trở thành cường quốc số 2 về quân sự. Các chuyên gia quân sự Bắc Mỹ đã lo lắng nói rằng, chẳng bao lâu nữa Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ về sức mạnh và số lượng vũ khí hiện đại.

- Trung Quốc đang chuẩn bị cho quân đội của họ thực hiện các cuộc tấn công trên bộ – các binh đoàn lục quân hùng mạnh, với một số lượng lớn binh khí nặng, cũng như cho cuộc xung đột với một địch thủ công nghệ cao – họ đang cấp tốc hoàn thiện hạm đội, đóng các tàu sân bay, phát triển phòng không, vũ khí chống hạm, không quân, vũ khí phòng thủ vũ trụ.

- Các nước láng giềng của Trung Quốc đẩy mạnh đột biến hiện đại hóa quân đội – Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ (tất cả các nước này đều có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, điều có thể trở thành cái cớ cho một cuộc chiến tranh lớn). Chỉ có Nga là đang “ngủ”.

- Trên báo chí và trong giới quân sự Trung Quốc, người ta đã nói đến sự cần thiết bành trướng để nhà nước sống còn.

- Trong những bộ phim Trung Quốc mới đây, thấy rõ hình ảnh kẻ thù là “người da trắng” và ít hơn là người Nhật.

Thái độ đối với Mỹ

Trung Quốc cho rằng, nước Mỹ ốm yếu và không làm nổi vai trò lãnh đạo và thấy rằng, đang có một “cuộc cải tổ” chờ đợi nước Mỹ. Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rằng, quân đội Mỹ sẽ không “chịu nổi” một cuộc chiến tranh cổ điển và không dám mở một cuộc chiến tranh lớn vì Đài Loan. Mặc dù họ sẽ vẫn ủng hộ “các đồng minh” châu Á (về mặt ngoại giao, có thể là bằng vũ khí, tài chính). Ngoài ra, Trung Quốc còn là “công xưởng” của Mỹ, là chủ nợ trái phiếu lớn nhất của Mỹ, chiến tranh với Trung Quốc, nhất là chiến tranh “thật” sẽ mang lại những tổn thất to lớn cho Mỹ.

Bởi vậy, cũng như Anh và Pháp trước Thế chiến II, Mỹ sẽ nín nhịn đến cùng trước sự bành trướng của Trung Quốc sang các nước láng giếng. Hơn nữa, một cuộc chiến tranh ở châu Á cũng sẽ có lợi cho giới tinh hoa Mỹ vì thế giới sẽ quên đi các vấn đề của họ.

Các tuyến đường biển vận chuyển nguyên liệu cho công nghiệp Trung Quốc.
Giống như nhiều cường quốc công nghiệp, Trung Quốc rất nhạy cảm với hoạt động
của các tuyến đường biển này

Những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc

Theo quan niệm địa-chính trị cổ Trung Quốc: Trung Quốc là “trung tâm của thế giới, còn vây quanh đế chế Trung Hoa là “man di” và “mọi rợ”, những người phải cống nộp cho thiên triều. Trung Quốc vốn rất bảo thủ ở nhiều vấn đề, quan niệm này đã được xem xét lại và hiện đại hóa ở nước Trung Hoa cộng sản.

Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta nhất định phải giành lấy Đông Nam Á, kể cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một khu vực như Đông Nam Á rất giàu có, ở đó có nhiều khoáng sản, nó hoàn toàn đáng bỏ công của ra để giành lấy nó. Trong tương lai, nó sẽ rất có lợi để phát triển công nghiệp Trung Quốc. Như vậy, sẽ có thể bù đắp toàn bộ những thiệt hại. Sau khi chúng ta giành được Đông Nam Á, ở khu vực này sẽ có thể tăng cường các lực lượng của chúng ta …” (năm 1965); “Chúng ta phải chinh phục trái đất… Theo tôi, quan trọng nhất là chinh phục trái đất chúng ta, nơi chúng ta sẽ thiết lập một cường quốc hùng mạnh”.

Danh sách “các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” rất dài: Miến Điện, Lào, Việt Nam, Nepal, Butan, Bắc Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Triều Tiên, quần đảo Ryukyu, hơn 300 hòn đảo ở Biển Đông, biển Hoa Đông và Hoàng Hải, Kirgyzya, một phần Tadjikistan, Nam Kazakhstan, tỉnh Badah Shan của Afghanistan, Mông Cổ, vùng Ngoại Baikal và Nam Viễn Đông cho đến tận Okhotsk của Nga.

“Các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” là hơn 10 triệu km². Các vùng lãnh thổ đó lớn hơn lãnh thổ Trung Quốc (9,6 triệu km²) hơn 2 lần. Sau Мао, các nhà lãnh đạo Trung Quốc “nguội đi” và không nêu ra những yêu sách như thế, nhưng quan niệm lịch sử thì họ vẫn giữ.

Và không nên nghĩ là Trung Quốc quên lãng những gì mà họ cho là của họ – họ đã lấy lại Hongkong (thuộc Anh đến năm 1997), Macao (thuộc Bồ Đào Nha đến năm 1999), đã nuốt được một phần lãnh thổ Nga (năm 2005 – 337 km²), 1.000 km² của Tadjikistan (tháng 1.2011, Trung Quốc yêu sách 28.000 km²). Trung Quốc càng mạnh và các nước láng giềng càng yếu bao nhiêu thì “sự thèm muốn” càng lớn bấy nhiêu.

Niềm tin vào phương cách ngoại giao cũng là đáng ngờ. Trung Quốc đã không chỉ một lần, trước khi trở thành cường quốc số 2, xung đột vũ trang với các nước láng giềng: 2 cuộc xung đột biên giới với Ấn Độ (1962, 1967), xung đột biên giới Trung-Xô (1969), chiến tranh với Việt Nam (1979), 2 cuộc xung đột biên giới với Việt Nam (1984, 1988), 3 cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan. Trung Quốc “đã nuốt chửng” 3 vùng lãnh thổ vốn không phải là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa là Đông Turkestan (chiếm vào thế kỷ XVIII), Nội Mông (chiếm hẳn sau Thế chiến II) và Tây Tạng (thập niên 1950).

3 tranh chấp lãnh thổ chủ yếu của Trung Quốc: (1) Biên giới trên bộ với Ấn Độ và Butan;
(2) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Việt Nam;
(3) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Nhật Bản.

Nhật Bản

Ở Trung Quốc, người ta có thái độ rất tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân rất khách quan, cuối thế kỷ XIX-nửa đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã tham gia cướp bóc Trung Quốc cùng với phương Tây. Nhật đã 2 lần tấn công Trung Quốc và trong những năm Thế chiến II đã thực hiện một cuộc diệt chủng thực sự ở miền bắc Trung Quốc, hàng triệu người Trung Quốc bị giết (không có con số chính xác). Hơn nữa, Nhật Bản đến nay vẫn không chính thức xin lỗi về chính sách của chính phủ thời đó.

Họ có tranh chấp lãnh thổ về quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông mà Nhật Bản chiếm giữ năm 1895. Trung Quốc cho rằng, Nhật Bản đã đến lúc trả lại các vùng lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc” và công khai tuyên bố về vấn đề này vào năm 1992. Năm 1999, tình hình thêm căng thẳng vì tại thềm lục địa đã tìm thấy các trữ lượng khí đốt lớn và cả hai nước đã chuẩn bị khai thác chúng.

Cuối năm 2010, Nhật Bản thậm chí đã xem xét lại chiến lược quân sự, trong đó nguy cơ chủ yếu đối với Nhật được nêu ra không phải là Nga mà là vấn đề CHDCND Triều Tiên và cuộc chạy đua vũ trang do Trung Quốc phát động. Bởi vậy, Nhật Bản dự định tăng cường hạm đội tàu ngầm, hải quân, không quân và củng cố quan hệ hữu nghị với Mỹ.

Bán đảo Triều Tiên

Triều Tiên từ thời cổ đại bị coi là “thuộc quốc” của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc ủng hộ chế độ CHDCND Triều Tiên và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với cả 2 nước Triều Tiên. Nhưng không biết Trung Quốc sẽ ứng xử thế nào nếu trên bán đảo bùng nổ nội chiến và chế độ Bắc Triều Tiên sụp đổ. Một phương án có khả năng là Trung Quốc chiếm đóng Bắc Triều Tiên.

Đài Loan

Được coi là một bộ phận không thể chia cắt của Trung Quốc thống nhất. Từ năm 1992-1999, hai bên đã đàm phán tái thống nhất, song đổ vỡ vì lãnh đạo Đài Loan tuyên bố, Trung Quốc và Đài Loan là “2 nước ở 2 bờ eo biển Đài Loan”.

Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị giải pháp quân sự cho vấn đề Đài Loan. Mỹ và Nhật Bản hiện ủng hộ Đài Loan, Mỹ vũ trang cho quân đội Đài Loan. Nhưng điều gì sẽ diễn ra nếu Mỹ đối mặt với một cuộc khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng hoặc một cuộc chiến tranh nữa (Iran, Pakistan…). Mỹ sẽ không thể bảo vệ Đài Loan, không đủ nguồn lực, hơn nữa công chúng Mỹ sẽ không hiểu: bảo vệ người Trung Quốc khỏi người Trung Quốc để làm gì.

Giới tinh hoa Đài Loan đang tăng cường quân đội: hải quân, phát triển máy bay không người lái, tên lửa chống hạm, phòng không, đề nghị Mỹ bán các máy bay tiêm kích mới.

Vấn đề các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa là quần đảo nhỏ ở Biển Đông, bị Trung Quốc chiếm của Việt Nam năm 1974, ngoài Việt Nam, Đài Loan cũng yêu sách quần đảo này.

Quần đảo Trường Sa nằm ở Tây Nam Biển Đông, gồm hơn 100 hòn đảo nhỏ, bãi đá ngầm và đảo san hô vòng, tổng diện tích dưới 5 km². Tổng diện tích khu vực này là hơn 400.000 km². Tranh chấp khu vực này là 6 quốc gia – Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Brunei.

Nguyên nhân xung đột là vị trí quan trọng chiến lược của quần đảo, khu vực này giàu tài nguyên sinh học và có thể có những mỏ dầu và khí đốt trữ lượng lớn.

Một phần quần đảo do các đơn vị quân đội Việt Nam đóng giữ, một phần bị chiếm giữ bởi các đơn vị Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan. Thường xuyên xảy ra những cuộc đụng độ nhỏ, năm 2008, Philippines tuyên bố, họ sẽ “chiến đấu đến người thủy binh và lính thủy đánh bộ cuối cùng” vì quần đảo Trường Sa. Có khả năng xảy ra chiến tranh lớn. Cả 6 quốc gia trong những năm gần đây đều tăng cường quân đội, nhất là hải quân, hạm đội tàu ngầm, không lực hải quân được chú ý hơn.

Việt Nam

“Cựu” địch thủ của Trung Quốc, từng bị Trung Quốc đô hộ 1.000 năm, cho đến thế kỷ X. Là đối thủ của Trung Quốc tranh giành ảnh hưởng đối với các nước láng giềng Đông Nam Á, Việt Nam có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Khi Việt Nam còn là đồng minh của Liên Xô, thì không có nguy cơ lớn đối với Việt Nam, nhưng hiện nay, nguy cơ tăng mạnh. Ban lãnh đạo Việt Nam đang tăng cường quân đội, tìm kiếm các quan hệ với Mỹ (có tin đồn, thậm chí Việt Nam sẵn sàng cho Mỹ sử dụng Cam Ranh làm căn cứ quân sự), cũng cố quan hệ hệ tác với Ấn Độ.

Ấn Độ

Trung Quốc coi bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ là một phần của Nam Tây Tạng và nghĩa là một phần lãnh thổ của mình. Ấn Độ muốn Trung Quốc trả lại vùng lãnh thổ Aksai Chin. Trung Quốc đang đẩy mạnh hợp tác kinh tế, quân sự với Pakistan, Bangladesh, những nước về lịch sử và văn hóa là một bộ phận của nền văn minh Ấn Độ. Trung Quốc đang tăng cường ảnh hưởng ở các nước giáp giới Ấn Độ mà giới tinh hoa Ấn Độ coi là vùng ảnh hưởng của mình là Nepal, Butan, Sri Lanka.

Ấn Độ cũng không thích thú gì việc Trung Quốc chiếm giữ Tây Tạng. Đáp lại, Ấn Độ đang tăng cường sức mạnh quân đội, tăng cường hợp tác với Mỹ, Nga. Khả năng xảy ra chiến tranh lớn bị hạn chế bởi sự hiểm trở của biên giới Trung-Ấn, núi non.

Afghanistan

Trung Quốc coi tỉnh Badah Shan là lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc”. Nhưng trong khi chiến tranh liên miên diễn ra ở Afghanistan, Trung Quốc chú ý hơn đến bành trướng kinh tế. Rõ ràng là khi Mỹ và các đồng minh rút khỏi Afghanistan, Trung Quốc sẽ là “anh cả” ở khu vực này và sẽ giành được những tài nguyên họ cần mà không cần chiến tranh. Afghanistan bị tàn phá, nước này cần những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, mà Trung Quốc thì có tiền.

Tadjikistan

Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với 28.000 km² ở khu vực Đông Pamir. Tháng 1.2011, Tadjikistan đã nhượng 1.000 km² lãnh thổ tranh chấp cho Trung Quốc. Xét tới tiềm lực quân sự thực tế là bằng không so với Trung Quốc của Tadjikistanа, thì sớm hay muộn, nước này cũng phải giao nộp toàn bộ các lãnh thổ “tranh chấp” cho Trung Quốc, thậm chí cả các vùng lãnh thổ khác nữa (xét tới khả năng nội chiến ở nước này). Lối thoát duy nhất đối với Tadjikistan là trở lại trong thành phần nước Nga.

Kirgyzya

Năm 1996 và 1999, Kirgyzya đã cắt cho Trung Quốc gần 12 km² lãnh thổ và tạm thời Trung Quốc bằng lòng với điều đó. Nhưng xét tới tình hình khốn khó của Kirgyzya: các khó khăn kinh tế, quân đội yếu ớt, xung đột sắc tộc (giữa những người dân tộc Kirgyz và Uzbek), khả năng hỗn loạn lan sang từ Afghanistan, Kirgyzya sẽ không tránh khỏi số phận “miếng mồi” của kẻ mạnh. Giống như đối với Tadjikistan, trong hoàn cảnh khủng hoảng thế giới, cách cứu vãn dân tộc duy nhất để khỏi bị “Trung Quốc hóa” hoặc Hồi giáo cực đoan hóa là quay trở lại thành phần nước Nga.

Kazakhstan

Năm 1992-1999 đã diễn ra một quá trình đàm phán ngoại giao, kết quả là Trung Quốc giành được 407 km² lãnh thổ Kazakhstan. Trung Quốc không còn nêu ra vấn đề lãnh thổ nữa và nó được coi là đã giải quyết xong. Nhưng Kazakhstan dân cư thưa thớt, tiềm lực quân sự yếu, biên giới với Trung Quốc dài (hơn 1.700 km) và cách Trung Quốc ứng xử khi cần sống sót là điều dễ hiểu.

Mông Cổ

Nước này được coi là sự tiếp tục của khu vực Nội Mông và tương ứng là sự tiếp tục tự nhiên của Trung Quốc. Trong thế kỷ XX, Trung Quốc đã không nuốt chửng được nước này chỉ là nhờ sự bảo trợ của Liên Xô hùng mạnh. Mông Cổ đáng quan tâm đối với Trung Quốc ở chỗ với diện tích lớn, nước này gần như không có dân cư (2,7 triệu người), không có quân đội thực sự (gần 9.000 quân).

Nga

Năm 1991, М. Gorbachev ký hiệp ước, theo đó biên giới chạy theo giữa lòng sông Amur. Trước đó, biên giới chạy theo bờ sông Amur, bên phần đất Trung Quốc. Năm 2004-2005, V. Putin đã cắt cho Trung Quốc 337 km² lãnh thổ Nga. Tại đây, vấn đề lãnh thổ dường như đã được giải quyết, nhưng “sự thèm ăn thức tỉnh trong khi ăn”. Trung Quốc đang đứng trước ngã ba đường và nếu như họ chọn bành trướng ra bên ngoài thì Nga sẽ là “đối tượng” có khả năng nhất. Tạm thời, Trung Quốc hạn chế ở việc chiếm lĩnh về kinh tế các vùng lãnh thổ Nga và di dân đến các vùng lãnh thổ hầu như trống rỗng của Siberia và Viễn Đông.

Những nạn nhân đầu tiên có khả năng nhất của sự bành trướng của Trung Quốc

Những nạn nhân đầu tiên của Trung Quốc rõ ràng sẽ là:

- Đài Loan: Theo lập trường nguyên tắc của Trung Quốc thì Đài Loan là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa. Nhưng cũng có khả năng cho lối thoát hòa bình nếu như giới tinh hoa Đài Loan kìm nén được các tham vọng của mình. Nếu như xảy ra một chiến dịch quân sự thì nạn nhân sẽ nhiều, nhưng thiết nghĩ Mỹ và phương Tây sẽ chỉ làm ầm ĩ, chứ sẽ không thực sự tham chiến.

- Các nước phía Bắc: Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kirgyzya, do đây là những vùng lãnh thổ dân cư thưa thớt, có nguồn tài nguyên lớn và tiềm lực quân sự yếu (các đơn vị quân đội chủ yếu của Nga bố trí ở phía Tây, nên Trung Quốc sẽ kịp giải quyết xontg tất cả các vấn đề nhằm chiếm giữ Siberia và Viễn Đông của Nga trước khi các đơn vị đó kịp tới khu vực chiến sự).

- Tấn công Ấn Độ không hấp dẫn Trung Quốc vì chiến trường không thích hợp (vùng núi), về quân số, quân đội Ấn Độ và dự trữ nhân lực của nước này cũng gần như của Trung Quốc. Trung Quốc có thể mở chiến dịch hạn chế chống Ấn Độ để yểm trợ cho đồng minh Pakistan một khi Ấn Độ tấn công Pakistan.

- Chiến tranh với Việt Nam hay bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào là bất lợi. Nguồn dự trữ nguyên liệu của các nước này hạn chế, có dân số đông, quân đội mạnh. Bởi vậy, các nước này sẽ được Trung Quốc để lại sau, họ có thể khuất phục mà không cần chiến tranh, một khi thấy số phận của các láng giềng phía Bắc của Trung Quốc, họ sẽ tự nguyên trở thành “chư hầu” của Trung Quốc.

- Nhật Bản rõ ràng sẽ là nạn nhân cuối cùng, bởi lẽ tiến hành chiếm đóng bằng đường biển là khá phức tạp. Nhưng xét tới sự thù ghét của người Trung Quốc đối với người Nhật thì số phận của họ sẽ rất bi thảm, dân cư quần đảo Nhật sẽ giảm mạnh.

Đặc điểm của sự bành trướng này là giới tinh hoa Trung Quốc sẽ không tiếc lính, tiếc vũ khí trang bị để thực hiện. Trung Quốc đang có cuộc khủng hoảng nhân khẩu nghiêm trọng, “sự già hóa” dân cư và dư thừa thanh niên, thiếu nữ giới. Càng có nhiều người mất mạng trên chiến địa càng tốt, “ung nhọt” căng thẳng xã hội trong nội địa Trung Quốc sẽ xẹp xuống. Còn nhu cầu sản xuất hàng loạt vũ khí trang bị sẽ có lợi cho nền kinh tế.

Nga có thể làm gì để tự cứu mình?

- Về mặt ngoại giao, ủng hộ việc tái thống nhất hòa bình Hoa lục và đảo Đài Loan.

- Tăng khối lượng hợp tác kinh tế. Khủng hoảng và những chấn động xã hội ở Trung Quốc là dấu hiệu cho thấy sự khởi đầu của quá trình bành trướng bằng vũ lực đã rất gần. Nga cần nền hòa bình ở Trung Quốc và sự phát triển kinh tế, văn hóa của dân cư nước này. Cần có sự bành trướng văn hóa Nga – tiếng Nga, điện ảnh, giáo dục, văn hóa.

- Liên minh chiến lược với Ấn Độ, thừa nhận các bộ phận của nền văn minh Ấn Độ là Pakistan và Bangladesh là thuộc về Ấn Độ. Tương trợ nhau trong trường hợp bị Trung Quốc xâm lược.

- Hợp tác kỹ thuật quân sự và kinh tế rộng lớn với Mông Cổ, hai nước Triều Tiên, các nước Đông Nam Á. Nối lại liên minh với Việt Nam.

- Lập tức khôi phục Hạm đội Thái Bình Dương, tăng cường mạnh mẽ lực lượng quân đội đóng tại Viễn Đông.

- Có chương trình quy mô lớn tái chinh phục Siberia và Viễn Đông (có thể lấy các kết quả nghiên cứu của Y. Krupnov làm cơ sở), giải quyết sự mất cân bằng nhân khẩu, khi mà phần lớn dân số Nga sống ở phần châu Âu của nước Nga. Có chương trình hỗ trợ sinh đẻ cho người Nga và các dân tộc bản địa ở Siberia và Viễn Đông (không dưới 3-4 con/1 gia đình).

- Giới tinh hoa Nga cần phải thể hiện ý chí sinh tồn bằng cách ngầm cảnh cáo Trung Quốc rằng, xâm phạm đất đai và khu vực ảnh hưởng của Nga (Kazakhstan, Kirgyzya, Tadjikistan, Mông Cổ) có thể dẫn tới đòn đánh hạt nhân hạn chế nhằm vào các thành phố duyên hải phồn vinh của Trung Quốc.

Tài liệu tham khảo:

1 – Vasiliev L.S. Trung Quốc cổ đại, 3 tập.-М., 1995-2006.

2 – Galenovich Yu.M. Các tác giả của tuyển tập “Trung Quốc bất bình” viết về cái gì.-М., 2010.

3 – Krupnov Yu. Mặt trời ở Nga mọc từ hướng Đông.-М., 2007.

4 – Kulpin E.S. Con người và thiên nhiên ở Trung Quốc.-М., 1990.

5 – Nepomnin O.E. Lịch sử Trung Quốc: Thời Thanh. Thế kỷ XVII-đầu thế kỷ XX.-М., 2005.

6 – Những yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh: Lịch sử và hiện tại.-М., 1979.

Nguồn: Về vấn đề bành trướng TQ

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Những điều không thể không nói ra

Hình ảnh

Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít  nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước. Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu chuyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.

Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy. Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: “Những điều không thể không nói ra” mà Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: “Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949” (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) – “Quan hệ Trung – Việt từ 1949 đến nay” ( Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam” ( Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và “Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á” (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).

Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.

Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ “Những điều không thể không nói ra” hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).

 Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.

Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà “Những điều không thể không nói ra” đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.

*

*   *

  1. Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” – một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn. Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện “ sát phu, hiếp phụ”, “bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi” cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”, viết trong “ Đại cáo bình Ngô”. Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này“trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị”. Tác giả của “Diễn biến quan hệ Việt – Trung trước năm 1949”chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì “phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra”. Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh “Giao Châu” (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống. Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của “Những điều không thể không nói ra” không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì “chính sử” luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác). Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa “phù Trần, diệt Hồ” của nhà Minh đầu thế kỷ XV. “Phù Trần diệt Hồ” ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: “Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ” (theo “Minh sử”). Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là “kỷ Hậu Trần” thì người Minh lại gọi là “giặc” và phái binh đàn áp! Một thời kỳ “Bắc thuộc mới” kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi “chim chả, ngà voi” tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được “cuộc phù Trần” về bên kia biên giới. Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, “giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam” được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ “tông phiên” thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực. Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là “không đáng kể”,tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ “hồi tặng” (từ phía triều đình Trung Quốc)” được.

Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: “Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp” (trích Hồi ký bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba). Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh … xung quanh vấn đề này.

Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận“khoác lác”, “hư cấu”? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích “đưa vào nội dung giáo dục quốc dân” để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

  1. Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận. Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân …), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu. Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc. Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen. Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5. Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương). Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.

3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để “đánh trả”, “trừng phạt” cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là “anh em” vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu “các nước anh em” thường làm).

Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc “đánh trả”“trừng phạt” ấy – xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong “Những điều không thể không nói ra”.

Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc “tiến quân” trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt – Trung; 1983 – 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang – Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là “sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam”? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, “Nguyên cớ ư ? Ở ta!”

 Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 – 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!

Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.

Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã “hoàn toàn thay đổi lập trường” về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.

Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là giúp mình”, hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết. Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.

Đáng ngạc nhiên là trong bài “Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á”, tác giả gợi lại vấn đề không có thực là “lãnh thổ K.K.K” “một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam”. Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là “phong trào K.K.K”? Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?

 Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như “Thế giới tri thức” lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài “Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay”, tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức “sự thật lịch sử”?

Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường “Việt Nam bắt nạt Trung Quốc”, “Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi”, để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ : Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.

Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là “những điều không thể không nói ra”, không thể không làm rõ vậy thôi.

Tiến sĩ Vũ Cao Phan

Categories: Uncategorized | 1 Phản hồi

Trung Quốc ở hội nghị Genève năm 1954 – 60 năm nhìn lại


Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954, là một diễn đàn quốc tế đa phương, do các nước lớn chi phối. Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong kháng chiến và trong đàm phán. Tuy nhiên, mỗi nước lại có lợi ích và tính toán riêng của mình mà chúng ta chưa hiểu hết được, cho nên việc ứng xử với hai bạn đồng minh đặc biệt là Trung Quốc không phải dễ dàng, trong đó có những quan điểm, toan tính của Trung Quốc rất đáng nghiên cứu, như nghị sỹ Mỹ William Knowland bình luận về Hiệp định Genève “Chu Ân Lai đã sẵn sàng hy sinh chiến thắng quân sự của Hồ Chí Minh để phục vụ lợi ích quốc gia mình”, nhưng với việc đánh giá đúng tình hình, Đảng ta đã xử lý linh hoạt mối quan hệ, đem lại những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao, qua đó cho Đảng ta bài học về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 07/5/1954, Hội nghị Genève bàn về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương diễn ra từ ngày 08/5 đến 21/7/1954 Hiệp định được ký kết, với 31 phiên họp, trong đó 7 phiên toàn thể, 24 phiên họp cấp trưởng đoàn. Có 9 đoàn tham dự Hội nghị: Đoàn Liên Xô do Bộ trưởng ngoại giao Viacheslav Molotov dẫn đầu; đoàn Trung Quốc do Thủ tướng Chu Ân Lai đẫn đầu; đoàn Mỹ do Ngoại trường  Bedell Smithdẫn đầu; đoàn Anh do Ngoại trưởng Anthony Edendẫn đầu; đoàn Pháp do Ngoại trưởng Georges Bidault dẫn đầu; đoàn Việt Nam có đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đoàn đại diện của chính quyền Bảo Đại; đoàn Chính phủ Vương quốc Lào và đoàn Chính phủ vương quốc Campuchia.

Tại Hội thảo quốc tế Chiến thắng Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại (4/2004), khi nói về Hội nghị Genèvenữ luật gia người Pháp Laury Anne Bellessa nhận xét: “Nếu chúng ta đi sâu vào chi tiết các cuộc thương lượng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng các điều khoản của Hiệp định chỉ để nhằm làm thoả mãn các cường quốc…Vì muốn bảo vệ quyền lợi của mình ở khu vực Đông Nam Á mà các cường quốc đã tự quy định phần lớn các điều khoản trong hiệp định, không cần tính đến phản ứng của các nước Đông Dương. Không còn sự lựa chọn nào khác, các nước Đông Dương phải nhượng bộ trước các áp lực rất lớn này… Thắng lợi trên thực địa nhưng tại bàn Hội nghị, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không thể khai thác được thế mạnh quân sự của mình”. Để bảo đảm lợi ích quốc gia họ, “lãnh đạo đoàn đại biểu Trung Quốc Chu Ân Lai đã không hỗ trợ Việt Nam, đưa Việt Nam đến chỗ phải chấp nhận những điều khoản mà rõ ràng không hề thoải mái chấp nhận”[1]. Sáu mươi năm đã qua, nhìn lại Trung Quốc ở Hội nghị Genève đã cho chúng ta thấy rõ: Ý đồ của lãnh đạo Trung Quốc ở Hội nghị; Quan điểm, cách xử lý linh hoạt của chúng ta; và những bài học được rút ra từ Hội nghị Genève 1954 về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn của Đảng ta.

1. Ý đồ của lãnh đạo Trung Quốc ở Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954

Là người chiến thắng trên chiến trường Điện Biên Phủ, ngày 10/5/1954, đoàn đại biểu Việt Nam nêu rõ lập trường về một giải pháp toàn diện cho vấn đề Đông Dương bao gồm 8 điểm: (1) Pháp công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Campuchia và lào; (2) Ký Hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, Campuchia và lào; (3)Tổ chức tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam, Campuchia và lào để thành lập Chính phủ thống nhất trong mỗi nước; (4) Việt Nam dân chủ cộng hòa, Campuchia và Lào bằng lòng xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp; (5) Việt Nam dân chủ cộng hòa, Campuchia và Lào công nhận các quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp, sẽ cùng nước Pháp quy định các quyền này theo nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau; (6) Hai bên không khủng bố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh; (7) Trao đổi tù binh; (8) Ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời trên toàn Đông Dương, điều chỉnh các vùng, đình chỉ đưa quân đội và thiết bị quân sự mới vào Đông Dương, lập ủy ban tay đôi gồm đại biểu hai bên đối phương để kiểm tra bảo đảm thực hiện Hiệp định đình chiến.

Với giải pháp 8 điểm trên đã phản ánh rõ lập trường, quan điểm đúng đắn của Đảng, Chính phủ ta về giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân các dân tộc trên bán đảo Đông Dương nói chung. Nhưng, hội nghị Genève do 4 nước triệu tập và có 4 nước khác tham gia, đây là một cuộc thương lượng quốc tế nhiều bên, trong đó mỗi bên đều có mục tiêu, ý đồ riêng của mình. Đối với Trung Quốc, được mời dự hội nghị Genève là cơ hội vàng để thực hiện cùng lúc 3 mục tiêu lớn [2]:

Một là: Thúc đẩy việc giải quyết nhanh chiến tranh Đông Dương theo tinh thần “Triều Tiên hóa”, có nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị, các nước không có điều kiện để thống nhất đất nước, với hy vọng dập tắt lửa cạnh nhà, đẩy Mỹ ra xa, tạo lập một khu đệm ở Đông Nam Á và ngăn chặn Mỹ thay thế Pháp ở bán đảo Đông Dương, hạn chế khả năng Mỹ can thiệp vào bán đảo này. Trung quốc vừa tránh được nguy cơ đối diện trực tiếp với Mỹ, vừa thực hiện được vai trò bảo trợ an ninh cho cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia;

Hai là: Đề cao vị thế quốc tế của Trung Quốc, khôi phục lại vị thế một nước lớn có vai trò trong các vấn đề quốc tế, mà trước hết là ở Châu Á. Bởi kể từ sau khi thành lập nước Trung Hoa mới, đây là lần đầu tiên Trung Quốc có mặt tại một hội nghị quốc tế lớn, được cả thế giới quan tâm theo dõi, điều đó có lợi cho việc đề cao địa vị quốc tế của Trung Quốc. Mặt khác, nếu đàm phán tiến triển tốt có thể giải quyết một số vấn đề quốc tế, nếu không thành công cũng có thể tuyên truyền chủ trương của Trung Quốc;

Ba là: Mở rộng quan hệ với các nước Tây Âu, trước hết là ngoại giao và thương mại, nhằm góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, phá thế bao vây cấm vận của Mỹ. Chính vì vậy, Chu Ân Lai đã lên kế hoạch sử dụng diễn đàn hội nghị Genève một cách có lợi nhất “Ngoài những vấn đề về Triều Tiên và Việt Nam, phải chuẩn bị các vấn đề khác liên quan đến vùng Viễn Đông, đến hòa hình, an ninh ở châu Á. Đặc biệt tiến hành các biện pháp nhằm triển khai quan hệ kinh tế, trao đổi thương mại với các quốc gia khác nhau, làm giảm căng thẳng tình hình quốc tế, phá vỡ sự phong tỏa và cấm vận của đế quốc Mỹ”[3]. Như vậy, cho chúng ta thấy trong thời kỳ này, Trung Quốc là một nước lớn nhưng vị thế chính trị quốc tế của Trung Quốc còn hạn chế, chưa có chân ở Liên Hợp quốc, chưa có tư thế một nước lớn trên quốc tế.

Để  thực hiện được mục tiêu đó, (1) Trung Quốc đã chuẩn bị nhân sự cho đoàn ngoại giao với 200 người, tập trung nhân tài ưu tú của ngành ngoại giao đi Genève. Chu Ân Lai tự hào nói về chất lượng của đoàn đại biểu “mỗi người là một bộ phận hoàn hảo tạo nên khối thống nhất mạnh mẽ”, qua sự chuẩn bị kỹ lưỡng, toàn diện, cẩn trọng cho chúng ta thấy những mục đích sâu sa và quyết tâm cao độ thực hiện kỳ được mục đích đó của lãnh đạo Trung Quốc.(2) Với tư cách là người láng giềng, người bảo trợ cho cuộc chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương, Trung Quốc tự đứng ra đóng vai trò là bên đối thoại chính, từ đó Pháp và Trung Quốc trở thành trung tâm của cuộc mặc cả, dàn xếp. Trung Quốc vin cớ làm thất bại sự phá hoại của Mỹ, mà sẵn sàng có những mền dẻo, nhân nhượng trên vấn đề Việt Nam và thậm chí có những nhân nhượng quan trọng trên vấn đề Lào và Campuchia, một thành viên đoàn đàm phán của Pháp là Jacques de Folin đã viết “trên tất các vấn đề quan trọng, chính là Trung Quốc … đã ép Phạm Văn Đồng có những nhân nhượng cần thiết để đạt được thỏa thuận mà họ mong muốn” [4;102].

Mặt khác, muốn đưa Việt Nam nằm trong chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc. Chính vì vậy, lập trường của Trung Quốc ở hội nghị Genève khác với lập trường của Việt Nam, nhưng phù hợp với lập trường của Pháp. Cựu tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu, Dương Danh Dy, nhận xét: “Khi hội nghị Genève diễn ra tại Thụy Sỹ năm 1954… Trung Quốc đã đưa Việt Nam ra để dùng làm con bài nhằm nâng cao vị thế của họ lên với phương Tây và chính quyền miền Nam Cộng hòa. Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng lúc đó phản đối kịch liệt và làm lộ rõ âm mưu của Trung Quốc”[5].

2. Xử lý linh hoạt mối quan hệ với Trung Quốc của Đảng ta ở Hội nghị Giơnevơ năm 1954

Trên cơ sở nắm bắt lập trường, ý đồ chiến lược của các nước lớn, chúng ta đã xử lý linh hoạt tình hình thông qua tiếp xúc, trao đổi thương lượng song phương hoặc đa phương trong quá trình Hội nghị Genève. Vấn đề trước tiên được chúng ta đặt ra là không để cho những bất đồng, khác biệt về quan điểm lập trường giữa các nước lớn làm hội nghị tan vỡ. Mặt khác phải nắm bắt ý đồ của đồng minh, nước lớn, linh hoạt xử lý mối quan hệ để có lợi cho ta.

Tại hội nghị, Trung Quốc và Pháp đóng vai trò trung tâm của đối thoại, Pháp cần Trung Quốc để tránh giáp trận với Việt Nam, nhận thức rõ điều đó Trung Quốc muốn kéo Pháp để có những giải pháp phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Chính vì vậy, giữa Trung Quốc và Pháp diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc riêng, chỉ tính từ 08/5- 23/6/1954, giữa trưởng đoàn Pháp và Trung Quốc đã tiến hành đàm phán 4 lần. Đáng chú ý là cuộc tiếp xúc ngày 17/6/1954 giữa Chu Ân Lai gặp Trưởng đoàn Pháp Georges Bidault, trong cuộc tiếp xúc, vì lợi ích riêng Trung Quốc đã đưa ra những nhân nhượng chính trị cơ bản có hại cho nhân dân 3 nước, Việt Nam, Lào, Campuchia đó là: “Trung Quốc có thể chấp nhận Việt Nam có hai chính quyền (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại), công nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Chính phủ Vương quốc Campuchia, từ bỏ yêu cầu có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham dự hội nghị Genève và đưa vấn đề quân đội nước ngoài, kể cả quân tình nguyện Việt Nam, phải rút khỏi Lào và Campuchia”[6;30].

Từ ngày 20/6/1954 trở đi đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, tác động lớn đến chiều hướng vận động của Hội nghị Giơnevơđó là: Quân viễn chinh Pháp bị sa lầy lớn trên chiến trường Đông Dương, dẫn đến sự thay thế nội các Pháp; Chính quyền Mỹ bắt đầu triển khai kế hoạch thay thế Pháp ở Đông Dương; Thủ tướng mới của Pháp Menđét Phơrăngxơ và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai gặp nhau tại Bécnơ (Thụy Sĩ ngày 23/6/1954) bàn về vấn đề phân vùng, thống nhất Việt Nam, vấn đề Lào và Campuchia, trong cuộc gặp hai bên đã đạt được giải pháp khung cho toàn bộ vấn đề Đông Dương như: chia cắt Việt Nam; hai miền Việt Nam cùng tồn tại hòa bình, giải quyết vấn đề quân sự trước; tách rời giải quyết 3 vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia; Trung Quốc sẵn sàng nhìn nhận 3 nước này trong khối Liên hiệp Pháp và muốn Lào, Campuchia sẽ có bộ mặt mới ở Đông Nam Châu Á như Ấn Độ, Inđônêxxia, yêu cầu Mỹ không có căn cứ quân sự ở Đông Dương, những điểm mà những người lãnh đạo Trung Quốc thỏa thuận với Pháp rất phù hợp với giải pháp 7 điểm của Anh- Mỹ đưa ra  ngày 29/6/1954, tức là 6 ngày sau cuộc tiếp xúc giữa Thủ tướng Pháp Menđét Phơrăngxơ và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai; Trong cuộc họp, Pháp cũng tỏ ý muốn đàm phán trực tiếp với Việt Nam dân chủ Cộng hòa để giải quyết các vấn đề cụ thể.

Trước tình thế mới phức tạp, Trung ương Đảng và Chính phủ ta quyết định xúc tiến hai cuộc tiếp xúc với đại diện của Pháp và Trung Quốc, là hai nước có vai trò đặc biệt quan trọng với tiến trình Hội nghị Genève. Cuộc tiếp xúc thứ nhất vào ngày 04/7/1954, giữa đoàn đại biểu Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam với đoàn đại diện bộ tổng chỉ huy các lực lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương đã diễn ra tại Trung Giã (Sóc Sơn- Hà Nội), hai bên đã thảo luận những vấn đề quân sự do Hội Nghị Giơnevơđề ra, xác định biện pháp thi hành những quyết định của Hội nghị; Cuộc tiếp xúc thứ hai diễn ra từ ngày 03-05/7/1954, ở Liễu Châu (Quảng Tây- Trung Quốc) giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chu Ân Lai, chúng ta kiên trì lập trường của mình về vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia, chủ trương đòi có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham dự như các bên đàm phán, định giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam là vĩ tuyến 13, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng để thống nhất nước nhà. Đối với việc giải quyết vấn đề Lào và vấn đề Campuchia, Việt Nam giữ quan điểm ở Lào có hai vùng tập kết của lực lượng kháng chiến đó là một vùng ở phía Bắc giáp với Trung Quốc và Việt Nam, một vùng ở Trung và Hạ Lào. Còn ở Campuchia có hai vùng tập kết, một ở phía Đông và Đông bắc song MêKông, một ở phía Tây nam sông MêKông, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng ở Lào và Campuchia, nhưng những đề nghị hợp tình, hợp lý của Việt Nam đưa ra đều bị Trung Quốc gác lại.

Có thể nói, từ 23/6 đến 20/7/1954, đoàn đại biểu Pháp tiến hành đàm phán trực tiếp với đoàn đại biểu Việt Nam để giải quyết vấn đề cụ thể nhưng Trung Quốc luôn giữ vai trò thúc đẩy phía Việt Nam nhân nhượng nhiều hơn. Tại điện văn của Chu Ân Lai gửi Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Trung Quốc, sao gửi Ban Chấp hành Đảng lao động Việt Nam, lãnh đạo Trung Quốc đã xác định “Đánh giá phương án vĩ tuyến 16 khó có thể thỏa thuận, nếu không được thì sẽ lấy Hải Phòng làm cửa bể tự do, ở gần đó cho phép Pháp đóng một số quân nhất định, nếu không được nữa thì đem đường số 5 và Hà Nội, Hải Phòng làm khu công quản và phi quân sự”[6;32]. Hay, Việt Nam cần “có những điều kiện công bằng và hợp lý để chính phủ Pháp có thể nhận được, để đi đến hiệp định trong vòng 10 ngày, điều kiện đưa ra nên đơn giản, rõ ràng, dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm rà, kéo dài đàm phán”[6;32]. Nhìn chung, lập trường của Trung Quốc ở Hội nghị Genève khác hẳn lập trường của Việt Nam dân chủ cộng hòa, song lại phù hợp với lập trường của Pháp. Đúng như Huygơ Tectre (Hugues  Teetrais) nhận xét “vào năm 1954, sự giúp đỡ quân sự của Trung Quốc đối với Việt Nam là rất to lớn. Rõ ràng, sự giúp đỡ này đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Về mặt ngoại giao, Hội nghị Genève là cơ hội để Trung Quốc bước lên chính trường. Bỗng nhiên tiếng nói ngoại giao của Trung Quốc trở nên quan trọng, hệt như tiếng nói của nước bá chủ  đối với Việt Nam trước khi có thực dân Pháp”[7].

Sau cuộc gặp Liễu Châu, Trung ương Đảng ta họp Hội nghị vào trung tuần tháng 7, xác định: từ nay mọi việc của ta đều nhằm vào chống đế quốc Mỹ với phương châm là giữ vững nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, phải đấu tranh trong một thời gian ngắn  để đi đến ký kết Hiệp định đình chiến với Chính phủ Pháp, không để chính quyền Mỹ lợi dụng kéo dài Hội nghị Genève và phá hoại quá trình đàm phán. Sự điều chỉnh sách lược này là đúng đắn, cần thiết và được cụ thể hóa thành phương án chỉ đạo mới trong quá trình đàm phán của đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Giơnevơ, trên 3 nội dung cơ bản: (1) Về quân sự, ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam, Lào, Campuchia; lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới tạm thời hai miền Nam Bắc Việt Nam; không đưa bộ đội, nhân viên quân sự mới vào khu vực này sau khi ngững bắn, không có căn cứ quân sự nước ngoài và liên minh quân sự. (2) Về chính trị, thỏa thuận thời hạn tổng tuyển cử ở Việt Nam; vấn đề Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp sau khi thống nhất. (3) Về phương châm đàm phán, chủ động giành lấy đình chiến ở 3 nước Đông Dương, tích cực thúc đẩy và chủ động đưa ra phương án của ta.

Trong 10 ngày cuối của quá trình đàm phán tại Hội nghị Genève, từ ngày 10 đến 20 tháng 7 năm 1954, hàng loạt vấn đề đặt ra phải thương lượng để đi đến các giải pháp cụ thể. Đoàn ta đã tiến hành đàm phán tay đôi, tay ba với các đoàn Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và đại diện Thủ tướng Ấn Độ. Xuất phát từ truyền thống yêu chuộng hòa bình, theo xu thế chung giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng, mặt khác chúng ta cũng gặp khó khăn trước sự dàn xếp của nước lớn, nên Việt Nam đã chấp nhận giải pháp: các nước tôn trọng quyền độc lập cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào, nhân dân Campuchia, ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn cõi Đông Dương, Pháp rút quân, đường giới tuyến tạm thời là vĩ tuyến 17; thời hạn tổ chức tổng tuyển cử ở Việt Nam là 2 năm; xác định khu vực đóng quân tạm thời cho Pathét Lào; các lực lượng kháng chiến Campuchia sẽ giải ngũ hoặc tham gia vào các lực lượng cảnh sát địa phương. Trong đêm 20/7/1954, ba Hiệp định về đình chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết.

Các bên tham gia Hội nghị Genève với những quan điểm và mục tiêu khác nhau, nhưng cuối cùng đã thống nhất được những điều khoản là do các bên đã tìm được mẫu số lợi ích chung, cùng nhau thỏa hiệp, mỗi bên có được cái tối thiểu cần đạt được. Đối với Trung Quốc, ở Hội nghị Genève, Trung Quốc đã đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra, nghiễm nhiên trở thành một trong năm cường quốc, tờ Nhân dân nhật báo ra ngày 22/7/1954 khẳng định “Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã giành được quy chế một cường quốc trên thế giới, được quốc tế thừa nhận”. Trung Quốc đã đẩy được Mỹ ra xa, Hiệp định này đã làm tan rã ý đồ của Mỹ bao vây Trung Quốc từ 3 phía Triều Tiên, Đài Loan và Đông Dương, có các nước láng giềng làm khu đệm, có biên giới an toàn để tập trung sức người, sức của để phát triển kinh tế, lại tạo được một Đông Dương đa dạng mà Trung Quốc có khả năng quan hệ và ảnh hưởng. Mặt khác, Trung Quốc đã mở rộng và tăng cường thêm quan hệ trên các mặt với Pháp, Anh, Đức, Ý, Thụy Sĩ, Bỉ, không có gì là ngạc nhiên, dịp này Trung Quốc mở cuộc ăn mừng toàn quốc; Đối với Việt Nam, bản Hiệp định bao gồm 6 loại điều khoản với tổng số 47 điều, trong đó các nước đã công nhận những quyền cơ bản của nước Việt Nam là độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xác lập cơ sở pháp lý để quân và dân ta tiếp tục đấu tranh. Hội nghị Genève đã đánh dấu một trong những thắng lợi vĩ đại của nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

3. Những bài học rút ra từ Hội nghị Genève năm 1954 về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn

Một là,đánh giá chính xác tình hình quốc tế, nhất là thái độ của đồng minh, nước lớn trong hoạt động đối ngoại, chọn đúng mục tiêu, nhân nhương có nguyên tắc

Qua Hội nghị Genève đã cho chúng ta thấy rõ, Đảng ta đã không đánh giá sai tình hình quốc tế, không đánh giá sai các đối tác và đã hiểu đúng chính sách của họ. Phải khẳng định rằng, Đảng ta ký Hiệp định Genève là một giải pháp chiến lược của Việt Nam, bởi trong tình thế cấp bách, đấu tranh cho một nền hòa bình và chấp nhận một giải pháp như vậy là một sự lựa chọn rất khôn khéo, đúng đắn, sáng suốt. Chính sự lựa chọn đó, trước mắt giúp cho dân tộc Việt Nam tạm đẩy lùi hiểm họa của một cuộc chiến tranh đang lên cơn nóng từ phía Mỹ. Mặt khác Đảng ta vẫn giữ được quan hệ tốt đẹp với Liên Xô, Trung Quốc, thắt chặt quan hệ với Lào và Campuchia.

Kết quả cuối cùng được thể hiện trong Hiệp định Genève so với giải pháp 8 điểm mà chúng ta đưa ra ban đầu có khoảng cách đáng kể, thậm chí chứa đựng nhiều hạn chế. Nhưng đây là những khoảng cách và hạn chế không thể tránh khỏi trong thời điểm lịch sử cụ thể. Mỗi lần nhân nhượng, thỏa hiệp chúng ta đều cân nhắc kỹ, luôn thực hiện “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, luôn giữ mục tiêu. Những mục tiêu ta chọn đã được bảo đảm nghiêm ngặt, Pháp, Trung Quốc và các nước lớn khác phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất nước nhà, điều mà 9 năm trước tại Hiệp định sơ bộ 06/3/1946, Pháp không chịu công nhận, mới chỉ công nhận Việt Nam là nước tự do, nên không tạo được cơ sở pháp lý lâu bền, Việt Nam phải chấp nhận để Pháp đưa quân ra miền Bắc.

Với Hiệp định Genève Pháp, Trung Quốc và các nước phải công nhận trọn vẹn các quyền dân tộc cơ bản, đây chính là mục tiêu chúng ta lựa chọn, là cơ sở về pháp lý và cả về đạo lý để nhân dân ta để nhân dân ta đấu tranh chống Mỹ suốt hơn hai thập kỷ sau đó; là cơ sở để lên án, tố cáo Mỹ; là cơ sở để đoàn kết nhân dân Đông Dương trong sự nghiệp chung; là cơ sở để tập hợp lực lượng và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Bài học quý này sẽ tiếp tục phát huy giá trị trên con đường hội nhập quốc tế đầy thời cơ và thách thức đan xen như hiện nay, chúng ta phải luôn kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, nhưng hết sức linh hoạt, mềm dẻo trong từng sách lược cụ thể; coi giáo dục, thuyết phục, chủ động phòng ngừa và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm, thường xuyên nắm chắc tình hình xử lý kịp thời các tình huống xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia.

   Hai là, không được mơ hồ về mục tiêu, lợi ích và ý đồ chiến lược của đồng minh, nước lớn, ngay cả khi có nước lớn cùng chung chế độ xã hội chủ nghĩa

Năm nước tham dự Hội nghị Genève thuộc hai phe, hai hệ thống đối lập nhau. Một bên là các nước xã hội chủ nghĩa gồm Liên Xô, Trung Quốc, bên kia là các nước tư bản, đế quốc gồm Mỹ, Pháp, Anh. Theo logic hình thức thì sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa  là tất yếu và vô điều kiện, song ngay từ đầu những quan điểm, lập trường và giải pháp về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương giữa các nước lớn theo chế độ xã hội chủ nghĩa, đã không trùng quan điểm, lợi ích của Liên Xô và đặc biệt là của Trung Quốc không hoàn toàn đồng nhất với lợi ích của Việt Nam, sự dàn xếp, thỏa hiệp giữa các nước lớn làm phương hại đến lợi ích của dân tộc Việt Nam cũng như của nhân dân hai nước Lào và Campuchia. Những điều mà chúng ta tưởng như không thể xảy ra lại đã xảy ra cách đây 60 năm nhưng hiện nay vẫn chưa hết khả năng tái diễn.

Cách đây 60 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta đã rất tỉnh táo, sắc bén, nắm bắt thấu đáo tình hình và xác định mục tiêu, lợi ích quốc gia có sức chi phối rất lớn đối với lập trường, quan điểm của lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề Đông Dương. Từ đó, chúng ta đã bình tĩnh trước những chủ trương do lãnh đạo Trung Quốc tự ý dàn xếp với các nước tư bản, đế quốc tham dự Hội nghị, mặt khác chúng ta vừa tích cực, linh hoạt, kiên trì đấu tranh, giữ vững quan điểm lập trường, tranh thủ sự giúp đỡ, đồng thời chủ động, kiên quyết tránh để nước lớn đặt chúng ta trong chính sách, chiến lược của họ.

Ba là, xử lý đúng mối quan hệ giữa thế và lực, chú trọng tăng cường thực lực của đất nước, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đối ngoại, bảo vệ độc lập, chủ quyềnđất nước

Lực: là sức mạnh tổng hợp về kinh tế, quân sự, tinh thần, vị thế..; Thế: là uy tín, vai trò của mình.Trong đó, lực quyết định thế, thế tạo điều kiện để lực phát triển. Hồ Chí Minh từng nói: Thực lực là cái chiêng. Ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn. Sẽ không thể giành thắng lợi trên bàn đàm phán nếu không có thực lực về kinh tế, chính trị, quân sự và thắng lợi trên chiến trường. Chính vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại thì phải phát huy tối đa nội lực của đất nước. Sự hỗ trợ từ bên ngoài bao giờ cũng đáng quý và cần được khai thác triệt để, nhưng không bao giờ có thể thay thế được thực lực về kinh tế, quân sự, pháp lý, chính trị, khoa học… của đất nước. Vì thế, xây dựng lực lượng và bồi đắp thực lực là việc tối cần thiết, quyết định chính đến sự thành bại của công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền của quốc gia.

Trên thực tế, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quân sự, mà còn diễn ra đồng bộ và rộng khắp trong các mặt trận chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, văn hóa, học thuật… Vì thế, phát triển thực lực cần phải phải lưu ý phát triển đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực này. Thực lực cũng không nên chỉ được xét đơn thuần ở khía cạnh vật chất, mà cần bao gồm cả những yếu tố tinh thần như truyền thống lịch sử, tinh thần ái quốc, nghệ thuật quốc phòng toàn dân, những bài học dựng nước và giữ nước mà cha ông để lại. Chính những yếu tố tinh thần này đã giúp chúng ta bao phen vượt qua những kẻ thù mạnh gấp bội trong lịch sử. Cho nên, sức mạnh tinh thần là một thành phần quan trọng của thực lực và cần được nuôi dưỡng, bồi đắp không ngừng.

Trong xu thế toàn cầu hoá, vừa có những mặt thuận lợi vừa có nhiều vấn đề trắc ẩn, thì quan hệ đối ngoại không chỉ là ra sức tranh thủ thuận lợi cho sự phát triển của đất nước mà còn phải tích cực và chủ động góp phần giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế, góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng. Cho dù các cường quốc có nhiều khả năng chi phối, nhưng biện chứng của quan hệ quốc tế là ở chỗ: các nước nhỏ bằng những nỗ lực của chính mình có thể tác động trở lại. Sự phối hợp của Việt Nam với các nước trong khu vực, xây dựng một cộng đồng Đông Nam Á hùng mạnh là cơ sở để phát huy thế chủ động, cùng tranh thủ những điều kiện thuận lợi, đồng thời hợp tác để vượt qua những thử thách do tình hình quốc tế mang lại, nhằm giữ vững chủ quyền, hoà bình, ổn định và phát triển.

Bốn là, tích cực, chủ động vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quan hệ với đồng minh, nước lớn, chú trọngtăng cường đối thoại và hợp tác, giữ vững ổn định và cùng phát triển

Trong quan hệ với đồng minh, nước lớn chúng ta không nên quá cứng nhắc cho rằng nước Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo không thể có quan hệ hợp tác với các mước Tư bản chủ nghĩa và cũng thật là ấu trĩ nếu chúng ta xác định trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa khác chỉ có hợp tác mà không có đấu tranh vì quyền lợi dân tộc. Trong thực tiễn, hai thái cực sai lầm này đều được khắc phục ngay từ đầu Hội nghị Genève, chính trong Hội nghị Genève chúng ta đã vượt lên trên mọi khuôn mẫu mang tính giáo điều của tư duy và hoạt động đối ngoại phân phe, phân tuyến rất đặc trưng của thời kỳ chiến tranh lạnh, phương châm kết hợp hợp tác và đấu tranh đã được Đảng ta vận dụng có hiệu quả trong và sau Hội nghị Genève, tạo ra phong cách linh hoạt đặc sắc của ngoại giao Việt Nam.

Tình hình thế giới những năm gần đây có nhiều biến đổi sâu sắc, sự phát triển kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh của một quốc gia, dân tộc hay một khu vực đều đan xen những ảnh hưởng và lợi ích của nhiều quốc gia, dân tộc khác. 60 năm đã trôi qua, bài học quý này giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn những  vấn đề đặt ra đối với nhận thức về quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, bạn, thù hay đối tác, đối tượng là một trong những yêu cầu đặc biệt quan trọng và cấp thiết hiện nay. Trong đó, Đảng ta luôn khẳng định những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta mà chúng ta cần phải hợp tác và bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xâm phạm đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đều là đối tượng đấu tranh. Chúng ta xác định rõ ba dạng đối tượng: đối tượng đối lập về ý thức hệ có âm mưu tập trung xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đối tượng vì lợi ích dân tộc hẹp hòi đang có tham vọng về chủ quyền lãnh thổ nước ta; đối tượng có thể bị chuyển hóa bởi sự thao túng của nước lớn có âm mưu chống phá ta. Tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc; khắc phục được hạn chế của tư duy cũ, không cứng nhắc, làm cản trở hội nhập, hợp tác, không mơ hồ, mất cảnh giác; vừa giữ nguyên tắc, vừa đủ linh hoạt, được xem như cẩm nang “dĩ bất biến” để ứng với “vạn biến” trong quan hệ, xử lý các tình huống chiến lược, tạo được sự đan xen lợi ích chiến lược, giữ vững và củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4. Kết luận

Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954 là một diễn đàn quốc tế đa phương theo đúng luật chơi quốc tế, các nước lớn vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên chính. Tại Hội nghị, Pháp và Trung Quốc đóng vai trò trung tâm của đối thoại, Pháp cần Trung Quốc để tránh giáp trận với Việt Nam, Trung Quốc kéo Pháp để sớm có giải pháp phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Việt Nam tham gia với tư cách là một bên tham chiến, giành thắng lợi trên chiến trường, song do sự chi phối của  đồng minh, nước lớn nên gặp không ít khó khăn trong việc phát huy thế thắng trên chiến trường, khó giành thế chủ động trong đàm phán. Nhưng với sự nhạy bén, sáng suốt trong xử lý, chúng ta đã giành thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, xử lý thỏa đáng mối quan hệ với nước lớn tham gia Hội nghị, qua đó cho chúng ta những bài học mang dấu ấn của sự nhạy bén chính trị, linh hoạt trong xử lý cách đây 60 năm là cơ sở quý báu cho nền ngoại giao Việt Nam hiện nay.

 Phạm Hồng Kiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.An analysis 0f Vietnams relations with China from the beginning of the Coid War to the Present, Wilson Quarterly 19 (1), p.35.

2.Khắc Huỳnh, Hiệp định Genève sau 50 năm nhìn lại và suy ngẫm, Tạp chí Lịch sử quân sự số 7/2004.

3. Preliminary Opinions on the Assessment of and Preparation for the Geneva Conperence, Prepared by the PRC Ministry  fo Foreign Affairs (drafted by PRC Premier and Foreign Minister Zhou Enlai)[Excerpt] March 02, 1954, Ibid.

4. Tạp chí Pháp, Historia Special, số 28, tr 102.

5. http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nhung-thang-tram-trong-quan-he-viet-trung-2995296.html.

6. Sự thật quan hệ Việt Nam- Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1979, tr30; 32.

7. Hugues  Teetrais, Bài tham luận 1954-1975 so sánh và suy nghĩ, Nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ  và Hội nghị Genève (1954-1975).

8. Phạm Hồng Kiên, Góp phần tìm hiểu sự chủ động của Đảng trong kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược, Tạp chí Lịch sử Đảng số 6/2014.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Trung Quốc đã nói đến sự cần thiết bành trướng để nhà nước sống còn ?

Hình ảnh: ĐỪNG TIN LỜI BỌN ĐẠI HÁN !!!</p><br />
<p>Theo quan niệm địa-chính trị cổ Trung Quốc: Trung Quốc là “trung tâm của thế giới, còn vây quanh đế chế Trung Hoa là “man di” và “mọi rợ”, những người phải cống nộp cho thiên triều. Trung Quốc vốn rất bảo thủ ở nhiều vấn đề, quan niệm này đã được xem xét lại và hiện đại hóa ở nước Trung Hoa cộng sản.</p><br />
<p>Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta nhất định phải giành lấy Đông Nam Á, kể cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một khu vực như Đông Nam Á rất giàu có, ở đó có nhiều khoáng sản, nó hoàn toàn đáng bỏ công của ra để giành lấy nó. Trong tương lai, nó sẽ rất có lợi để phát triển công nghiệp Trung Quốc. Như vậy, sẽ có thể bù đắp toàn bộ những thiệt hại. Sau khi chúng ta giành được Đông Nam Á, ở khu vực này sẽ có thể tăng cường các lực lượng của chúng ta …” (năm 1965); “Chúng ta phải chinh phục trái đất… Theo tôi, quan trọng nhất là chinh phục trái đất chúng ta, nơi chúng ta sẽ thiết lập một cường quốc hùng mạnh”.” width=”504″ height=”365″ /></h1>
<div class=

Đặc điểm phát triển của nền văn minh Trung Hoa là tính chu kỳ. Trong lịch sử các đế chế Trung Hoa thấy rõ 3 chu kỳ: hình thành, hưng thịnh, suy vong và hỗn loạn, trong đó phần lớn hoặc một bộ phận đáng kể dân cư bị chết đi.

Hiện nay, Trung Quốc đang ở giai đoạn “hưng thịnh” – kinh tế và nhân khẩu tăng trưởng, mặc dù giới tinh hoa Trung Quốc đã kìm hãm được sự tăng dân số, nhưng đổi lại, đã nhận lấy “sự già hóa” của dân cư và giảm số lượng nữ giới.

Kinh tế Trung Quốc (không phải là không có sự giúp đỡ của Mỹ) đang có sự phát triển rất nhanh chóng, đã vượt qua Đức, Nhật và đang đuổi kịp Mỹ. Nhưng trong sự tăng trưởng đó có một cái bẫy chết người, nếu sự tăng trưởng dừng lại, Trung Quốc sẽ đối mặt với những vấn đề kinh tế-xã hội kinh hoàng, chúng chắc chắn sẽ gây ra sự khủng hoảng chính trị nội địa, các cuộc nổi loạn của nông dân và các khu vực Hồi giáo. Kết quả, Trung Quốc sẽ chuyển sang giai đoạn “suy vong”.

Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rõ quy luật lịch sử này và hoàn toàn logic khi giả định là họ đã tìm ra được cách để vượt qua, hay ít ra là kéo dài khung thời gian của thời kỳ “tăng trưởng”. Các triết gia Trung Quốc cho rằng, tồn tại khả năng có một giai đoạn “đại hài hòa”.

Những dấu hiệu giai đoạn “suy vong” đang đến gần

- “Sự quá nóng” của kinh tế Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng quá nhanh đã dẫn tới việc nếu như trong nước bắt đầu sự trì trệ (mà điều đó thì có thể xảy ra do khủng hoảng thế giới, lượng cầu ở Mỹ, châu Âu, Nga… suy giảm, mặc dù người ta đang tìm cách duy trì nó một cách nhân tạo bằng cách bơm tiền không được bảo đảm, nhưng điều đó không thể kéo dài mãi); thì các vấn đề kinh tế-xã hội sẽ bùng phát dữ dội ở Trung Quốc.

- Cuộc chạy đua vũ trang ráo riết mà Trung Quốc phát động từ những năm 1990 đã khiến cả Đông Nam Á lao vào chạy đua vũ trang.

- Sự bất mãn gia tăng trong các tầng lớp dân chúng nghèo khổ nhất (nông dân), mà đến nay vẫn chiếm đa số dân số. Ví dụ, bộ phim Avatar được yêu thích ở Nga thì ở Trung Quốc người ta cũng rất thích. Người Trung Quốc tự so sánh mình với dân tộc hoang đường “navi”, bởi vì chính quyền tiến hành chính sách xua đuổi dân chúng khỏi các vùng đất quê hương để dành chỗ cho các dự án xây dựng quy mô. Tạm thời sự bất mãn được bù đắp bởi khả năng tìm việc làm ở các thành phố.

- Sự gia tăng chủ nghĩa hưởng lạc, sự phân hóa “những người Trung Quốc mới” – ngày càng nhiều hơn du thuyền, casino, hàng xa xỉ. Trung Quốc đang dần dần để cho các loại vi rus hủy diệt – những người có triệu chứng thoái hóa (chuyển giới, đồng tính nam) nhận được ngày càng nhiều tự do. Tham nhũng gia tăng trong bộ máy đảng và nhà nước, sự thật tạm thời bị kiềm chế bởi các cuộc xử bắn công khai.

- Sự gia tăng bạo lực tự phát, nhất là đối với trẻ em (một dấu hiệu rất xấu, khi thái độ đối với trẻ em là rất đáng lo ngại), nói lên sự gia tăng tiêu cực trong thế giới tiềm thức của văn minh Trung Quốc.

Những lối thoát

- Tìm kiếm những con đường hòa bình để chuyển sang giai đoạn “Đại hài hòa”. Điều đó chỉ có thể với thiện chí của giới tinh hoa Trung Quốc và sự hợp tác rất chặt chẽ với nền văn minh Nga. Nhưng xét tới yếu tố bản thân Nga cũng đang đi tìm kiếm… thì…

- Bành trướng ra ngoài, kể cả bành trướng quân sự, để kéo dài quãng thời gian của giai đoạn “tăng trưởng” cần có những vùng lãnh thổ mới và các nguồn tài nguyên – đặc biệt gay gắt là vấn đề nước sạch và đất nông nghiệp.

Các dấu hiệu Trung Quốc chuẩn bị bành trướng quân sự

- Chạy đua vũ trang: Từ một nước thường thường bậc trung về quân sự, trong vòng 20 năm, Trung Quốc đã trở thành cường quốc số 2 về quân sự. Các chuyên gia quân sự Bắc Mỹ đã lo lắng nói rằng, chẳng bao lâu nữa Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ về sức mạnh và số lượng vũ khí hiện đại.

- Trung Quốc đang chuẩn bị cho quân đội của họ thực hiện các cuộc tấn công trên bộ – các binh đoàn lục quân hùng mạnh, với một số lượng lớn binh khí nặng, cũng như cho cuộc xung đột với một địch thủ công nghệ cao – họ đang cấp tốc hoàn thiện hạm đội, đóng các tàu sân bay, phát triển phòng không, vũ khí chống hạm, không quân, vũ khí phòng thủ vũ trụ.

- Các nước láng giềng của Trung Quốc đẩy mạnh đột biến hiện đại hóa quân đội – Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ (tất cả các nước này đều có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, điều có thể trở thành cái cớ cho một cuộc chiến tranh lớn). Chỉ có Nga là đang “ngủ”.

- Trên báo chí và trong giới quân sự Trung Quốc, người ta đã nói đến sự cần thiết bành trướng để nhà nước sống còn.

- Trong những bộ phim Trung Quốc mới đây, thấy rõ hình ảnh kẻ thù là “người da trắng” và ít hơn là người Nhật.

Thái độ đối với Mỹ

Trung Quốc cho rằng, nước Mỹ ốm yếu và không làm nổi vai trò lãnh đạo và thấy rằng, đang có một “cuộc cải tổ” chờ đợi nước Mỹ. Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rằng, quân đội Mỹ sẽ không “chịu nổi” một cuộc chiến tranh cổ điển và không dám mở một cuộc chiến tranh lớn vì Đài Loan. Mặc dù họ sẽ vẫn ủng hộ “các đồng minh” châu Á (về mặt ngoại giao, có thể là bằng vũ khí, tài chính). Ngoài ra, Trung Quốc còn là “công xưởng” của Mỹ, là chủ nợ trái phiếu lớn nhất của Mỹ, chiến tranh với Trung Quốc, nhất là chiến tranh “thật” sẽ mang lại những tổn thất to lớn cho Mỹ.

Bởi vậy, cũng như Anh và Pháp trước Thế chiến II, Mỹ sẽ nín nhịn đến cùng trước sự bành trướng của Trung Quốc sang các nước láng giếng. Hơn nữa, một cuộc chiến tranh ở châu Á cũng sẽ có lợi cho giới tinh hoa Mỹ vì thế giới sẽ quên đi các vấn đề của họ.

Các tuyến đường biển vận chuyển nguyên liệu cho công nghiệp Trung Quốc.
Giống như nhiều cường quốc công nghiệp, Trung Quốc rất nhạy cảm với hoạt động
của các tuyến đường biển này

Những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc

Theo quan niệm địa-chính trị cổ Trung Quốc: Trung Quốc là “trung tâm của thế giới, còn vây quanh đế chế Trung Hoa là “man di” và “mọi rợ”, những người phải cống nộp cho thiên triều. Trung Quốc vốn rất bảo thủ ở nhiều vấn đề, quan niệm này đã được xem xét lại và hiện đại hóa ở nước Trung Hoa cộng sản.

Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta nhất định phải giành lấy Đông Nam Á, kể cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một khu vực như Đông Nam Á rất giàu có, ở đó có nhiều khoáng sản, nó hoàn toàn đáng bỏ công của ra để giành lấy nó. Trong tương lai, nó sẽ rất có lợi để phát triển công nghiệp Trung Quốc. Như vậy, sẽ có thể bù đắp toàn bộ những thiệt hại. Sau khi chúng ta giành được Đông Nam Á, ở khu vực này sẽ có thể tăng cường các lực lượng của chúng ta …” (năm 1965); “Chúng ta phải chinh phục trái đất… Theo tôi, quan trọng nhất là chinh phục trái đất chúng ta, nơi chúng ta sẽ thiết lập một cường quốc hùng mạnh”.

Danh sách “các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” rất dài: Miến Điện, Lào, Việt Nam, Nepal, Butan, Bắc Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Triều Tiên, quần đảo Ryukyu, hơn 300 hòn đảo ở Biển Đông, biển Hoa Đông và Hoàng Hải, Kirgyzya, một phần Tadjikistan, Nam Kazakhstan, tỉnh Badah Shan của Afghanistan, Mông Cổ, vùng Ngoại Baikal và Nam Viễn Đông cho đến tận Okhotsk của Nga.

“Các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” là hơn 10 triệu km². Các vùng lãnh thổ đó lớn hơn lãnh thổ Trung Quốc (9,6 triệu km²) hơn 2 lần. Sau Мао, các nhà lãnh đạo Trung Quốc “nguội đi” và không nêu ra những yêu sách như thế, nhưng quan niệm lịch sử thì họ vẫn giữ.

Và không nên nghĩ là Trung Quốc quên lãng những gì mà họ cho là của họ – họ đã lấy lại Hongkong (thuộc Anh đến năm 1997), Macao (thuộc Bồ Đào Nha đến năm 1999), đã nuốt được một phần lãnh thổ Nga (năm 2005 – 337 km²), 1.000 km² của Tadjikistan (tháng 1.2011, Trung Quốc yêu sách 28.000 km²). Trung Quốc càng mạnh và các nước láng giềng càng yếu bao nhiêu thì “sự thèm muốn” càng lớn bấy nhiêu.

Niềm tin vào phương cách ngoại giao cũng là đáng ngờ. Trung Quốc đã không chỉ một lần, trước khi trở thành cường quốc số 2, xung đột vũ trang với các nước láng giềng: 2 cuộc xung đột biên giới với Ấn Độ (1962, 1967), xung đột biên giới Trung-Xô (1969), chiến tranh với Việt Nam (1979), 2 cuộc xung đột biên giới với Việt Nam (1984, 1988), 3 cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan. Trung Quốc “đã nuốt chửng” 3 vùng lãnh thổ vốn không phải là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa là Đông Turkestan (chiếm vào thế kỷ XVIII), Nội Mông (chiếm hẳn sau Thế chiến II) và Tây Tạng (thập niên 1950).

3 tranh chấp lãnh thổ chủ yếu của Trung Quốc: (1) Biên giới trên bộ với Ấn Độ và Butan;
(2) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Việt Nam;
(3) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Nhật Bản.

Nhật Bản

Ở Trung Quốc, người ta có thái độ rất tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân rất khách quan, cuối thế kỷ XIX-nửa đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã tham gia cướp bóc Trung Quốc cùng với phương Tây. Nhật đã 2 lần tấn công Trung Quốc và trong những năm Thế chiến II đã thực hiện một cuộc diệt chủng thực sự ở miền bắc Trung Quốc, hàng triệu người Trung Quốc bị giết (không có con số chính xác). Hơn nữa, Nhật Bản đến nay vẫn không chính thức xin lỗi về chính sách của chính phủ thời đó.

Họ có tranh chấp lãnh thổ về quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông mà Nhật Bản chiếm giữ năm 1895. Trung Quốc cho rằng, Nhật Bản đã đến lúc trả lại các vùng lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc” và công khai tuyên bố về vấn đề này vào năm 1992. Năm 1999, tình hình thêm căng thẳng vì tại thềm lục địa đã tìm thấy các trữ lượng khí đốt lớn và cả hai nước đã chuẩn bị khai thác chúng.

Cuối năm 2010, Nhật Bản thậm chí đã xem xét lại chiến lược quân sự, trong đó nguy cơ chủ yếu đối với Nhật được nêu ra không phải là Nga mà là vấn đề CHDCND Triều Tiên và cuộc chạy đua vũ trang do Trung Quốc phát động. Bởi vậy, Nhật Bản dự định tăng cường hạm đội tàu ngầm, hải quân, không quân và củng cố quan hệ hữu nghị với Mỹ.

Bán đảo Triều Tiên

Triều Tiên từ thời cổ đại bị coi là “thuộc quốc” của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc ủng hộ chế độ CHDCND Triều Tiên và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với cả 2 nước Triều Tiên. Nhưng không biết Trung Quốc sẽ ứng xử thế nào nếu trên bán đảo bùng nổ nội chiến và chế độ Bắc Triều Tiên sụp đổ. Một phương án có khả năng là Trung Quốc chiếm đóng Bắc Triều Tiên.

Đài Loan

Được coi là một bộ phận không thể chia cắt của Trung Quốc thống nhất. Từ năm 1992-1999, hai bên đã đàm phán tái thống nhất, song đổ vỡ vì lãnh đạo Đài Loan tuyên bố, Trung Quốc và Đài Loan là “2 nước ở 2 bờ eo biển Đài Loan”.

Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị giải pháp quân sự cho vấn đề Đài Loan. Mỹ và Nhật Bản hiện ủng hộ Đài Loan, Mỹ vũ trang cho quân đội Đài Loan. Nhưng điều gì sẽ diễn ra nếu Mỹ đối mặt với một cuộc khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng hoặc một cuộc chiến tranh nữa (Iran, Pakistan…). Mỹ sẽ không thể bảo vệ Đài Loan, không đủ nguồn lực, hơn nữa công chúng Mỹ sẽ không hiểu: bảo vệ người Trung Quốc khỏi người Trung Quốc để làm gì.

Giới tinh hoa Đài Loan đang tăng cường quân đội: hải quân, phát triển máy bay không người lái, tên lửa chống hạm, phòng không, đề nghị Mỹ bán các máy bay tiêm kích mới.

Vấn đề các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa là quần đảo nhỏ ở Biển Đông, bị Trung Quốc chiếm của Việt Nam năm 1974, ngoài Việt Nam, Đài Loan cũng yêu sách quần đảo này.

Quần đảo Trường Sa nằm ở Tây Nam Biển Đông, gồm hơn 100 hòn đảo nhỏ, bãi đá ngầm và đảo san hô vòng, tổng diện tích dưới 5 km². Tổng diện tích khu vực này là hơn 400.000 km². Tranh chấp khu vực này là 6 quốc gia – Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Brunei.

Nguyên nhân xung đột là vị trí quan trọng chiến lược của quần đảo, khu vực này giàu tài nguyên sinh học và có thể có những mỏ dầu và khí đốt trữ lượng lớn.

Một phần quần đảo do các đơn vị quân đội Việt Nam đóng giữ, một phần bị chiếm giữ bởi các đơn vị Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan. Thường xuyên xảy ra những cuộc đụng độ nhỏ, năm 2008, Philippines tuyên bố, họ sẽ “chiến đấu đến người thủy binh và lính thủy đánh bộ cuối cùng” vì quần đảo Trường Sa. Có khả năng xảy ra chiến tranh lớn. Cả 6 quốc gia trong những năm gần đây đều tăng cường quân đội, nhất là hải quân, hạm đội tàu ngầm, không lực hải quân được chú ý hơn.

Việt Nam

“Cựu” địch thủ của Trung Quốc, từng bị Trung Quốc đô hộ 1.000 năm, cho đến thế kỷ X. Là đối thủ của Trung Quốc tranh giành ảnh hưởng đối với các nước láng giềng Đông Nam Á, Việt Nam có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Khi Việt Nam còn là đồng minh của Liên Xô, thì không có nguy cơ lớn đối với Việt Nam, nhưng hiện nay, nguy cơ tăng mạnh. Ban lãnh đạo Việt Nam đang tăng cường quân đội, tìm kiếm các quan hệ với Mỹ (có tin đồn, thậm chí Việt Nam sẵn sàng cho Mỹ sử dụng Cam Ranh làm căn cứ quân sự), cũng cố quan hệ hệ tác với Ấn Độ.

Ấn Độ

Trung Quốc coi bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ là một phần của Nam Tây Tạng và nghĩa là một phần lãnh thổ của mình. Ấn Độ muốn Trung Quốc trả lại vùng lãnh thổ Aksai Chin. Trung Quốc đang đẩy mạnh hợp tác kinh tế, quân sự với Pakistan, Bangladesh, những nước về lịch sử và văn hóa là một bộ phận của nền văn minh Ấn Độ. Trung Quốc đang tăng cường ảnh hưởng ở các nước giáp giới Ấn Độ mà giới tinh hoa Ấn Độ coi là vùng ảnh hưởng của mình là Nepal, Butan, Sri Lanka.

Ấn Độ cũng không thích thú gì việc Trung Quốc chiếm giữ Tây Tạng. Đáp lại, Ấn Độ đang tăng cường sức mạnh quân đội, tăng cường hợp tác với Mỹ, Nga. Khả năng xảy ra chiến tranh lớn bị hạn chế bởi sự hiểm trở của biên giới Trung-Ấn, núi non.

Afghanistan

Trung Quốc coi tỉnh Badah Shan là lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc”. Nhưng trong khi chiến tranh liên miên diễn ra ở Afghanistan, Trung Quốc chú ý hơn đến bành trướng kinh tế. Rõ ràng là khi Mỹ và các đồng minh rút khỏi Afghanistan, Trung Quốc sẽ là “anh cả” ở khu vực này và sẽ giành được những tài nguyên họ cần mà không cần chiến tranh. Afghanistan bị tàn phá, nước này cần những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, mà Trung Quốc thì có tiền.

Tadjikistan

Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với 28.000 km² ở khu vực Đông Pamir. Tháng 1.2011, Tadjikistan đã nhượng 1.000 km² lãnh thổ tranh chấp cho Trung Quốc. Xét tới tiềm lực quân sự thực tế là bằng không so với Trung Quốc của Tadjikistanа, thì sớm hay muộn, nước này cũng phải giao nộp toàn bộ các lãnh thổ “tranh chấp” cho Trung Quốc, thậm chí cả các vùng lãnh thổ khác nữa (xét tới khả năng nội chiến ở nước này). Lối thoát duy nhất đối với Tadjikistan là trở lại trong thành phần nước Nga.

Kirgyzya

Năm 1996 và 1999, Kirgyzya đã cắt cho Trung Quốc gần 12 km² lãnh thổ và tạm thời Trung Quốc bằng lòng với điều đó. Nhưng xét tới tình hình khốn khó của Kirgyzya: các khó khăn kinh tế, quân đội yếu ớt, xung đột sắc tộc (giữa những người dân tộc Kirgyz và Uzbek), khả năng hỗn loạn lan sang từ Afghanistan, Kirgyzya sẽ không tránh khỏi số phận “miếng mồi” của kẻ mạnh. Giống như đối với Tadjikistan, trong hoàn cảnh khủng hoảng thế giới, cách cứu vãn dân tộc duy nhất để khỏi bị “Trung Quốc hóa” hoặc Hồi giáo cực đoan hóa là quay trở lại thành phần nước Nga.

Kazakhstan

Năm 1992-1999 đã diễn ra một quá trình đàm phán ngoại giao, kết quả là Trung Quốc giành được 407 km² lãnh thổ Kazakhstan. Trung Quốc không còn nêu ra vấn đề lãnh thổ nữa và nó được coi là đã giải quyết xong. Nhưng Kazakhstan dân cư thưa thớt, tiềm lực quân sự yếu, biên giới với Trung Quốc dài (hơn 1.700 km) và cách Trung Quốc ứng xử khi cần sống sót là điều dễ hiểu.

Mông Cổ

Nước này được coi là sự tiếp tục của khu vực Nội Mông và tương ứng là sự tiếp tục tự nhiên của Trung Quốc. Trong thế kỷ XX, Trung Quốc đã không nuốt chửng được nước này chỉ là nhờ sự bảo trợ của Liên Xô hùng mạnh. Mông Cổ đáng quan tâm đối với Trung Quốc ở chỗ với diện tích lớn, nước này gần như không có dân cư (2,7 triệu người), không có quân đội thực sự (gần 9.000 quân).

Nga

Năm 1991, М. Gorbachev ký hiệp ước, theo đó biên giới chạy theo giữa lòng sông Amur. Trước đó, biên giới chạy theo bờ sông Amur, bên phần đất Trung Quốc. Năm 2004-2005, V. Putin đã cắt cho Trung Quốc 337 km² lãnh thổ Nga. Tại đây, vấn đề lãnh thổ dường như đã được giải quyết, nhưng “sự thèm ăn thức tỉnh trong khi ăn”. Trung Quốc đang đứng trước ngã ba đường và nếu như họ chọn bành trướng ra bên ngoài thì Nga sẽ là “đối tượng” có khả năng nhất. Tạm thời, Trung Quốc hạn chế ở việc chiếm lĩnh về kinh tế các vùng lãnh thổ Nga và di dân đến các vùng lãnh thổ hầu như trống rỗng của Siberia và Viễn Đông.

Những nạn nhân đầu tiên có khả năng nhất của sự bành trướng của Trung Quốc

Những nạn nhân đầu tiên của Trung Quốc rõ ràng sẽ là:

- Đài Loan: Theo lập trường nguyên tắc của Trung Quốc thì Đài Loan là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa. Nhưng cũng có khả năng cho lối thoát hòa bình nếu như giới tinh hoa Đài Loan kìm nén được các tham vọng của mình. Nếu như xảy ra một chiến dịch quân sự thì nạn nhân sẽ nhiều, nhưng thiết nghĩ Mỹ và phương Tây sẽ chỉ làm ầm ĩ, chứ sẽ không thực sự tham chiến.

- Các nước phía Bắc: Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kirgyzya, do đây là những vùng lãnh thổ dân cư thưa thớt, có nguồn tài nguyên lớn và tiềm lực quân sự yếu (các đơn vị quân đội chủ yếu của Nga bố trí ở phía Tây, nên Trung Quốc sẽ kịp giải quyết xontg tất cả các vấn đề nhằm chiếm giữ Siberia và Viễn Đông của Nga trước khi các đơn vị đó kịp tới khu vực chiến sự).

- Tấn công Ấn Độ không hấp dẫn Trung Quốc vì chiến trường không thích hợp (vùng núi), về quân số, quân đội Ấn Độ và dự trữ nhân lực của nước này cũng gần như của Trung Quốc. Trung Quốc có thể mở chiến dịch hạn chế chống Ấn Độ để yểm trợ cho đồng minh Pakistan một khi Ấn Độ tấn công Pakistan.

- Chiến tranh với Việt Nam hay bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào là bất lợi. Nguồn dự trữ nguyên liệu của các nước này hạn chế, có dân số đông, quân đội mạnh. Bởi vậy, các nước này sẽ được Trung Quốc để lại sau, họ có thể khuất phục mà không cần chiến tranh, một khi thấy số phận của các láng giềng phía Bắc của Trung Quốc, họ sẽ tự nguyên trở thành “chư hầu” của Trung Quốc.

- Nhật Bản rõ ràng sẽ là nạn nhân cuối cùng, bởi lẽ tiến hành chiếm đóng bằng đường biển là khá phức tạp. Nhưng xét tới sự thù ghét của người Trung Quốc đối với người Nhật thì số phận của họ sẽ rất bi thảm, dân cư quần đảo Nhật sẽ giảm mạnh.

Đặc điểm của sự bành trướng này là giới tinh hoa Trung Quốc sẽ không tiếc lính, tiếc vũ khí trang bị để thực hiện. Trung Quốc đang có cuộc khủng hoảng nhân khẩu nghiêm trọng, “sự già hóa” dân cư và dư thừa thanh niên, thiếu nữ giới. Càng có nhiều người mất mạng trên chiến địa càng tốt, “ung nhọt” căng thẳng xã hội trong nội địa Trung Quốc sẽ xẹp xuống. Còn nhu cầu sản xuất hàng loạt vũ khí trang bị sẽ có lợi cho nền kinh tế.

Nga có thể làm gì để tự cứu mình?

- Về mặt ngoại giao, ủng hộ việc tái thống nhất hòa bình Hoa lục và đảo Đài Loan.

- Tăng khối lượng hợp tác kinh tế. Khủng hoảng và những chấn động xã hội ở Trung Quốc là dấu hiệu cho thấy sự khởi đầu của quá trình bành trướng bằng vũ lực đã rất gần. Nga cần nền hòa bình ở Trung Quốc và sự phát triển kinh tế, văn hóa của dân cư nước này. Cần có sự bành trướng văn hóa Nga – tiếng Nga, điện ảnh, giáo dục, văn hóa.

- Liên minh chiến lược với Ấn Độ, thừa nhận các bộ phận của nền văn minh Ấn Độ là Pakistan và Bangladesh là thuộc về Ấn Độ. Tương trợ nhau trong trường hợp bị Trung Quốc xâm lược.

- Hợp tác kỹ thuật quân sự và kinh tế rộng lớn với Mông Cổ, hai nước Triều Tiên, các nước Đông Nam Á. Nối lại liên minh với Việt Nam.

- Lập tức khôi phục Hạm đội Thái Bình Dương, tăng cường mạnh mẽ lực lượng quân đội đóng tại Viễn Đông.

- Có chương trình quy mô lớn tái chinh phục Siberia và Viễn Đông (có thể lấy các kết quả nghiên cứu của Y. Krupnov làm cơ sở), giải quyết sự mất cân bằng nhân khẩu, khi mà phần lớn dân số Nga sống ở phần châu Âu của nước Nga. Có chương trình hỗ trợ sinh đẻ cho người Nga và các dân tộc bản địa ở Siberia và Viễn Đông (không dưới 3-4 con/1 gia đình).

- Giới tinh hoa Nga cần phải thể hiện ý chí sinh tồn bằng cách ngầm cảnh cáo Trung Quốc rằng, xâm phạm đất đai và khu vực ảnh hưởng của Nga (Kazakhstan, Kirgyzya, Tadjikistan, Mông Cổ) có thể dẫn tới đòn đánh hạt nhân hạn chế nhằm vào các thành phố duyên hải phồn vinh của Trung Quốc.

Tài liệu tham khảo:

1 – Vasiliev L.S. Trung Quốc cổ đại, 3 tập.-М., 1995-2006.

2 – Galenovich Yu.M. Các tác giả của tuyển tập “Trung Quốc bất bình” viết về cái gì.-М., 2010.

3 – Krupnov Yu. Mặt trời ở Nga mọc từ hướng Đông.-М., 2007.

4 – Kulpin E.S. Con người và thiên nhiên ở Trung Quốc.-М., 1990.

5 – Nepomnin O.E. Lịch sử Trung Quốc: Thời Thanh. Thế kỷ XVII-đầu thế kỷ XX.-М., 2005.

6 – Những yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh: Lịch sử và hiện tại.-М., 1979.

Nguồn: Về vấn đề bành trướng ra ngoài của con rồng vàng / Aleksandr Samsonov //

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Nixon ở Trung Quốc: Bước ngoặt trong lịch sử thế giới


Hình ảnh
Warren I.Cohen

    Warren I. Cohen là Giáo sư Đại học Danh dự về Lịch sử và Giáo sư Nghiên cứu về tổng thống tại Đại học Maryland tại Baltimore. Ông cũng là học giả cao cấp của Chương trình châu Á tại Trung tâm Quốc tế Woodrow Wilson dành cho các Học giả tại Washington. Ông là sử gia chuyên nghiên cứu về quan hệ đối ngoại Mỹ và quan hệ của Mỹ với Đông Á, cũng như lịch sử Trung Quốc và khu vực.

    “Bất cứ một dân tộc nào trở nên ổn định và thịnh vượng, có khả năng gìn giữ hòa bình bên trong phạm vi biên giới quốc gia của mình và đủ mạnh để chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, thì đó là sự thuận lợi chứ không phải là bất lợi đối với các dân tộc khác. Chúng tôi thực lòng hy vọng về sự tiến bộ của Trung Quốc, và bằng những hành động hợp pháp và hòa bình chúng ta sẽ phấn đấu để thúc đẩy tiến bộ đó”.
    –Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt phát biểu
    trước Đại diện của Trung Quốc Đồng Thiệu Nghĩa, tháng 12/1908


Chiến thắng năm 1949 của những người cộng sản Trung Quốc trong cuộc nội chiến đã tác động lớn tới nước Mỹ. Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà hoạch định chính sách Mỹ, từ Tổng thống Theodore Roosevelt trở đi, đều ủng hộ sự xuất hiện của một nước Trung Quốc hùng mạnh và thịnh vượng. Họ cho rằng Trung Quốc sẽ thân thiện với Mỹ. Người Mỹ đã nhìn lại thế kỷ của những công việc có ý nghĩa mà họ đã làm được ở Trung Quốc, chẳng hạn như việc xây dựng các trường cao đẳng Cơ đốc giáo-tiền thân của hệ thống giáo dục hiện đại của Trung Quốc, và tài trợ của Quỹ Rockefeller cho các chương trình tái thiết nông thôn và Trường Cao đẳng Y khoa Bắc Kinh, nơi các bác sĩ hàng đầu của Trung Quốc được đào tạo. Nhiều người Mỹ tin rằng đất nước họ đã ủng hộ sự nghiệp của Trung Quốc chống những kẻ đế quốc châu Âu và Nhật Bản, khởi đầu bằng “Những lá thư mở cửa” từ Washington gửi tới các cường quốc khi sự sống còn của Trung Quốc với tư cách một dân tộc bị đe dọa vào những năm 1899 và 1900. Và rõ ràng nhất là việc Mỹ đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng Trung Quốc khỏi sự xâm lược của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai.

Quan hệ Mỹ-Trung đổ vỡ

Thế nhưng, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) – tuyên bố thành lập ngày 1/10/1949 – lại không thân thiện với Mỹ, và ít có người Trung Quốc nào chia sẻ với người Mỹ về vai trò lịch sử của họ ở Trung Quốc. Nhà lãnh đạo mới của họ, Mao Trạch Đông, nghi ngờ ý đồ của Mỹ và tháng 6/1946 ông đã ra lệnh thực hiện chiến dịch bài Mỹ. Lực lượng của Mao Trạch Đông  đã sách nhiễu người Mỹ ở Trung Quốc. Một nhà ngoại giao Mỹ đã bị cảnh sát Thượng Hải đánh đập. Tổng lãnh sự Mỹ ở Mukden bị quản thúc trong một năm liền. Tồi tệ nhất là sự kiện tháng 10/1950 khi quân cộng sản Trung Quốc can thiệp vào Chiến tranh Triều Tiên, chống lại các lực lượng của Liên Hợp Quốc do Mỹ lãnh đạo khi lực lượng này đang cố gắng đẩy lui cuộc xâm lược của Bắc Triều vào Nam Triều Tiên. Khi quân Mỹ và Trung Quốc giết lẫn nhau trên chiến trường với con số lên tới hàng chục nghìn quân, thì mọi ý nghĩ về việc thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường giữa Bắc Kinh và Washington đã không còn nữa.

Hơn 20 năm sau, Mỹ và Trung Quốc vẫn coi nhau là kẻ thù. Mặc dù các nhà ngoại giao của họ thỉnh thoảng vẫn “vượt giới tuyến” trong các hội nghị quốc tế và đôi khi tiến hành đàm phán cấp đại sứ, nhưng không nước nào thể hiện sự quan tâm đến việc đạt được một thỏa hiệp. Người Mỹ tiếp tục công nhận Cộng hòa Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch – người bị đánh bại trên đại lục và sống sót trên đảo Đài Loan – là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc. Mao và những cộng sự của ông không ngừng lên án chủ nghĩa đế quốc Mỹ và từ chối thảo luận bất cứ vấn đề gì ngoại trừ việc Mỹ chấm dứt viện trợ cho Tưởng và bảo vệ Đài Loan.

Ở Mỹ, sự thù địch của Trung Quốc, làn sóng chống cộng trong nước gia tăng bởi Chiến tranh lạnh, và sự vận động của bè bạn là người Mỹ của Tưởng, tất cả đã ngăn không cho các nhà hoạch định chính sách trong những năm 1950 và 1960 tiếp cận Bắc Kinh. Thực vậy, Washington đã dùng ảnh hưởng của mình để Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không được vào Liên Hợp Quốc, ngay cả khi Tổng thống Dwight Esenhower thừa nhận rằng cô lập Trung Quốc là một sai lầm.

Tuy nhiên, giữa những năm 1960, nhận thức được sự chia rẽ Xô-Trung và cường độ chống cộng giảm do tan vỡ ảo tưởng về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, dư luận Mỹ về quan hệ với Trung Quốc đã thay đổi. Các nhà lãnh đạo quan trọng của chính phủ và giới học thuật lập luận ủng hộ cái mà họ cho là một chính sách thực tế hơn nếu chấp nhận chế độ Bắc Kinh là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc và tìm cách hợp tác với chính phủ đó. Họ nói về chính sách “ngăn chặn mà không cô lập”. Tuy nhiên, Chính quyền của Tổng thống Lyndon Johnson đã bị sa lầy ở Việt Nam và người Trung Quốc thì bị cuốn theo cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản. Vì vậy không có mối quan hệ mới nào được xác lập.

Căng thẳng giảm bớt

Richard Nixon, Phó Tổng thống dưới thời Ensenhower và là ứng cử viên tổng thống thất bại năm 1960, là một nhà lãnh đạo Mỹ nổi tiếng về chống cộng và thù địch với Trung Quốc. Năm 1968, ông được bầu làm Tổng thống Mỹ và khả năng giảm bớt căng thẳng với Trung Quốc do vậy càng trở nên xa vời hơn bao giờ hết. Thế nhưng Nixon đã nhất trí với những tính toán của các quan chức cao cấp Bộ Ngoại giao cho rằng Trung Quốc có thể giúp Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và hỗ trợ nỗ lực của Mỹ nhằm chống lại sức mạnh đang gia tăng của Liên Xô. Ông nhận thấy rằng tâm lý đã thay đổi của công chúng Mỹ, cộng với những thành tích chống cộng của bản thân, sẽ khiến ông có thể thỏa hiệp với Trung Quốc. Chầm chậm, cẩn thận, và không làm tổn hại tới an ninh của Mỹ, chính quyền Nixon đã bắn tín hiệu mong muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Chu Ân Lai, nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc, đã phấn đấu để đạt mục tiêu tương tự. Bằng chứng là ông đã mời đội tuyển bóng bàn Mỹ tới thăm Trung Quốc và liên lạc thông qua lãnh đạo của Pakistan. Dần dần ông đã thuyết phục được Mao Trạch Đông “đa nghi tào tháo” rằng Mỹ không còn là mối đe dọa đối với Trung Quốc và có thể có ích cho Bắc Kinh trong nỗ lực chống lại áp lực từ Liên Xô. Và bước đột phá lớn đã đến năm 1971.

Trong Thông điệp Liên bang trước Quốc hội tháng 2/1971, Nixon đã nói về sự cần thiết phải thiết lập đối thoại với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông kêu gọi dành cho chính phủ Bắc Kinh một vị trí tại Liên Hợp Quốc mà không phải hy sinh vị trí của Cộng hòa Trung Hoa ở Đài Loan. Trước kia, việc Mỹ công nhận và ủng hộ chế độ của Tưởng là một trở ngại lớn đối với việc lập lại mối quan hệ hữu nghị giữa Mỹ và Trung Quốc của Mao. Cả Mao Trạch Đông lẫn Tưởng Giới Thạch đều khẳng định chỉ có thể có một nước Trung Quốc và sẽ chống lại nỗ lực của Mỹ muốn có hai nước Trung Quốc, một trong đại lục và một ở Đài Loan. Tuy nhiên, năm 1971 Nixon và Mao Trạch Đông nóng lòng muốn lợi dụng lẫn nhau và nhất trí với một phương thức thỏa hiệp “một Trung Quốc nhưng không phải bây giờ”. Trên thực tế, với nhận thức về giá trị chiến lược của việc cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, Nixon và cố vấn an ninh quốc gia của ông Henry Kissinger đã sẵn sàng đáp ứng Mao một nửa trên vấn đề này, vì tìm kiếm một đối tác trong cuộc đấu tranh chống Liên Xô còn quan trọng hơn nhiều.

Tháng 7/1971, thế giới phát hiện ra rằng Kissinger mới từ Trung Quốc trở về sau một sứ mệnh bí mật. Nixon thông báo rằng ông, với tư cách Tổng thống Mỹ, đã nhận lời mời tới thăm Trung Quốc. Lần đầu tiên, vào tháng 8 và tháng 9, Mỹ ủng hộ ghế đại diện của Bắc Kinh tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đồng thời vẫn ủng hộ nỗ lực của Đài Bắc duy trì chiếc ghế riêng của mình. Đề nghị của Mỹ nhằm sắp xếp chỗ ngồi cho hai phái đoàn đã thất bại, và bị ảnh hưởng bởi quyết định của Kissinger chọn thời điểm đó để bay đến Bắc Kinh. Đề nghị của An-ba-ni nhằm để đại diện Bắc Kinh thay thế đại diện của Đài Bắc dễ dàng được chấp thuận. Đó là một trong những thất bại ngoại giao đau đớn mà Mỹ gặp phải. Washington đã tiến một bước gần hơn nữa tới chính sách một Trung Quốc.

Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ

Tháng 2/1972, Nixon đã bay tới Trung Quốc, nơi ông được tiếp kiến Mao Trạch Đông. Khán giả truyền hình trên toàn thế giới sửng sốt theo dõi Nixon ngồi xem và vỗ tay nhiệt tình trước một điệu múa của Trung Quốc mang đậm màu sắc tuyên truyền cộng sản. Đó quả thực là một Nixon mới và một mối quan hệ mới với Trung Quốc.

Trong tuyên bố chung Trung-Mỹ đưa ra vào cuối tuần Nixon ở thăm Trung Quốc, rõ ràng là việc cùng nhau chống lại những người Xô Viết chính là điều đã đưa hai nước xích lại gần nhau. Phản đối “bá quyền” ở châu Á và Thái Bình Dương rõ ràng ám chỉ việc làm suy yếu ảnh hưởng của Mát-xcơ-va ở khu vực. Mặt khác, Đài Loan vẫn là trở ngại chính đối với việc thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường và “bình thường hóa quan hệ”. Người Mỹ thừa nhận việc Trung Quốc khẳng định Đài Loan là một phần của Trung Quốc, nhưng cũng tái khẳng định lợi ích của họ trong việc giải quyết hòa bình vấn đề này. Trước yêu cầu của Trung Quốc đòi lực lượng Mỹ rút khỏi Đài Loan, Nixon đã cam kết Mỹ sẽ rút hết quân và hứa sẽ rút quân từ từ khi căng thẳng trong vùng (Việt Nam) giảm bớt. Đồng thời ông và Kissinger tìm cách loại bỏ nỗi lo sợ của Trung Quốc rằng lực lượng Nhật Bản sẽ thay thế quân Mỹ trên đảo này. Tổng thống còn trấn an các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng Mỹ sẽ không ủng hộ Đài Loan độc lập và hứa sẽ thực hiện những bước đi mà người Trung Quốc mong muốn sau dự tính ông sẽ được tái đắc cử vào năm 1972.

Mỹ bị ràng buộc bởi hiệp ước bảo vệ Đài Loan năm 1954. Các doanh nghiệp Mỹ có mối lợi hàng triệu đô-la trên đảo này. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy người Mỹ không sẵn sàng bỏ rơi người dân Đài Loan, bạn bè và đồng minh, cho những người cộng sản. Tuy nhiên, chính quyền Nixon đã sẵn sàng hủy bỏ hiệp ước phòng thủ với Đài Loan, cho rằng về ngắn hạn người dân đảo này sẽ tự bảo vệ được mình và về lâu dài họ sẽ tìm được một giải pháp hòa bình.

Bình thường hóa quan hệ

Năm 1973, Trung Quốc và Mỹ mở “văn phòng liên lạc” ở thủ đô mỗi nước – chẳng khác gì các đại sứ quan ngoại trừ cái tên. Tuy nhiên, công việc bình thường hóa đã bị trì hoãn do vụ bê bối Watergate, buộc Nixon cuối cùng phải từ chức trong sự xấu hổ. Tuy nhiên, những người kế nhiệm ông cũng đã cam kết bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, và việc này đạt được đầu năm 1979. Trao đổi tình báo quân sự bí mật về  những động thái của Liên Xô, được Kissinger khởi động năm 1979, chưa bao giờ bị gián đoạn.

Việc Nixon cởi mở với Trung Quốc đã tạo ra biến chuyển quan trọng lớn lao trong cán cân quyền lực của Chiến tranh lạnh. Liên minh ngầm giữa Mỹ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trực tiếp nhằm chống lại sức mạnh đang gia tăng rõ rệt của Liên Xô, khiến Trung Quốc bớt lo ngại về một cuộc tấn công tiềm tàng từ Liên Xô và cho phép Mỹ tập trung sức mạnh quân sự ở châu Âu – trong khi những người Xô viết tiếp tục phải đương đầu với những kẻ thù ở cả Đông lẫn Tây và hiện đang cùng nhau hợp tác chống Mát-xcơ-va. Đó là một bước ngoặt lớn trong lịch sử thế giới và góp phần dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và kết thúc Chiến tranh Lạnh. Năm 1979, Phó Tổng thống Mỹ Walter Mondale công du tới Bắc Kinh nơi ông đã nhắc lại những lời của Theodore Roosevelt năm 1908 để thể hiện niềm tin chắc chắn rằng một Trung Quốc hùng mạnh – và có lẽ thân thiện – là lợi ích của Mỹ.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Không mơ hồ “16 chữ vàng” và “4 tốt”

Hình ảnh

Kể từ khi phía Trung Quốc khái quát phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, nêu trong Tuyên bố chung cấp cao 1999, phía ta lại thêm vào đó một chữ “vàng”. 16 chữ vàng tạo nên sự ngộ nhận ….

 

Đối với Việt Nam, Trung Quốc là một nước láng giềng quá lớn không thể không tính đến và không thể thoái thác quan hệ. Cuộc khủng hoảng HD-981 do Trung Quốc gây ra đã đẩy quan hệ Việt-Trung vào thế bế tắc. Người Việt Nam ta cần nhìn lại mối quan hệ này, xác định một cách minh triết bản chất mối quan hệ ấy, tránh những điều mơ hồ, ngộ nhận. Tránh cái bẫy ý thức tư tưởng có thể gây chập chững về chiến lược, nhập nhằng và mơ hồ giữa các ngôn từ hữu nghị, đối tác, đồng chí, đại cục, v.v.. và v.v..

Kể từ khi phía Trung Quốc khái quát phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, nêu trong Tuyên bố chung cấp cao 1999, phía ta lại thêm vào đó một chữ “vàng”. 16 chữ vàng tạo nên sự ngộ nhận to lớn.

Đến năm 2002, người Trung Quốc lại khái quát một phương châm nữa, gọi là “4 tốt”: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt”.

Điều mơ hồ nhất trong những điều mơ hồ lần này chính là hai chữ “đồng chí”. Nó hàm ý một điều phi lý là hai bên cùng chung ý thức hệ, cùng chung chí hướng. Làm quên mất một điều sơ đẳng nhất của chính trị quốc tế trong mọi thời đại: Giữa các quốc gia, “không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn”. Đặng Tiểu Bình và Michail Gorbachev đều rất thích dùng lại câu nói này của một chính khách nổi tiếng người Anh, Lord Palmerston, thế kỷ 19. Họ đều lấy lợi ích quốc gia làm trục cốt lõi để xoay các quan hệ đối ngoại sao cho tối đa hóa lợi ích quốc gia. Nhưng lại dùng những lời mĩ miều nhằm gây mơ hồ và chập chững cho phía đối tác hoặc đối tượng.

Năm nguyên tắc chung sống hòa bình  do hai thủ tướng Trung Quốc và Ấn Độ long trọng tuyên bố ngày 29/4/1954 làm cơ sở cho quan hệ giữa hai nước lớn: “Tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau; không tấn công nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và hai bên cùng có lợi; chung sống hoà bình”, được nhiều quốc gia khác coi là nguyên tắc chỉ đạo quan hệ giữa các nước trong thời kỳ hiện đại. Thế nhưng các nguyên tắc ấy đã không ngăn cản Trung Quốc mở cuộc chiến tranh bất ngờ chống lại Ấn Độ năm 1962.

Tương tự như vậy, ngày 15/10/2013, hai Thủ tướng Trung Quốc và Việt Nam thỏa thuận những nguyên tắc giải quyết các xung đột trên Biển Đông thì chưa đầy 7 tháng sau, Trung Quốc đã đưa giàn khoan vào hạ đặt tại thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Việt Nam là một nước nhỏ so với Trung Quốc, sao có thể làm  “bạn bè tốt”? Một nước yếu và một nước mạnh sao có thể làm “đối tác tốt”?

Nhưng, láng giềng vẫn là láng giềng, đối tác vẫn là đối tác, vẫn cứ hợp tác toàn diện, vẫn cứ hướng tới tương lai… Đâu có gì là không được! Nhưng cần đặt các quan hệ này trên một nền tảng minh bạch, không ngộ nhận, không mơ hồ.

Trong quan hệ với Trung Quốc những năm gần đây, Việt Nam luôn nêu cao “3 không” (không liên minh quân sự, không cho đặt căn cứ quân sự của nước ngoài, không liên minh với nước này chống nước khác). Nhưng điều Trung Quốc muốn là sự khuất phục. Người Trung Quốc thường đề cao phương châm “nước mạnh ắt bá quyền”. Cứ mỗi lần, khi hai nước có đụng độ trên biển, các phần tử hiếu chiến lại đe dọa động binh, hòng gây mất ổn định Việt Nam. Việt Nam vì lợi ích ổn định, an ninh, phát triển lâu dài đất nước, không thể để mất quyền chủ động chiến lược và những con bài chiến lược.

Từ giữa những năm 1950 đến nay, Trung Quốc lần lượt năm lần lấn chiếm Biển Đông của Việt Nam. Hai lần hải chiến trên biển, một lần trên đất liền. Sự kiện giàn khoan 981 từ đầu tháng 5/2014 đến nay là giai đoạn thứ sáu của cuộc lấn chiếm biển đảo của Việt Nam. Ngay trong giai đoạn mà các chữ vàng và những điều tốt được nhắc đi nhắc lại, thì Trung Quốc tích cực tranh chấp, tích cực khai thác Biển Đông, đàn áp ngư dân Việt Nam hoạt động trên những ngư trường truyền thống, cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, v.v.. Trong quan hệ kinh tế, Việt Nam phải trả một giá cao.

Nhân dịp này, thiết tưởng cần sòng phẳng với lịch sử. Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước mấy chục năm trước nhằm thực hiện mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước, nhân dân Việt Nam đã kiên trì chiến đấu, không ngại hy sinh gian khổ. Trong các thời kỳ khó khăn gian khổ ấy, chúng ta ghi nhớ công ơn giúp đỡ to lớn của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Nhưng, sự hy sinh to lớn của nhân dân Việt Nam cũng đã đóng góp quan trọng vào việc Pháp và các nước phương Tây năm 1954 buộc phải ngồi vào bàn thương lượng với Trung Quốc để giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương, tạo điều kiện cho Trung Quốc đột phá bức màn chiến tranh lạnh sau cuộc viện Triều chống Mỹ ở Triều Tiên. Tại Hội nghị Giơnevơ 1954, Ngoại trưởng Mỹ từ chối bắt tay Thủ tướng Trung Quốc, nhưng đến năm 1972, Tổng thống Mỹ phải đến Bắc Kinh để thúc đẩy giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam, từ đó mở ra cục diện mới quan hệ Trung-Mỹ.

Ngày nay, chúng ta cần có cách tiếp cận cụ thể và đổi mới đối với các khái niệm truyền thống “ta-địch”, “đối tượng-đối tác”, tuyệt đối không để những khái niệm “đồng chí, anh em” gây mơ hồ, để ta có thể thực hiện những mối quan hệ hợp tác với Trung Quốc phù hợp với lợi ích quốc gia của mỗi nước.

Để độc lập, tự chủ chính trị thì cần độc lập tự chủ về kinh tế. Giai đoạn tới, ta phải sắp xếp lại ngôi nhà kinh tế của mình trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc và với các đối tác tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Chính lĩnh vực kinh tế đòi hỏi tinh thần yêu nước và trách nhiệm cao nhất của mỗi người Việt Nam ta.

Trước cuộc xung đột tại Biển Đông hiện nay, ta không để bị kích động. Cũng không tự mình kích động. Kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhưng bình tĩnh, tỉnh táo để không sa vào cái bẫy chiến tranh. Sự dũng cảm ngoan cường của những ngư dân bám biển, của các chiến sĩ cảnh sát biển, kiểm ngư chống chọi với lực lượng lớn hải quân và ngư chính của phía Trung Quốc tại vùng biển Hoàng Sa, sự đồng lòng nhất trí của nhân dân, sự thẳng thắn trong phát biểu của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam tại diễn đàn ASEAN ở Naypyidaw, hay tại diễn đàn kinh tế quốc tế ở Manila, tuyên bố mạnh mẽ của Quốc hội Việt Nam về vấn đề Biển Đông… đã thúc đẩy dư luận quốc tế lên tiếng phản đối Trung Quốc và ủng hộ quyền lợi chính đáng của Việt Nam. Và buộc Bắc Kinh phải cân nhắc hành động khi leo thang xung đột.

Quan hệ Việt-Trung sắp tới cần được đặt vào quỹ đạo mới không bị chi phối bởi lời lẽ mơ hồ mà trên cơ sở những lợi ích của quốc gia, của hợp tác cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau và hữu nghị giữa hai dân tộc, hai nước láng giềng liền núi, liền sông, liền biển./.

theo báo Tổ Quốc

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Bản chất trở mặt trâng tráo… từ tình “hữu nghị” kiểu Trung Quốc!

Trận “mưa đá” của hữu nghị Xô – Trung trên dàn nhạc “Cachiusa” là bài học đích đáng nhớ đời, nhưng tiếc thay không làm thay đổi bản chất trở mặt trâng tráo của Trung Quốc.

Để hiểu Trung Quốc trong các quan hệ “đồng chí tốt, láng giềng tốt…” và một kiểu hữu nghị viển vông, TS Trần Đình Bá – Hội Khoa học kinh tế VN, có bài viết phân tích để bạn đọc hiểu rõ hơn, cảnh giác và có những đối sách trong bảo vệ chủ quyền quốc gia thiêng liêng.
Trung Quốc là một nước sản xuất bình hoa nhiều nhất thế giới và là nước đầu tiên chọn “quốc hoa”. Theo cách lý giải của họ, “bình hoa” là “hòa bình”. Vì vậy, hầu hết các đoàn nguyên thủ quốc gia, các chính khách, doanh nhân… khi đến với họ và các phái đoàn của TQ khi công du bang giao đều có món “bình hoa” làm quà tặng như một đặc sản để truyền cảm hứng cho một thông điệp tốt đẹp trên đầu môi chót lưỡi là “hòa bình hữu nghị”. Nói vậy nhưng không phải vậy, hãy nhìn lại quá khứ lịch sử và bề dày “thành tích”của họ để thấy chiều sâu của những lời hứa hữu hảo đó.
 Tàu Trung Quốc hung hăng tấn công tàu Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Trận “mưa đá” của hữu nghị Xô – Trung trên dàn nhạc “Cachiusa” 
Trung Quốc tới 1.5 tỷ dân hôm nay hãy còn nhớ trong Chiến tranh thế giới thứ 2 với khoảng 600 triệu, vẫn là nước đông dân nhất thế giới dưới triều nhà Thanh trị vì, vậy mà từng quỳ gối để cho một nhóm người của đội quân phát xít Quan Đông “làm cỏ”… bởi huyết thống “binh đao nội chiến” của mình. Vào thời điểm đó, Liên Xô luôn vận động, hối thúc Mao Trạch Đông thành lập một liên minh với Trung Hoa dân quốc do Tưởng Giới Thạch đứng đầu – người kế nhiệm lãnh tụ Tôn Trung Sơn để chống chủ nghĩa phát xít tự cứu dân tộc mình. Thế nhưng, Mao không nghe và cuộc nội chiến trong lòng Trung Quốc diễn ra giữa 2 phe, bỏ mặc cho nhân dân bị phát xít hành hạ thảm sát. Trong 8 năm chiến tranh, Trung Quốc thiệt hại khoảng 25 triệu người chết và nền kinh tế gần như kiệt quệ hoàn toàn.
Hồng quân Liên Xô đã nhanh chóng mở mặt trận phía đông đánh tan đội quân Quan Đông của phát xít Nhật, cứu nhân dân Trung Quốc ra khỏi thảm họa diệt vong.
Kết thúc Chiến tranh thế giới thứ 2, Xtalin – người đứng đầu nhà nước Liên Xô khuyên Mao Trạch Đông đừng nên mưu toan giành lấy quyền lực, mà nên thương lượng để chung sống hòa bình với Trung Hoa dân quốc để đoàn kết dựng xây đất nước. Mao chấp thuận khôn khéo ngoài mặt nhưng thực tế thì làm ngơ lời khuyên đó bằng cách tiếp tục đánh đuổi Tưởng Giới Thạch khỏi lục địa Trung Quốc ra đảo Đài Loan và tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào tháng 10/1949.
Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết (gọi tắt là Liên Xô) được ký vào năm 1950 bao gồm một khoản cho vay lãi suất thấp của Liên Xô giá trị 300 triệu rúp – một lượng tiền khổng lồ thời đó và liên minh quân sự 30 năm. Liên Xô đã giúp đỡ từ tài chính, chuyên gia trên mọi lĩnh vực giúp Trung Quốc khôi phục sau chiến tranh, mở các nhà máy công nghiệp như gang thép, khai khoáng, lọc hóa dầu, nghiên cứu năng lượng hạt nhân phục vụ hòa bình, xây dựng nhà máy ô tô Trường Xuân lớn nhất châu Á, giúp chế tạo máy bay phản lực Mig, xe tăng, tàu thủy, các vũ khí như pháo binh. các loại vủ khí bộ binh tối ưu như súng phóng lựu B40- B41, AK phiên bản của Liên Xô, cũng được chuyển giao công nghệ sản xuất. Liên Xô còn giúp TQ đào tạo nhiều chuyên gia kỹ thuật, công nghệ và các ngành khác một cách vô tư. Một chuyên gia tốt nghiệp Đại học Năng lượng Moscow sau này trở thành Thủ tướng, nhiều lãnh đạo cao cấp trong các lĩnh vực ở Trung Quốc cũng trưởng thành từ đó.
Liên Xô thực sự cứu “con hổ” Trung Quốc ra khỏi thảm họa phát xít 1945, khôi phục phát triển kinh tế thì đáp lại Trung Quốc đã nuôi dã tâm “đền ơn” bằng những toan tính chính trị hòng làm bá chủ thế giới, từ thập niên 1950. Trung Quốc bắt đầu từ ý tưởng “đại nhảy vọt“ nhằm vượt mặt “ân nhân” để tự cho mình là “thiên tử” phải làm bá chủ thế giới.
Cậy thế có biển người lớn nhất thế giới, Trung Quốc gây hấn với Liên Xô bằng việc đưa quân đội áp sát gia tăng căng thẳng biên giới trong cuối thập niên 1960, suốt dọc theo biên giới dài 4.380 km có 658.000 quân Xô Viết phải đối đầu với 814.000 quân Trung Quốc. Cuộc xung đột biên giới 1969 là một loạt các vụ đụng độ vũ trang đỉnh điểm của sự chia rẽ với chỉ một hòn đảo nhỏ trên sông Ussuri mà người Trung Hoa gọi là Trân Bảo, còn Liên Xô gọi là Damansky (Остров Даманский).
Vào ngày 2/3/1969, Trung Quốc gây hấn cho quân lấn sâu vào lãnh thổ nổ súng tấn công trước vào bộ đội biên phòng Liên Xô đang tuần tra bảo vệ chủ quyền làm 31 người chết và 14 người bị thương. Trước sự hung hăng táo tợn trở mặt đó, Liên Xô đã lập tức dạy cho Trung Quốc bài học “lấy oán trả ân” bằng một trận pháo phản lực BM-21 loại vũ khí hiện đại được quân đội Xô Viết dùng trong thế chiến 2 có tên con gái là “Cachiusa”, được mệnh danh là mưa đá với một trận dội lửa chí tử còn dày hơn mưa đá vào các nơi tập trung quân Trung Quốc tại Mãn Châu và đảo Damansky (Trân Bảo) Trung Quốc trả giá bằng 800 binh sỹ tử vong.
Trận “mưa đá” của hữu nghị Xô – Trung trên dàn nhạc “Cachiusa” là bài học đích đáng nhớ đời nhưng vẫn chưa làm thay đổi bản chất trở mặt trâng tráo Trung Quốc là như thế.
Người Trung Quốc không có gen xâm lược: Ai tin?!
Không chỉ “báo ân” Liên Xô bằng xung đột vũ trang, mà suốt dọc đường biên giới của Trung Quốc gồm Triều Tiên, Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanma, Lào và Việt Nam – hầu hết các nước láng giềng đều phải đương đầu với thói hung hăng gây chiến của Trung Quốc, đặc biệt có cuộc chiến tranh Trung – Ấn kéo dài nhiều thập niên về việc tranh chấp khu vực biên giới Aksai Chin và bang Arunachal Pradesh.
Trong suốt lịch sử Trung Quốc luôn gây hấn xâm lược với Việt Nam và đã nhận được nhiều bài học lịch sử trên sông Như Nguyệt, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hàm Tử, Chương Dương , Đống Đa…
Bản chất hiếu chiến xâm lăng của Trung Quốc là không bao giờ thay đổi bởi tư tưởng “Đại Hán” đã di căn vào huyết quản, mặc dầu Tập Cận Bình – người đứng đầu Trung Quốc lên tiếng: “Người Trung Quốc không có gen xâm lược” và họ luôn ru ngủ Việt Nam bằng những ngôn từ tốt đẹp nhất “Phương châm 16 chữ và quan hệ “4 tốt”, ký cam kết với các nước hiệp hội ASEAN quy tắc ứng xử Biển Đông DOC, hứa tiếp tục xậy dựng COC hoàn chỉnh, song lại gây ra vụ “Hải tặc “bằng dàn khoan Hải Hương 981 và đưa nhiều tàu thuyền vũ trang xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Trung Quốc: Nói “hữu hảo” nhưng bản chất… lật lọng đổi trắng thay đen
Trung Quốc luôn lớn tiếng rêu rao, bôi xấu Việt Nam, đổ lỗi cho chúng ta “vi phạm chủ quyền” của họ, rằng họ luôn tôn trọng 16 chữ vàng và quan hệ 4 tốt… Thế nhưng, chỉ mới 40 năm qua, Trung Quốc đã chứng tỏ cho Việt Nam quan hệ “4 tốt”. Đó là năm 1974, Trung Quốc đã đê hèn tranh tối tranh sáng dùng vũ lực đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa; năm 1979, đem quân xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam; năm 1988 lại dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và nay –  2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng hàng chục tàu thuyền vũ trang xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế của ta, hung hăng táo tợn đâm vào tàu của ta vượt trên nhiều lần hình ảnh hung hãn trong phim “Những tên cướp biển của thế kỷ XX” ngay trước ống kính của các nhà báo quốc tế .
Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà họ nói “Hữu hảo”, lật lọng đổi trắng thay đen, đâm dao vào sau lưng Liên Xô – vị ân nhân đã từng cứu mình. Việt Nam mong muốn hòa bình là hòa bình thực sự chứ không phải là thứ hòa bình chót lưỡi, đầu môi mà trong lòng tham lam, hiểm độc, luôn rắp tâm tranh giành lãnh thổ, biên cương mà đang trở thành bản chất tới mức di căn!
Tại cuộc họp báo quốc tế tại Manila – Philịppin 21/5/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thẳng thắn: “Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.
Thông điệp của Thủ tướng là lời non sông rất đanh thép, kiên quyết để có một hòa bình, hữu nghị trên nguyên tắc sòng phẳng tôn trọng chủ quyền quốc gia của Việt Nam theo Hiến chương LHQ cà công ước luật biển 1982.

TS Trần Đình Bá

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

“Liên minh chống Liên Xô” và hiện đại hoá quân sự Trung quốc

 

Từ giữa thập kỷ 70, chạy theo các lợi ích trước mắt, che đậy bằng hư chiêu “chống Liên Xô”, giới buôn bán vũ khí và những chính khách thiển cận phương Tây đã mặc giáp đeo gươm cho cựu thù trong chiến tranh Triều Tiên…..

Phiền muộn thực sự sẽ đến nếu để Rồng thức dậy (Real trouble will come with the Wake).

Tranh vẽ thời kỳ “bán thuộc địa” triều Mãn Thanh, năm 1900.

 

“Địch” lùi “ta” tiến

 Với cả hai bên chiến tuyến “chiến tranh lạnh”, dường như Liên Xô được xem là đắc lợi nhất trong cuộc Mỹ phải triệt thoái khỏi Đông Dương[1]. Điều này làm cho “Rồng” Trung quốc và “Diều hâu” trời Tây chia sẻ sự hậm hực. Trước đó, đã lập loè đèn xanh từ Washington, “mơi” Thiên An Môn sử dụng mọi phương tiện chính trị, quân sự, kinh tế, và văn hoá – tư tưởng thâm nhập vào Nam Á và Đông Nam Á, choán lấy khoảng trống (vacuum), sau khi Mỹ buộc phải rút đi[2].

Đến cuối thập kỷ 70, ảo ảnh bức tranh “các nước đế quốc phương Tây chia chiếc bánh ngọt Trung quốc” lại làm mê mẩn các chính khách ó diều, và các tài phiệt vụ lợi của công nghiệp chiến tranh. Lợi ích trong “bốn hiện đại” được che đậy bằng hư chiêu “bài Xô”, được “Rồng đỏ” và phương Tây đồng diễn.

Dự trữ ngoại tệ và vàng ở Trung Nam Hải thời ấy chỉ khoảng 4 tỉ USD (năm 2011 dự trữ ngoại hối TQ là khoảng hơn 3000 tỉ USD, dự trữ vàng khoảng hơn 1 ngàn tấn[3]), chỉ như một giọt nước dành cho cơn khát hiện đại hoá quân sự (được đánh giá lúc đó lên tới 600 tỉ Mỹ kim).

Khoản tiền còn thiếu sẽ tìm được nhờ cơn “đổi giận làm lành” (nguyên văn: quay ngoắt 180 độ). Khoản đặt cược là cuộc tiến công phản phúc (вероломный/perfidious- chữ chuyên dùng cho sự kiện Đức phát xít xé Hiệp ước, bất ngờ đánh Liên Xô năm 1941) được học giả Liên Xô dùng lại trong sự kiện “dạy cho một bài học”), nhằm vào một đồng minh từng được Bắc Kinh ví “như môi với răng”, tháng 2/1979.

Năm 1979 là bài học đảo ngược cho kẻ “dạy”, đau đớn, nhưng “có ích” cho Rồng. Nó càng chỉ rõ một quân đội đông người, nhưng trang bị thô sơ, cách đánh cũ kỹ, không thể làm mũi nhọn bành trướng. Từ năm 1980, một quân đội là chỗ dựa trong Văn cách, nay lĩnh ấn tiên phong trong Bốn hiện đại, với sự trợ giúp từ cựu thù phương tây (!)

Hoà giọng vào luồng sát khí mới của chiến tranh lạnh, trước đó, tháng Giêng 1979, là tuyên bố của Đặng đồng chí trước khi bay sang Tây bán cầu: “Sau khi thiết lập các quan hệ bang giao với Nhật Bản và Mỹ, cần ra sức phát triển các quan hệ ấy cả về chiều rộng và chiều sâu. Nếu chúng ta thực sự muốn kiềm chế Con Gấu Trắng (polar bear), thì con đường hiện thực duy nhất để đạt được điều đó là sự thống nhất của chúng ta”[4].

Cơn giận lâu đời với “tàu sân bay không chìm” của Mỹ, là Đài Loan, cũng được nuốt ngược vào bụng. Đặng Tiểu Bình chia sẻ, giải quyết vấn đề Đài Loan “có thể kéo dài một trăm năm, một nghìn năm”[5]. Kho đạn pháo dùng trong cuộc đấu pháo với Đài Loan đã vài chục năm, tới đầu thập kỷ 80 chuyển sang “xài” tại mặt trận biên giới Trung – Việt.

Chiến thuật “hai gọng kìm”

Thực ra, “tuần trăng mật” giữa Diều hâu và Rồng đã bắt đầu sớm hơn nhiều. Năm 1971, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ từ Trung quốc chỉ gần 5 triệu USD, thì sau Thông cáo chung Thượng Hải, “con đẻ” của Mao – Nixon, năm 1973 trao đổi thương mại hai chiều đã lên hơn 800 triệu USD[6]. Từ 1979 đến 1985, Mỹ phóng tay cho Trung Nam Hải, đang hăng hái hiện đại hoá quân sự, vay tới 20,3 tỉ USD[7].  Sau khi Trung quốc mua các máy bay Boing 474 của Mỹ chính bằng tiền đi vay, nhiều nguồn cho rằng khả năng vận chuyển quân sự bằng đường không của Trung quốc đã tăng lên tới gần 1/3[8].

Quan sát hậu chiến của cựu sĩ quan Sài Gòn nhắc nhở rằng chiến lược trên biển Đông mà Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ Zumwalt công bố tại Guam năm 1970, đã thể hiện “xu thế mới” của Wasshington là hoà hoãn với cựu thù của Mỹ, từng “kháng Mỹ – viện Triều”, trên biển Đông.

Cuộc chơi lớn của phe Mỹ ở Đại lục nhằm chống Liên Xô có nhiều đích nhắm. Trước hết, đây là đòn bẩy gây sức ép với Breznev trên bàn thương lượng về hạn chế vũ khí chiến lược. Thứ nữa, Mỹ nhìn thấy một thị trường tỉ người, cho dù trước mặt chưa có khả năng thanh toán. Cuộc “đội mũ, đi hia” về quân sự cho Trung quốc, ít nhất, sẽ kéo được lực lượng trên hướng đối diện với NATO của Liên Xô chuyển dịch về hướng nam, để đảm bảo an ninh dọc đường biên giới Xô – Trung dài dằng dặc. Và nếu thành công trong việc lôi được hơn một tỉ người (TQ) ra khỏi quỹ đạo của Moscow, thì thật đáng khích lệ với “thế giới tự do”.

Nửa cuối thập kỷ 70, tiền đồn chống Liên Xô (!?) ở Đại lục đã tua tủa những khí giới tân kỳ như trực thăng Super Frelon (Pháp), BO – 15 (Tây Đức), tên lửa phòng không Crotale (Pháp), máy bay vận tải lưỡng dụng Trident (Anh)[9]… Ở Washington, sau chuyến cố vấn an ninh Brezinsky thăm Bắc Kinh của cuối 1978, một số hạng mục cấm đối với “Trung Hoa đỏ” được tháo cũi sổ lồng, như hệ trinh sát điện tử từ trên không, thiết bị phóng vệ tinh nhân tạo…

Những quan ngại về việc phương Tây can dự vào thiết kế, chế tạo, và thử nghiệm tên lửa tầm trung, phát triển nghiên cứu hạt nhân và kỹ thuật hạt nhân ở Trung quốc… đã làm cho không chỉ ban lãnh đạo Liên Xô lo âu.

Đầu thập kỷ 80, những lĩnh vực mà “con rồng ăn thịt” thèm muốn là: tàu chiến các kiểu, tên lửa hành trình, tên lửa bắn máy bay bay thấp, thiết bị ngắm, máy bay hiện đại, như F – 15, F- 16. Bắc Kinh khẩn khoản đòi mua 300 tiêm kích loại cất cánh thẳng đứng Harrier của Anh, thác là để triển khai ở các sân bay gần biên giới Xô Trung. Nhưng thương vụ này đã bị London tốp lại[10] sau khi 60 vạn quân, 580 máy bay, 480 cỗ pháo và 1260 khẩu cối, cùng 550 tăng và xe bọc thép định tràn ngập tam giác Lào Cai – Hà Nội – Lạng Sơn chỉ trong Tết 1979, vẫn theo các học giả Liên Xô.

Nhưng ánh mắt, bàn tay “chú Chiệc” vẫn háo hức trùm lên lĩnh vực vệ tinh viễn thông, lò phản ứng hạt nhân, thiết bị lade, tàu ngầm, tên lửa mang nhiều đầu đạn, nhiều lượng nổ của Mỹ và NATO. Danh sách này còn dài, nhưng đáng ngại hơn là sự thèm thuồng công nghệ chế tạo những gì mà “hổ” Mỹ muốn giấu làm bửu bối. Thèm muốn vô độ này sẽ biến thành “nạn đạo chích công nghệ Trung Hoa” mà FBI sẽ la hoảng, ở ngưỡng cửa thế kỷ 21.

Đối nội, với hư chiêu cũ rích “(thế giới chia làm) ba phe, bốn mâu thuẫn”, bằng mọi giá động viên nguồn lực của đất nước vẫn còn nhiều vùng nghèo, xây dựng quân đội và hạm đội mạnh, hòng giành lại “triều cống”từ các “chư hầu”, tiến lên bá chủ thế giới.

Đánh đu với tinh

1/7/1978, Nhân dân Nhật báo hoan hỉ đưa tin tại Trung quốc lắp đặt máy gia tốc proton đầu tiên, công suất 50 tỉ electronvolt,nhờ sự giúp đỡ của “các bạn nước ngoài”.

Cơ hội giây máu ăn phần trong “bốn hiện đại” của Trung quốc làm làm mờ mắt bầy diều hâu tham lam phương Tây. Những món lợi đáng ngờ trong “thương vụ Tàu”, tư cách “khó chơi”, bán trời không văn tự, sự lươn lẹo, luôn tìm cách thay đổi điều kiện, áp đặt lợi ích của mình trong cuộc chơi “Tàu – Tây” từ cuối thập niên 70 chỉ có kẻ mù mới không thấy.

Năm 1965, phát biểu tại hội nghị BCT tháng 8, Mao chỉ rõ: “Sau khi chiếm được Đông Nam Á, chúng ta có thể tăng cường lực lượng trong khu vực này… Gió đông sẽ thổi bạt gió tây”[11]. Cương lĩnh này của Mao tới nay vẫn có vai trò kim chỉ nam, căn cứ vào các ý kiến trên các diễn đàn mạng ở Đại lục, và nhất là vào cách cư xử của Bắc Kinh với ASEAN. Gió mùa đông bắc hiện vẫn vần vũ ở bất lỳ thời tiết chính trị nào trên biển Đông. Những luồng khí độc Đông phong làm cả thế giới rát mặt.

Vương quốc ở giữa đâu cam phận con nghiện trong cơn khát dầu mỏ, vật vã thụ động trong các khủng hoảng năng lượng, đa phần do các tài phiệt ở phố Wall ngụy tạo ra. Ngay cuối thập lỷ 80, từ Vạn lý Trường Thành, đã định dạng khối đường dẫn vào các nguồn dầu hoả bằng cả thương mại, xung đột quân sự, hay mánh khoé ngoại giao[12]. Cùng lúc đài báo Bắc Kinh vẫn ru hời điệu “trỗi dậy hòa bình”…

Rồng Bắc Kinh hôm nay

Bộ mặt thật của chủ nghĩa

Khá dè dặt so với phương tây trong cuộc chơi con bài Trung quốc chống Xô Liên, Nhật Bản chỉ hợp tác kinh tế, công nghệ. Nhưng giới quân sự Nhật Bản vẫn cho rằng tính “thuần tuý kinh tế” của quan hệ Nhật – Trung là “giả dối”. Cựu giám đốc Học viện quân sự Nhật cảnh tỉnh từ đầu những năm 80: “Giúp Trung quốc hiện đại hoá kinh tế, khoa học – kỹ thuật có khác nào hiệp trợ họ trong hiện đại hoá quân sự”.

Báo Nhân đạo của Pháp thời đó cũng nhận định: “Những người theo chủ nghĩa Mao đã đứng vào hàng ngũ của bọn phản động cực đoan nhất: ở châu Âu – với các phần tử hiếu chiến NATO chống hoà dịu, ở châu Á – với bọn tội phạm Pôn Pốt”[13].

Hội nghị toàn thể tháng 6/1980 của TƯ ĐCSLX cho rằng “sự câu kết của chủ nghĩa đế quốc (phương Tây) và chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh” không chỉ là đòn đánh vào tương lai phát triển XHCN của đất nước Trung quốc, mà còn là mối đe doạ toàn cầu. Rằng cuộc tiến công vào nước láng giềng “vừa đồng chí vừa anh em” tháng 2/1979 là bằng chứng rõ ràng rằng Bắc Kinh vũ trang để xâm lược.

 Học giả Liên Xô cảnh báo, trong cố gắng xâm nhập vào các nước châu Á bằng các biện pháp kinh tế hoặc bằng xung đột vũ trang, sớm muộn Trung quốc sẽ đụng chạm thô bạo đến quyền lợi của Mỹ.

Muốn hay không, phải thừa nhận rằng Bắc Kinh đã diễn khá tròn vai kịch bản “NATO phương Đông chống Liên Xô”. Các liên minh ma quỷ dù được thần thánh hoá, như lịch sử muôn đời chỉ ra, bao giờ cũng quả báo khốc hại kiểu “gieo gió gặt bão”. Điều đáng buồn là tính hai mặt của chạy đua vũ trang vẫn đem lại lợi ích cho những thế lực vụ lợi, và đầu độc đời sống nhân loại. Và những ca khúc khải hoàn cho cuộc công phá khối Xô – Trung (Sino – Soviet bloc), một bloc tồn tại chủ yếu trong sương mù, đến nay vẫn là thuốc an thần cho những kẻ đã chót nâng đỡ con Rồng.

Lại nhớ thư ngỏ “Bộ mặt thật của bè lũ Maoist”[14] của Đảng cộng sản Mỹ gửi BCH TƯ Đảng cộng sản Trung quốc năm 1979. Những người cộng sản Mỹ cảnh báo:“Việc các người (ban lãnh đạo TQ) ve vãn và thương thuyết với chủ nghĩa đế quốc nhằm thành lập các liên minh quân sự. việc các người tuyên truyền chiến tranh, là những nhân tố mới, làm tăng nguy cơ của một cuộc đụng đầu hạt nhân và một thảm hoạ toàn thế giới”.

Sớm hơn nữa, năm 1900, một hoạ sĩ phương tây đã vẽ bức tranh, cảnh báo nếu vực dậy con Rồng Trung Hoa thì sẽ thực sự phiền toái. 100 năm sau, truyền thông Mỹ nhận diện sự trỗi dậy mãnh liệt của Quân đội, Hạm đội Trung quốc trong hiệu ứng Con rồng Trung Hoa thức dậy[15].
Lê Đỗ Huy


[1]The Soviet Union and the Vietnam war, Ilya Gaiduk, Chicago 1996, Chapter 11.

[2]Học thuyết Nixon (cũng gọi là Học thuyết Guam) năm 1969, để đáp lại sự “ủng hộ ngầm” (молчливая поддержка  chữ dùng của học giả Nga) của Bắc Kinh (giành cho Mỹ), chủ trương “bảo vệ Trung quốc chống Liên Xô”, thậm chí dùng ô hạt nhân của Mỹ để “che” cho Trung quốc trong cuộc đối đầu đột ngột với phe Liên Xô,

http://www.homelandsecurity.org/journal/Default.aspx?t=315&AspxAutoDetectCookieSupport=1. Cũng theo học thuyết Nixon, một số lượng lớn quân Mỹ sẽ rút không chỉ khỏi Việt Nam, mà khỏi cả các nước như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Thái lan, Philippin. Học giả xô viết cho rằng Mỹ thả cho Trung quốc vào Nam Á để chặn ảnh hưởng của Liên Xô (Quân đội Trung quốc – vũ khí của chính sách phiêu lưu của bè lũ Maoist, NXB Bộ Quốc Phòng Liên Xô, 1980, tiếng Nga, tr. 118).

[4]If we really want to be able to place curbs on the polar bear, the onlyrealistic thing is for us to unite”. Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình.

http://www.guardian.co.uk/world/1979/jan/30/china.usa

[5]Theo Nhân dân Nhật báo, “Một đất nước, hai chế độ”. http://english.peopledaily.com.cn/dengxp/vol3/text/c1210.html

[8]Quân đội Trung quốc – vũ khí của chính sách phiêu lưu của bè lũ Maoist, NXB Bộ Quốc Phòng Liên Xô, 1980, tiếng Nga, tr. 127.

[9]Theo wikipedia

[11]КНР: тридесятилетиятри политики (CHND Trung Hoa: ba thập kỷ – ba đường lối), của M.S. Kapitsa, tiếng Nga, Moskva 1979, tr. 388

[13]Армия Китая-орудие авантюристическойполитики маоистов(Quân đội Trung quốc – vũ khí của chính sách phiêu lưu của bè lũ Maoist), NXB Bộ Quốc Phòng Liên Xô, 1980.

[14]Real face of Maoists : open letter of CPUSA to CP of China, by Communist Party of the United States of America; 1979.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Mất niềm tin – Bản án xứng đáng nhất dành cho RFA

Hình ảnh: Bài viết của tác giả John Lee đăng tải trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam số tháng 6-2014Hình ảnh

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Vì sao Trung Quốc sẽ đè bẹp cả thế giới ?

  •   Aleksandr Khramchikhin[1]

Vấn đề lớn nhất của nhân loại có lẽ là ở chỗ, nó không hiểu Trung Quốc hiện nay là cái gì và Trung Quốc đang có những khuynh hướng phát triển như thế nào? Nhưng mặt khác, có thể, nhân loại không hiểu được như thế lại hoá hay. Bởi vì, hiểu ra điều đó là chuyện cực kì nặng nề, và cái chính là, dẫu có hiểu, nó cũng đành bất lực, chẳng làm được trò gì.

Có thể đành phải chờ đợi và đoán xem, đất nước này dùng cách nào để đè bẹp phần còn lại của thế giới. Kiểu tiếp cận Trung Quốc thông thường của phương Tây hoàn toàn không phù hợp.`Một mặt, chủ nghĩa duy tâm ngớ ngẩn của những chú panda huggers, hi vọng Trung Quốc sẽ hoà nhập vào hệ thống kinh tế và chính trị hiện hành do phương Tây tạo ra một cách ôn hoà, hiền lành, ngoan ngoãn, tiếp tục bì bạch chạy theo người tiêu dùng giày dép thể thao và laptop ở phương Tây để nhận khoản tiền lương hậu hĩnh nhất là 100 đô la mỗi tháng. Mặt khác, tầm nhìn cuồng tín, nông cạn về tư tưởng của China hawks, cho rằng mọi vấn đề của Trung Quốc đều bắt nguồn từ việc nước này không có nền dân chủ theo kiểu phương phương Tây.  Trung Quốc sắp sụp đổ vì không có dân chủ. Hoặc là Trung Quốc sẽ tấn công, chiếm lấy tất cả, vì nước này không có dân chủ. Hoặc, lúc đầu nó tấn công, sau đó nó sụp đổ, vì nó không có dân chủ. Hoặc lúc đầu nó sụp đổ, sau đó nó tấn công, bởi vì… Chao ôi, những kẻ đần độn thật bất hạnh.
Tuy thế, Trung Quốc cũng có nhiều người không đần độn. Ấy là những người hiểu rất rõ, rằng nếu đưa dân chủ kiểu phương Tây vào Trung Quốc, thì nó sẽ sụp đổ ngay lập tức. Quan điểm về Trung Quốc của Nga là hỗn hợp kì lạ giữa mối sợ hãi bản năng và niềm hi vọng về một thứ bạn “cùng thuyền chiến lược” trên mặt trận chống Hung thần – Đế quốc Mĩ. Quan niệm ấy không thể xem là hợp lí. Trung Quốc hiện nay có hàng loạt đặc điểm nổi bật. Nói vắn tắt, nó là thế này:
1. Là sự kết hợp giữa một bên là sự hiện diện của một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới có nhịp độ phát triển nhanh và trình độ kĩ thuật cao, với một bên là những vấn đề kinh tế – xã hội mang tính đặc thù của những nước kém phát triển.
2. Dân số khổng lồ, vượt quá khả năng đáp ứng của hoàn cảnh thiên nhiên. Dân số cho phép tối đa ở Trung Quốc chỉ có thể là 700 đến 800 triệu người. Thế mà trong thực tế, ai cũng biết, dân số nước này đã lên trên 1.3 tỉ, đã vậy, dù đã tìm đủ mọi cách để hạn chế, nó vẫn đang tiếp tục tăng trưởng.  Thêm vào đó, 94% dân cư Trung Quốc đang sinh sống trên 46% lãnh thổ.
3. Giữa thành phố và nông thôn, giữa các vùng miền, có sự phân hoá cao nhất thế giới. Giữa thành phố và nông thôn, sự khác biệt cao tới mức, các thống kê về kinh tế – xã hội của nông thôn và thành phố phải lập riêng rẽ, y như là thống kê ở những nước khác nhau. Sự chênh lệch giữa các vùng miền còn lớn hơn nữa. Tổng thu nhập của các tỉnh duyên hải miền đông – nam Quảng Đông cao hơn 90 lần so với tổng thu nhập của khu tự trị Tây Tạng phía tây – nam nước này.  Nếu xem các vùng miền của Trung Quốc như những nước khác nhau, thì Quảng Đông về quy mô kinh tế được xếp vào loại 30 nước hàng đầu, vượt cả những nước ví như Argentina. Trong khi đó, Tây Tạng đứng vào hàng 130 – 140 thuộc nhóm Nigiêria, Malawi, Tadjikistan. Gộp tất cả sự tương phản ấy lại với nhau, tức là đem so sánh mức sống trung bình của các thị dân Bắc kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến với mức sống trung bình của người nông dân ở Quý Châu hay Tây Tạng, thì vấn đề không còn là chuyện số lần hơn kém, mà là chuyện trật tự của các kích cỡ. Sự thật là ở nước này, có một số xã hội hoàn toàn khác nhau, từ xã hội nông nghiệp cổ truyền đến xã hội hậu công nghiệp. Đó là những xã hội không chỉ hoàn toàn khác nhau về mức sống, mà còn hoàn toàn khác nhau về tâm tính. Hơn nữa, sự chênh lệch có xu hướng ngày càng gia tăng, chứ không giảm bớt.
4. Tốc độ lão hoá của dân cư và sự chênh lệch về giới ở các nhóm thuộc tốp người trẻ tuổi cao nhất thế giới. Dân số ở những tốp dân cư ở độ tuổi trung niên tăng nhanh gấp đôi so với toàn bộ dân cư nói chung. Về cơ bản, đây là điều đang lặp lại khuynh hướng mang tính đặc thù của các nước phương Tây, nhưng ở phương Tây, quá trình lão hoá của dân cư chậm hơn rất nhiều và nó chỉ bắt đầu khi tổng thu nhập tính theo đầu người đạt từ 5 đến 10 nghìn đô la (ở Trung Quốc hiện nay vẫn còn dưới 2 nghìn đô la). Đồng thời, ở Trung Quốc, gia đình chính thức phải gánh trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng người già. Chỉ có 1/6 người già sống bằng nguồn lương hưu trí, người già ở nông thôn hoàn toàn không có trợ cấp xã hội. Tức là người ta không trả lương hưu cho nông dân, mặc dù thu nhập của họ thấp hơn nhiều lần so với thu nhập của thị dân. Theo truyền thống, cho đến nay, việc phụng dưỡng cha mẹ vẫn là trách nhiệm của người con trai nối dõi tông đường và được ăn thừa tự. Thế mà sinh đẻ lại bị hạn chế để giảm bớt gia tăng dân số, nên mới nảy sinh sự chênh lệch về giới.  Tương quan giữa trẻ trai và trẻ gái sơ sinh ở Trung Quốc đang cố giữ trong tỉ lệ 102-107:100, tối đa là 117:100, nhưng ở các tỉnh lẻ, tỉ lệ này là 130:100, còn ở nông thôn, có nơi lên tới 150:100. Chỉ mấy năm nữa, thế hệ bước vào tuổi hôn nhân sẽ có 20 triệu nam thanh niên bị “thiếu” cô dâu. Rõ ràng, đây là hiện tượng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại, bởi vậy, sẽ rất khó tiên đoán  hậu quả xã hội của nó và việc tìm ra con đường để giải quyết vấn đề cũng sẽ hết sức phức tạp. Tiếp tục duy trì các xu hướng phát triển hiện nay (thực ra, xu hướng phát triển này ngày càng trở nên trầm trọng, chứ không thể duy trì), đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện tình trạng: cô dâu trở thành hàng hoá. Nếu tính thêm những thay đổi trong quan niệm của lớp nữ thị dân có giáo dục, xem lập nghiệp có ý nghĩa quan trọng hơn hôn nhân, sẵn sàng gác việc lấy chồng tới giới hạn cuối cùng có thể được, thì đàn ông thành phố sẽ muốn kết hôn với phụ nữ nông thôn, còn đa số đàn ông nông thôn sẽ không có cơ may lấy được một người vợ. Trong trường hợp này, xung đột giữa thành phố và nông thôn, giữa những vùng phát triển và vùng lạc hậu sẽ trở thành mâu thuẫn mang tính đối kháng. Một cuộc nội chiến giành giật cô dâu - “đó là thứ còn dữ dội hơn cả “Faust” của Goethe”.
5. Sức ỳ hệ thống rất cao, do tình trạng bảo thủ xã hội cực kì phức tạp, lại ở quy mô rộng lớn và mức độ trầm trọng. Giới cầm quyền Trung Quốc từ lâu đã nhìn thấy và hiểu ra, nó phải chấp nhận quan niệm lệch lạc “tăng trưởng tương đương với phát triển”. Nó cũng có dự định sửa chữa hoàn cảnh, nhưng chẳng thu được kết quả nào cả. Tăng trưởng kinh tế dựa trên mô hình sử dụng lao động quảng canhtiếp tục phá mọi kỉ lục, hoàn thành vượt mức tất cả các kế hoạch sản xuất. Nhưng đồng thời, “các kế hoạch” tiêu sài tài nguyên và phá huỷ môi trường cũng thi nhau phá mọi kỉ lục. Thay vì hạn chế một cách có kế hoạch, khối lượng điện năng được sử dụng vẫn không ngừng tăng lên. Khối lượng các loại phế thải độc hại vẫn tăng, chứ không giảm. Mọi dự báo về mức độ sử dụng xăng dầu hàng năm của Trung Quốc đều sụp đổ, thực tế hoá ra còn tồi tệ hơn các phương án dự báo về những khả năng tồi tệ nhất.
6, Sự hiện diện của những mâu thuấn phát triển không thể xoá bỏ trong khuôn khổ của mô hình kinh tế đang vận hành ở Trung Quốc. Về vấn đề này, chúng tôi sẽ nói sau.
7. Thiếu một mô hình lựa chọn phù hợp cho phép xoá bỏ các mâu thuấn và nền tảng phương pháp luận tạo ra mô hình ấy. rõ ràng, hoàn toàn không có khả năng tạo ra một mô hình lựa chọn như thế.
8. Quy mô của hệ thống vấn đề nảy sinh từ phạm vi dân cư và kinh tế  đã biến những vấn đề của Trung Quốc thành những vấn đề của toàn bộ thế giới.
Vô khối những thứ “cao nhất thế giới” kể ra ở trên mới chỉ là chuyện tỉ lệ phần trăm. Nhưng ở đây, còn phải nhớ cả những đại lượng tuyệt đối. Đặc biệt là về con số 1,3 tỉ dân, về hơn 200 triệu chủ thể chủ thể đang hoạt động kinh doanh. Từ những quy mô này, sự chênh lệch trong tỉ lệ phần trăm rất dễ biến thành những con số khổng lồ khi chuyển chúng sang các đại lượng tuyệt đối: 200-300 triệu thất nghiệp, 150 di dân nội địa v.v…, và v.v…
Bây giờ xin nói về những mâu thuẫn cơ bản. Vì sao chuyện này thường bị lờ đi? Quả tình, người ta đã viết rất nhiều về những mâu thuẫn riêng lẻ, cục bộ, nhưng lại không xem xét các mâu thuẫn ấy trong tổng thể của chúng.
1. Mâu thuẫn giữa nhu cầu duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao dựa vào các khu vực thuê mướn lao động nhằm mục đích đảm bảo việc làm cho dân cư ngày càng phát triển và nhu cầu giảm bớt nhịp độ tăng trưởng, chuyển từ nền sản xuất chú trọng số lượng sang nền sản xuất chú trọng chất lượng, có cân nhắc tới đặc điểm tài nguyên – sinh thái.
2. Mâu thuấn giữa đòi hỏi và nhu cầu ngày càng cao của dân cư với nguồn tài nguyên, chẳng riêng gì của Trung Quốc, mà ngay của cả hành tinh cũng không đủ khả năng đáp ứng các đòi hỏi và nhu cầu ấy.
3. Mâu thuấn giữa nhu cầu tiếp tục thực hiện chính sách “Mỗi gia đình – một con” với nhu cầu giảm bớt các hạn chế nhân khẩu theo những cân nhắc về đặc điểm xã hội.
4. Mâu thuẫn giữa chính sách dựa vào dân số như một nguồn tài nguyên kinh tế và năng lực cạnh tranh cơ bản với tình trạng dân số quá đông như một vấn đề nghiêm trọng của đất nước.
Trong quá trình cải cách mở cửa, Trung Quốc đã sử dụng khối dân cư khổng lồ, vừa cần cù, lại vừa dễ tính, chẳng quen đòi hỏi gì, như một thứ tài nguyên cơ bản. Nhân loại cũng hả hê đồng tình với điều đó để biến Trung Quốc thành một “xưởng lắp ráp toàn thế giới”. Sự dồi dào của nguồn nhân công vô tận và, ứng với điều đó, tình trạng cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động đã cho phép duy trì mức chi phí thấp, nhờ thế, sản phẩm của Trung Quốc có giá cả rất rẻ. Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp chỉ có lợi khi dừng lại ở một giới hạn nào đó, vượt quá giới hạn ấy, nó sẽ trở thành mối đe doạ thực tế với sự ổn định xã hội. Vậy mà quân số lao động vẫn không ngừng tăng lên, đòi hỏi phải được “sử dụng”. Cách tốt nhất để sử dụng nguồn lao động này là tiếp tục tăng cường sản xuất hàng hoá thông dụng, huống chi chính khu vực sản xuất này đã thu về cho đất nước một nguồn ngoại tệ khổng lồ. Nhưng, dĩ nhiên, nó cũng đòi hỏi phải có một số lượng nhiên liệu khổng lồ mà bản thân Trung Quốc không thể có đủ, dẫn tới việc huỷ hoại ngày càng dữ dội môi trường thiên nhiên mà chắc chắn sẽ tạo ra một thảm hoạ sinh thái vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại. Những nhân tố này đã bắt đầu “ngốn” vào chính sự tăng trưởng kinh tế như là hậu quả của nó. Việc cải biến một nền sản xuất thiên về số lượng, dựa vào lao động phổ thông thành một nền sản xuất chú trọng tới chất lượng, dựa vào lao động khoa học, trước hết, đòi hỏi phải đầu tư một nguồn kinh phí khổng lồ (nhất là để nâng cao trình độ giáo dục còn rất thấp của dân cư), sau nữa, sẽ dẫn tới nạn thất nghiệp tăng lên một cách gay gắt và điều này chắn chắn sẽ tạo ra nguy cơ nghiêm trọng thực sự đe doạ sự ổn định xã hội.
Đúng là cả xã hội Trung Quốc nói chung đang thực sự quan tâm tới việc tìm kiếm một lối thoát ra khỏi tình huống được hình thành ở nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hiện nay. Nhưng, đồng thời, đại diện của tuyệt đại đa số các nhóm xã hội đều muốn duy trì mô hình cải cách hiện nay. Dĩ nhiên, điều này liên quan trực tiếp tới các nhóm xã hội được hưởng lợi từ những cuộc cải cách (tầng lớp quan liêu, các nhà kinh doanh, công nhân có tay nghề cao, các nhà môi giới v.v…). Nhưng các nhóm xã hội còn lại, tức là những nhóm không được hưởng lợi từ cải cách, thì không hề quan tâm tới sự thay đổi mô hình, bởi vì nó chỉ làm tăng thêm số lượng những người nông dân mất ruộng đất và đội quan thất nghiệp khiến cho địa vị của họ trở nên tồi tệ hơn. 
Cho nên, xung đột giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài có ý nghĩa quan trọng với tuyệt đại bộ phận các thành viên của xã hội Trung Quốc. Thực tế, con người bao giờ cũng giải quyết xung đột ấy vì lợi ích trước mắt. Tức là xuất phát từ việc duy trì mô hình phát triển hiện nay.
Mà chính phương Tây cũng muốn duy trì mô hình ấy. Phương Tây sẽ còn tụng niệm rất nhiều, rất hay cho chính bản thân mình về sự tuyệt diệu của xã hội thông tin hậu công nghiệp. Đồng thời, không hiểu vì sao, có một sự thật bị xem nhẹ, ấy là cư dân của thiên đường mặt đất này cũng phải ăn, mà phải ăn nhiều,ằn ngon; phải xỏ giày dép, mặc quần áo, áo quần giày dép phải đẹp, phải rẻ, phải đi trên những chiếc xe hơi tuyệt hảo và phải dùng những chiếc máy tính thật tinh xảo để làm việc (nếu klhông thế, sao gọi là xã hội thông tin?). Có điều, tất cả những thứ này vẫn cần phải cso một ai đó làm bằng tay, mà lại muốn sao cho thật rẻ. Đây rồi, chính người Trung Quốc đang làm. Họ làm bằng tay, rất nhiều và rất rẻ. Chẳng ai muốn động óc suy nghĩ về hậu quả của sự mầu nhiệm ấy.
Nhân loại cố tình nhắm mắt, không muốn nhìn xem sự tăng trưởng tiếp theo của trung Quốc sẽ đẫn tới đâu – ngay cả khi quan điểm “tăng cường bình ổn” đang được giới giới cầm quyền Trung Quốc tuyên truyền hiện nay là sự thật, chứ không phải tuyên truyền.
Phương Tây sẽ còn sụt sùi rất lâu về việc “phát triển bên vững” và xoá bỏ bất bình đẳng trong mức sống giữa các quốc gia phát triển và các nước đang phát triển. Nhưng tất cả đều hiểu rất rõ, rằng đại đa số các nước đang phát triển sẽ không bao giờ đuổi kịp trình độ của các quốc gia phát triển. Bởi vì, nếu đưa “cá” cho các nước ấy, tầng lớp tham nhũng “ưu tú” ngày càng phình to sẽ chén sạch, rồi sau đó lại xin thêm “cá”. Nhưng nếu đưa “cần câu” cho các nước đang phát triển, họ dễ dàng bẻ ngay cái “cần câu” ấy.
Trung Quốc thuộc về số ngoại lệ rất ít ỏi. “Cá” nó không cự tuyệt, mà “cần câu” nó sử dụng cũng rất tài, nếu có ý đồ tước đoạt “cá” và “cần câu” (hoặc có ý không đưa), nó sẽ dùng sức mạnh để cướp giật cho mình.
Cư dân Nigeria dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng sẽ không sống như cư dân Thuỵ Điển. Trên lí thuyết, cư dân trung Quốc có thể có tham vọng vượt lên cao hơn mức sống ấy. Không ai có khả năng và có quyền cấm họ làm như thế.
Chỉ có điều phải nhớ, tài nguyên của cả hành tinh không đủ để đảm bảo cho mỗi người dân Trung Quốc có mức sống như vậy. Họ không đủ ăn, không đủ xăng dầu và bao nhiêu thứ vật dụng không kém cần thiết khác. Thế thì sẽ chẳng còn gì để dành phần cho người khác. Tức là chúng ta chỉ còn mỗi việc là phải tin, rằng Trung Quốc (đất nước có dân cư đông nhất thế giới, có quân đội hùng mạnh và sự ngạo mạn ngút trời) sẽ mãi mãi kiên trì gia công hàng hoá thông dụng cho những người ngoại quốc giàu có bằng cái giá của sự nghèo túng của riêng mình.
Có lẽ, phải gọi niềm tin ấy là chủ nghĩa phê phán thì chính xác hơn.
Với những gì đã trình ở trên, chúng ta hoàn toàn không thể hiểu, Trung Quốc sẽ làm thế nào để tránh, không bành trướng ra bên ngoài bằng tất cả các hình thức của nó (kinh tế, chính trị, nhân khẩu, quân sự). Nó hoàn toàn không có sức sống trong các ranh giới hiện nay của mình. Hoặc là nó phải lớn lên gấp bội, hoặc là nó buộc phải nhỏ hơn rất nhiều. Bởi thế, vấn đề không phải là sự xâm lược của Trung Quốc, mà là với nó, bành trướng là kế sách duy nhất để sống sót.
Đó không phải là con ngoáo ộp, mà là hiện thực khách quan đang cắt cứa vào giác quan của ta. Quả thật, vẫn còn ít người cảm nhận được hiện thực ấy. Nhưng chẳng bao lâu nữa, nó sẽ tới.
                                                                              Lã Nguyên dịch
Nguồn: Báo “АПН” (Агенство политических новостей) ,
 ra ngày thứ Tư, 15.4.2010 (http://www.apn.ru/publications/article20310.htm)
 



[1] Aleksandr Anatolievich Khramchikhin (sinh: 1967): Phó Giám đốc Viện Phân tích Chính trị và Quân sự, Liên Bang Nga.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Trung Quốc – “Thập diện mai phục”

Hình ảnh

 

Giữa muôn trùng vây từng là bộ phim nổi tiếng của đạo diễn người Trung Quốc Trương Nghệ Mưu. Giờ đây, một Trung Quốc với những động thái ngày càng hung hăng đang phải đối mặt với tình cảnh như vậy khi các quốc gia láng giềng của Trung Quốc đã biết gạt qua một bên những thù địch quá khứ, kề vai sát cánh trong vấn đề ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Đó là nhận định của trang Asia Times online,  giới thiệu để bạn đọc tham khảo.
Trong một hành động biểu trưng cho liên minh đang chớm nở giữa Philippines và Việt Nam, các binh sỹ của hai nước này đã tổ chức giao lưu thể thao trên đảo Song Tử Tây (Southwest Cay), nơi cả Hà Nội, Manila và Bắc Kinh đều tuyên bố chủ quyền. Quan trọng hơn, Hà Nội dường như ngày càng gần gũi với hướng đi của Manila trong việc quốc tế hóa tranh chấp với Trung Quốc khi cân nhắc khả năng đưa vụ việc ra tòa án trọng tài quốc tế, một động thái mà Trung Quốc chỉ trích và phản đối mạnh mẽ.
Bên lề Diễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á diễn ra tại Manila gần đây, Tổng thống Philippines Benigno Aquino và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết thúc đẩy một mối quan hệ đối tác chiến lược với trọng tâm tập trung vào việc tăng cường khả năng tương tác và hợp tác trong phòng vệ trên biển. Trong suốt chuyến thăm và làm việc 3 ngày của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Manila cuối tháng 5 vừa qua, lãnh đạo hai nước đã đặt ra những nền tảng cho một mối quan hệ song phương mạnh mẽ hơn trong bối cảnh hai quốc gia thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) này cùng có sự nhức nhối chung trước sự hung hăng của Trung Quốc. Sau cuộc gặp với Thủ tướng Việt Nam, ông Aquino đã tuyên bố: Chúng tôi đang đối mặt với những thách thức chung với tư cách là những quốc gia trên biển và anh em trong ngôi nhà ASEAN. Ông Aquino cũng nêu bật sự quan tâm ngày càng tăng của Philippines tới việc bắt tay với những quốc gia có cùng mục đích trong khu vực.
Căng thẳng trên Biển Đông đang diễn biến khá chậm nhưng rõ ràng nó đang trở thành một vấn đề được quốc tế hóa thực sự, bất chấp sự khăng khăng của Trung Quốc rằng chúng là các vấn đề song phương. Một danh sách dài các cường quốc Thái Bình Dương và những nước khác quan tâm đến tự do hàng hải và những luồng lưu chuyển thương mại ổn định qua các vùng biển này đang đẩy nhanh những sáng kiến liên minh nhằm chống lại lập trường của Trung Quốc, đồng thời ủng hộ lập trường của Philippines và Việt Nam.
Tại Đối thoại Shangri-La ngày 1.6 vừa qua ở Singapore, đại diện đến từ Nhật Bản và Mỹ đã nêu bật sự quan ngại của quốc tế trước sự quyết liệt của Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ ở Tây Thái Bình Dương. “Nhật Bản muốn đóng vai trò thậm chí lớn hơn và mang tính tiên phong hơn so với vai trò hiện nay để khiến hòa bình ở châu Á và thế giới trở nên chắc chắn hơn”. Đó là tuyên bố trong bài phát biểu chủ đạo của Thủ tướng Shinzo Abe tại diễn đàn. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel thì khẳng định sự trung lập của Mỹ trong tranh chấp nhưng nhấn mạnh: “Mỹ kiên quyết phản đối bất kỳ nước nào sử dụng biện pháp hăm dọa, cưỡng chế hay đe dọa sử dụng vũ lực để khẳng định những đòi hỏi chủ quyền”.
Trong khi đó, sự xuất hiện của một chính phủ mới theo đường lối dân tộc chủ nghĩa ở Ấn Độ, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Narendra Modi, có thể mở đường cho một chính sách ngoại giao tích cực chủ động hơn của Ấn Độ ở Đông Á, nơi đã thành đối tác thương mại và đầu tư lớn của New Delhi.
Thấy trước những căng thẳng ở Biển Đông, Australia đã tăng cường liên kết với Mỹ nhằm ngăn chặn bất kỳ mối đe dọa nào đối với tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế. Hàn Quốc cũng nổi lên như một đối tác phòng vệ hàng đầu của Philippines, quốc gia hiện đang mua 12 máy bay chiến đấu phản lực cùng nhiều khí tài khác từ Hàn Quốc.
Indonesia, quốc gia lớn nhất trong ASEAN cùng tiến gần tới liên minh này với việc gần đây họ đã ký với Philippines thỏa thuận cam kết chấm dứt hiệu quả những tranh chấp biên giới kéo dài hai thập kỷ liên quan đến những vùng chồng lấn ở các vùng biển Mindanao và Celebes.
Trong những tháng gần đây, Indonesia đã công khai bác bỏ bản đồ đường chín đoạn của Trung Quốc, thứ được Trung Quốc sử dụng như là nền tảng cho yêu sách của họ đối với hơn 90% trên tổng số diện tích 3,5 triệu kilômét vuông của Biển Đông. Đồng thuận với lập trường của Hà Nội và Manila, Jakarta gần đây đã kêu gọi tìm kiếm giải pháp cho những tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và những nguyên tắc ứng xử của khu vực.
Sự hung hăng đến ngang ngược của Trung Quốc trong những yêu sách lãnh thổ đang truyền cảm hứng cho một mạng lưới những đối tác chiến lược linh hoạt nhưng được siết chặt ở khắp khu vực châu Á -Thái Bình Dương. Mặc dù Philippines và Việt Nam là hai nước chủ yếu quan tâm đến việc bảo vệ những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của riêng họ ở Biển Đông, còn những cường quốc Thái Bình Dương như Mỹ, Nhật, Australia, Ấn Độ và Hàn Quốc chủ yếu quan tâm đến vấn đề tự do hàng hải, song bất chấp mục đích của họ là gì, một liên minh như vậy đang hình thành và siết chặt quanh Trung Quốc.

 

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Sự bành trướng của Trung Quốc là tất yếu ?

Китайская экспансия неизбежна

Trong những bài báo của tác giả Aleksandr Khramchikhin-Phó giám đốc Viện phân tích quân sự-chính trị, công bố trên tuần báo “Thông tin công nghiệp quân sự” Nga, đã phân tích thực trạng PLA và tổ hợp công nghiệp quân sự của CHND Trung Hoa. Một điều đã được làm sáng tỏ, mặc dù khả năng quân sự của Trung Quốc xét trên phương diện phòng thủ đất nước, từ lâu đã quá dư thừa, nhưng vẫn được tăng cường với tốc độ chưa từng có tiền lệ.

Tại CHND Trung Hoa, người ta cho rằng, một cuộc chiến tranh hạt nhân còn tốt hơn là sự sụp đổ từ bên trong

Trung Quốc chiếm giữ một cách vững chắc vị trí đầu tiên trên thế giới về sản xuất trang bị kỹ thuật chiến đấu tất cả các lớp chủ yếu, trừ tàu ngầm nguyên tử và tàu sân bay, dù nước này chỉ mới sử dụng tối đa  1/3 khả năng của tổ hợp công nghiệp quân sự của mình. Đồng thời, người Trung Hoa trên thực tế đã khắc phục được sự thua kém về chất so với lực lượng vũ trang các nước phương Tây và Nga, điều đã từng tồn tại một thập niên trước đây. Ngay cả trong những lĩnh vực còn có sự tụt hậu nhất định thì đó cũng không phải là vấn đề mang tính nguyên tắc và dễ dàng được bù đắp bằng sự vượt trội về lượng.

Đánh chiếm lãnh thổ như một cách giải quyết các vấn đề

Việc hoàn toàn coi nhẹ những yếu tố này ở nước Nga bắt đầu mang tính chất của một rối loạn tâm lý đám đông nào đó, đôi khi trở nên trầm trọng thêm bởi sự dối trá trắng trợn rằng, vũ khí trang bị ở Trung Quốc được sản xuất những loạt nhỏ, và về cả những mối quan hệ tuyệt vời giữa 2 nước. Can dự rất sâu vào cơn loạn thần này là sự vận động hành lang thân Trung Hoa, ít nhất cũng không thua kém thái độ thân Mỹ ở nước Nga. Hơn nữa nước này có những nguồn lực ở Liên bang Nga mà người Mỹ không có được, đó là sự phiêu bạt của một lượng lớn người Hoa, hầu như đặc vụ Trung Quốc hoạt động không trở ngại gì trên lãnh thổ Nga và một lượng đáng kể công dân Nga, trong số đó có nhiều quan chức cao cấp đã bị Bắc Kinh mua chuộc từ lâu và sẵn sàng bán cho Trung Quốc tất cả mọi thứ.

Trên thực tế, nước Nga hơn 20 năm đã qua gắn bó với Bắc Kinh bằng quan hệ đối tác chiến lược, thêm vào đó ở nước Nga có rất nhiều người tin chắc, những mối quan hệ Nga-Trung là đồng minh đặc biệt. Trong khi đó, CHND Trung Hoa thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với nhiều nước trên thế giới, kể cả phần lớn các quốc gia phương Tây, vì vậy không thể nói về sự đặc biệt nào của nước Nga đối với Trung Quốc. Về liên minh cũng như thế. Trong suốt 20 năm qua, các chính khách CHND Trung Hoa, cũng như các nhà khoa học Trung Quốc luôn luôn nhấn mạnh rằng, các mối quan hệ Nga-Trung không phải là đồng minh và không nhằm chống lại bất cứ ai. Đây là lập trường vững chắc của Bắc Kinh, chính thức cũng như thực tế.

Về mối đe dọa Trung Quốc đối với nước Nga, thì đó không phải giả định mà là thực tại khách quan. Trung Quốc không thể tồn tại mà không bành trướng. Điều này được xác định bởi các quy luật của tự nhiên và nền kinh tế, chứ không phải bởi sự hiếu chiến đặc biệt nào đó của nước này. Chúng ta không thể nói, nó sẽ diễn ra ở hình thức nào và với tốc độ nào, nhưng bản thân sự bành trướng là điều không tránh khỏi. Với Trung Quốc vấn đề này đồng nghĩa với việc-hoặc chiếm đoạt lãnh thổ và tài nguyên, hoặc sụp đổ và nội chiến.

Lẽ thứ nhất, giả sử CHND Trung Hoa tiến tới mức độ tiêu thụ lương thực, điện năng, dầu mỏ và các vật chất khác bình quân đầu người ngang với phương Tây, thì các nguồn dự trữ của cả hành tinh cũng không đủ dùng riêng cho nước này. Đây không phải là giả định mà là điều hoàn toàn có thực. Cũng tương tự như vậy, với tốc độ phát triển kinh tế Trung Quốc hiện nay vấn đề nói trên sẽ nảy sinh trong tương lai rất gần, khi phần lớn các độc giả của bài báo này còn đang sống trên cõi đời.

Lẽ thứ hai, sự di dân từ các khu vực phía Đông của CHND Trung Hoa đang tạo ra gánh nặng cho thiên nhiên và hạ tầng cơ sở; những nỗ lực hạn chế sự phát triển dân số là nửa vời và do đó đang làm phát sinh những vấn nạn xã hội chưa được giải quyết (để viết về chúng cần có thêm một bài báo dài).

Vì vậy khi nghiên cứu tình hình hiện tại ở CHND Trung Hoa, không thể không thấy rõ, sự bành trướng ra bên ngoài có thể trở thành giải pháp tối ưu để khai thông các vấn đề bế tắc của đất nước. Nó đảm bảo mở rộng đáng kể lãnh thổ và làm tăng thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hiện đang có sẵn một tiềm năng dự trữ khổng lồ là “những người dôi dư” (thất nghiệp, nam thanh niên không lấy được vợ do mất cân bằng giới tính quá lớn, nông dân bần cùng) cho sự bành trướng này. Hơn nữa, nạn thất nghiệp rất cao trong thanh niên và “thiếu trầm trọng phụ nữ trẻ” làm cho tổn thất cao về sinh mạng trong quá trình hoạt động tác chiến không chỉ đơn thuần là chấp nhận được, mà có khả năng còn là điều mong muốn đối với ban lãnh đạo quân sự-chính trị của nước này.

Mở rộng đáng kể lãnh thổ sẽ cho phép bãi bỏ hạn chế sinh đẻ. Điều này cho phép, nếu không giải quyết được toàn bộ thì cũng giảm bớt đáng kể những mâu thuẫn xã hội liên quan tới các hạn chế này (chúng thực sự mang tính bi kịch và đáng bị cực lực lên án). Nói một cách khách quan, đối với Trung Quốc, lãnh thổ còn quan trọng hơn tài nguyên. Để khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ nước mình hay chiếm đóng, hoặc mua ở nước ngoài thì trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải tiêu tốn lượng tiền bạc đáng kể. Lãnh thổ mới là giá trị tuyệt đối, không gì có thể thay thế được. Bên cạnh đó, những vấn nạn xã hội do việc di dân gây ra nguy hại đối với nước này còn hơn là thiếu tài nguyên và tình hình sinh thái cực kỳ tồi tệ. Chính chúng gây chia rẽ trong nội bộ xã hội và giữa xã hội với chính quyền, đồng nghĩa với việc làm mất đi quyền lãnh đạo chính thống của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Mà nền kinh tế Trung Quốc không thể tránh khỏi sự sụp đổ vì những vấn đề xã hội là điều hết sức thực tế. Do đó bành trướng ra bên ngoài đối với ban lãnh đạo Trung Quốc đang trở thành giải pháp không thể thay thế.

Riêng phần phía Tây thưa dân cư của nước này, đáng tiếc lại không thích hợp cho cuộc sống bình thường của con người. Tây Tạng là vùng cao nguyên khắc nghiệt, nơi những cư dân bình nguyên, vốn không thích nghi với vùng này không thể sinh sống thường xuyên chứ chưa nói gì tới hoạt động kinh tế. Khu tự trị Tân Cương-Duy Ngô Nhĩ cũng chẳng khá hơn về mặt này. Vùng Nam Siberia của Nga so với những vùng này còn tiện lợi và trù phú hơn nhiều về mọi phương diện. Và Đông Nam Á, khu vực mà chúng ta trước đây cho rằng, sẽ là hướng lựa chọn chính của Trung Quốc, lại có vẻ không thích hợp lắm cho sự bành trướng như thế. Ở đây không có nhiều lãnh thổ (ít nhất cũng nhỏ hơn ở phần châu Á của LB Nga). Vì thế không nên tự dối mình rằng, Trung Quốc có tất cả 2 hướng bành trướng là nước Nga (chính xác hơn là phần lãnh thổ châu Á của nước này) và Kazakhstan.

Tất nhiên, Bắc Kinh thích phương án bành trướng một cách hòa bình hơn (nhân khẩu và kinh tế), nhưng đơn giản là không có đủ thời gian cho phương án đó, vì các mâu thuẫn trong nước sẽ trở nên trầm trọng cực độ trước khi sự bành trướng một cách hòa bình mang lại kết quả. Do đó phương án bành trướng bằng quân sự không thể tuyệt đối loại trừ. Cơ sở lý luận, lịch sử cũng như chiến tranh trong quá khứ đều minh chứng cho điều này.

Không biết đã bao lần những tuyên bố chính thức về việc, Trung Quốc không có các yêu sách lãnh thổ đối với nước Nga được đưa ra (vì một lẽ gì đó những tuyên bố này chủ yếu được tuyên đọc từ chính nước Nga), nhưng các hiệp ước Aigun và Bắc Kinh xác lập biên giới hiện nay được cho là thiếu công bằng và bình đẳng. Trong luật pháp quốc tế hiện hành đơn giản là không tồn tại những phạm trù như thế. Nhưng Trung Quốc đưa chúng vào khi còn chút ít hiệu lực.

Những đường biên giới kiểu Trung Hoa

Về hợp phần quân sự, khái niệm những đường biên giới chiến lược và không gian sống, được xây dựng để làm cơ sở và quyền hạn tiến hành các hoạt động chiến đấu tiến công cho lực lượng vũ trang Trung Quốc được quan tâm đặc biệt. Tờ báo “Giải phóng quân” của Tổng cục chính trị PLA nói về ranh giới không gian sống rằng, nó “xác định ranh giới của không gian sống của một quốc gia và một đất nước, gắn liền với sự hưng thịnh hoặc suy vong của một dân tộc về mọi mặt”, nó “phản ánh tổng thể sức mạnh của nhà nước và phục vụ những lợi ích sinh tồn, kinh tế, an ninh và hoạt động khoa học của nhà nước đó”. Khái niệm dựa trên quan điểm: dân số gia tăng và các nguồn tài nguyên hạn hẹp tạo ra những nhu cầu tự nhiên trong việc mở rộng không gian để đảm bảo cho hoạt động kinh tế tiếp theo và tăng “phạm vi sinh tồn tự nhiên” của quốc gia. Quan điểm đó cho rằng, những đường biên giới không gian và lãnh thổ chỉ quy định các ranh giới, mà ở trong phạm vi của chúng, một quốc gia với sức mạnh thực tế có thể “bảo vệ một cách có hiệu quả những lợi ích của mình”. “Những đường biên giới chiến lược của không gian sống” cần phải được dịch chuyển theo mức độ gia tăng sức mạnh tổng hợp của một quốc gia”. Như tờ báo “Giải phóng quân” nói trên đã viết, việc kiểm soát hiệu quả một khu vực chiến lược trong một thời gian kéo dài được tiến hành bên ngoài phạm vi các đường biên giới địa lý, cuối cùng sẽ làm cho chúng bị dịch chuyển. Khái niệm muốn nói tới việc di chuyển các hoạt động tác chiến từ những khu vực giáp biên vào các vùng biên giới chiến lược hoặc thậm chí vượt qua phạm vi của chúng, vả lại những điều phức tạp trong lộ trình “bảo đảm các quyền hợp pháp và lợi ích của Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương  rất có thể trở thành nguyên nhân của những cuộc xung đột quân sự. Người Trung Quốc cho rằng, những đường biên giới không gian sống của các siêu cường vượt xa phạm vi biên giới pháp lý, và phạm vi ảnh hưởng của các nước nhược tiểu thì luôn nhỏ hơn lãnh thổ quốc gia của họ.

Việc cấp tốc tăng cường tiềm lực tiến công cho PLA và tính chất của những cuộc tập trận đã được tiến hành (mô tả trong bài báo “Trung Quốc sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh lớn”) hoàn toàn phù hợp với khái niệm nêu trên.

Về yếu tố kiềm chế chiến lược của CHND Trung Hoa, để chống lại những quốc gia phi hạt nhân thì đã quá thừa, còn để đối đầu với các nước hạt nhân (mà Trung Quốc cũng là một trong số đó) thì than ôi, còn phải nghi ngờ. Không được phép lãng quên về sự nhạy cảm cực thấp của người Trung Hoa đối với những tổn thất (đây là điều khác biệt căn bản của họ so với các đạo quân phương Tây). Điều bất hạnh của chúng ta là quá tin vào khả năng kiềm chế hạt nhân, mà điều này lại cản trở việc phát triển các lực lượng vũ trang thông thường. Vũ khí hạt nhân phải là miếng võ cuối cùng. Chúng ta đã tự đưa mình vào tình thế vũ khí hạt nhân là đầu tiên và duy nhất. Bên cạnh đó, như đã phân tích trong bài báo “Kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc có thể lớn nhất thế giới”, ở CHND Trung Hoa người ta đang chuẩn bị một cách nghiêm túc nhất cho cuộc chiến tranh hạt nhân. Vâng, tất nhiên người Trung Hoa không mong muốn nó xảy ra. Nhưng rõ ràng họ cho rằng, trong trường hợp vạn bất đắc dĩ, nó cũng chấp nhận được, bởi vì sự sụp đổ trong nước có thể còn tồi tệ hơn. Hơn nữa trong trường hợp này có thể xảy ra một cuộc nội chiến có sử dụng vũ khí hạt nhân do bản thân Trung Quốc chế tạo trên lãnh thổ nước mình.

Than ôi, ban lãnh đạo LB Nga nhìn thấy mối đe dọa đối với đất nước mình trong những yêu sách về lãnh thổ của Latvia và Estonia, những nước có lực lượng vũ trang về tổng thể còn yếu hơn cả sư đoàn nhảy dù xung kích cận vệ số 76 của Nga. Thế mà đối với các thủ trưởng của chúng ta, Trung Quốc hoàn toàn không phải là một mối đe dọa. Đây là sự mất trí hay tội ác-điều đó không quan trọng, vì hậu quả cuối cùng sẽ như nhau.

Theo tuần báo “Thông tin công nghiệp quân sự” Ng
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 VÀ PHÂN ĐỊNH CÁC VÙNG BIỂN TRÊN BIỂN ĐÔNG

Công ước về luật biển 1982 là điều ước quốc tế tổng hợp (một bộ luật), là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực pháp điển hóa vì sự phát triển tiến bộ của các quy phạm pháp luật quốc tế, đồng thời quy định cụ thể hóa hơn so với Công ước Geneva về luật biển năm 1958. Công ước về luật biển 1982 đã quy định chế độ pháp lý của đại dương và điều chỉnh các dạng hoạt động cơ bản về sử dụng, nghiên cứu, khai thác và chinh phục đại dương phục vụ cho các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện đại

Chương III

CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982

VÀ PHÂN ĐỊNH CÁC VÙNG BIỂN TRÊN BIỂN ĐÔNG

I. CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982

Khó có thể đánh giá hết được tầm quan trọng của đại dương[1] và vai trò của nó đối với đời sống của con người bởi đại dương là ngôi nhà chung, là cầu nối thông thương giữa các lục địa và các nền văn minh của nhân loại, là huyết mạch giao thông đường thủy được tạo thành từ các vùng biển với các chế độ pháp lý khác nhau mà trong đó phần lớn là biển cả, vùng biển là tài sản chung của nhân loại, của tất cả các quốc gia có biển và không có biển.

Trong thế giới hiện đại, ngành thủy vận quốc tế đã ngày một trở nên quan trọng trong hoạt động thông thương giữa các quốc gia. Điều đó đã được khẳng định khi tỷ trọng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển ngày càng tăng[2]. Thế giới ngày càng đa cực, nhưng không vì thế mà hòa bình và an ninh quốc tế được trường tồn. Do đó, các vấn đề về đại dương, về luật pháp quốc tế và hẹp hơn là luật biển quốc tế hiện đại luôn được cộng đồng đặc biệt quan tâm.

Do vai trò quan trọng của biển và đại dương đối với đời sống của con người nên từ thế kỷ XVI-XVII đã có các Học thuyết về biển kín và biển mở: Học thuyết về biển kín của John Selden – Anh quốc 1635 (viết cuốn ”Mare Clausum” khẳng định quyền của vua Anh thực hiện chủ quyền trên các vùng biển bao quanh nước Anh); Học thuyết về biển mở của Hugo Grotius – Hà Lan 1609 (viết cuốn ”Mare Liberum” về tự do trên biển). Đến thế kỷ XVII-XVIII thì Học thuyết biển mở với nội dung biển là của chung, của mọi người và của mọi quốc gia trên Trái Đất đã chiếm ưu thế hơn.

Năm 1930, Hội quốc liên, tổ chức tiền thân của Liên hợp quốc, đã tổ chức Hội nghị Lahaye về biển, kết quả của Hội nghị này đã công nhận mỗi quốc gia ven biển đều có lãnh hải riêng với ít nhất 3 hải lý và một vùng tiếp giáp lãnh hải. Do vậy, trong một thời gian dài, chiều rộng lãnh hải mà các quốc gia tự xác định cho mình rất khác nhau. Ví dụ, từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, lãnh hải của Anh, Mỹ, Pháp và nhiều quốc gia khác có chiều rộng 3 hải lý, Na Uy 4 hải lý, Tây Ban Nha 6 hải lý, các nước châu Mỹ latinh như Pêru, Chilê, Ecuador đã mở rộng lãnh hải của mình đến 200 hải lý[3].   

1. Các lần hội nghị quốc tế về biển

Từ khi thành lập, Liên hợp quốc luôn chú trọng đến xây dựng luật biển quốc tế, từ đó đã thực hiện được những bước đi quan trọng và cụ thể. Đó là 3 lần tổ chức hội nghị quốc tế về biển vào các năm 1958, năm 1960 và từ năm 1973 đến năm 1982. Tại hội nghị quốc tế về luật biển được tổ chức ở Geneva (Thụy Sĩ) năm 1958, lần đầu tiên một hội nghị quốc tế được tổ chức với quy mô mở để bàn luận về chế độ pháp lý của đại dương và chi tiết hóa việc sử dụng các vùng biển của đại dương. Hội nghị đã nghiên cứu các dự thảo quy chế về biển mà Ủy ban Liên hợp quốc về luật biển đã chuẩn bị. Trên cơ sở đó Hội nghị đã thông qua được bốn Công ước điều chỉnh chế độ pháp lý các vùng biển và việc đánh bắt cá ở thế giới đại dương. Các Công ước đó là: 1) Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp (có hiệu lực ngày 10/9/1964); 2) Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực ngày 10/6/1964); 3) Công ước về biển quốc tế (có hiệu lực ngày 30/9/1962); và 4) Công ước về đánh bắt cá và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật ở biển cả (có hiệu lực ngày 20/3/1966). Nhưng đó là một kết quả còn khá khiêm tốn vì đại dương đang tồn tại rất nhiều vấn đề cấp thiết mà Hội nghị lần này còn chưa đồng thuận.

Về bản chất, Hội nghị đã pháp điển hóa phần lớn các quy phạm luật biển quốc tế hiện đại, lựa chọn các quy phạm dưới dạng tập quán pháp quốc tế và các quy phạm điều ước điều chỉnh các quan hệ về chế độ pháp lý các vùng biển và các hoạt động khác ở thế giới đại dương. Phần giới thiệu của Công ước về biển cả đã nhấn mạnh rằng nội dung của Công ước có tính chất như Tuyên bố chung về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều đó cũng có nghĩa là nội dung Công ước đã phản ảnh bản chất luật tập quán chung. Công ước về biển cả đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cái nhìn tổng thể của cộng đồng về biển cả, cũng như lấy kết quả làm cơ sở để phát triển luật biển quốc tế trong tương lai[4].

Có thể nhận thấy rằng, việc thông qua các Công ước Geneva về luật biển năm 1958 đã khẳng định luật quốc tế đã bước sang một giai đoạn phát triển tiến bộ, vì các nguyên do sau đây:

Một là, trong Công ước Geneva năm 1958 về thềm lục địa, lần đầu tiên trong lịch sử pháp lý có các quy phạm phối hợp ở tầm quốc tế về đặc quyền của các quốc gia ven biển trong quản lý nguồn tài nguyên ở thềm lục địa và về giới hạn chiều rộng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau đó, cùng với sự phát triển tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các quốc gia mong muốn thiết lập giới hạn mới về chiều rộng của thềm lục địa bằng các tiêu chí mới cho phù hợp với luật quốc tế hiện đại và với vị thế của từng quốc gia (cần nhấn mạnh rằng, cho đến nay đang song tồn hai điều ước quốc tế điều chỉnh quy chế về thềm lục địa, đó là: Công ước Geneva năm 1958 về thềm lục địa và Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982);

Hai là, Công ước Geneva năm 1958 về vùng tiếp giáp cũng là một điểm nhấn mới trong luật quốc tế vì đây là lần đầu tiên các quy phạm về khái niệm và về quy chế pháp lý vùng tiếp giáp được ghi nhận trên cơ sở của một điều ước quốc tế đa phương.

Hội nghị quốc tế Liên hợp quốc về luật biển lần thứ hai đã được tổ chức ngày 17/3/1960 ở Geneva (Thụy Sĩ), các quốc gia tham dự đã mất nhiều thời gian tranh luận về chiều rộng lãnh hải và vùng đánh cá cho các quốc gia ven biển. Vì còn nhiều bất đồng quan điểm giữa các quốc gia tham gia nên Hội nghị đã không đem lại kết quả, nhưng dù sao đó cũng là tiền đề cho Hội nghị lần sau.

Do sự đa dạng của các hoạt động ở đại dương và kết quả tiến bộ của khoa học kỹ thuật, năm 1970 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua quyết định triệu tập Hội nghị Liên hợp quốc vào năm 1973[5]. Để chuẩn bị cho Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ ba về biển (Third United Nations Conference on the Law of the Sea), Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị trù bị về luật biển từ năm 1967 đến năm 1972. Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Thủ tục Hội nghị về luật biển lần thứ ba, ngày 16/11/1973, bằng một Thỏa thuận quốc tế dưới dạng bất thành văn (còn được biết đến với tên gọi là Hiệp ước quân tử – Gentlemen’s agreements[6]). Thành công của Hội nghị lần thứ ba về luật biển và việc chính thức thông qua Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 (Công ước về luật biển 1982) - United Nations Convention on Law of the Sea – UNCLOS (Công ước này không có điều khoản bảo lưu[7]) là một sự kiện trọng đại nhất trong quan hệ quốc tế nói chung và luật quốc tế hiện đại nói riêng, điều đó đã được minh chứng bằng rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới[8]. Hội nghị đã kéo dài từ năm 1973 đến năm 1982, một kết quả mà nếu tính về thời gian thì chưa từng có tiền lệ trong lịch sử của các kỳ hội nghị quốc tế. 

Công ước về luật biển 1982 là điều ước quốc tế tổng hợp (một bộ luật), là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực pháp điển hóa vì sự phát triển tiến bộ của các quy phạm pháp luật quốc tế, đồng thời quy định cụ thể hóa hơn so với Công ước Geneva về luật biển năm 1958. Công ước về luật biển 1982 đã quy định chế độ pháp lý của đại dương và điều chỉnh các dạng hoạt động cơ bản về sử dụng, nghiên cứu, khai thác và chinh phục đại dương phục vụ cho các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện đại[9]. Cần nhấn mạnh rằng, lần đầu tiên trong Công ước về luật biển 1982 có những quy phạm rất đặc biệt (Điều 311) điều chỉnh được sự “thăng bằng” về quyền và lợi ích giữa các quốc gia có vị thế khác nhau: các quốc gia hùng mạnh, các quốc gia công nghiệp phát triển, các quốc gia đang phát triển và các quốc gia ven biển[10].

Như vậy, luật biển quốc tế đã được pháp điển hóa[11] trong một thời gian dài và có thể tóm tắt làm ba giai đoạn chính:

Giai đoạn 1, từ những năm 20 đến trước khi thành lập Liên hợp quốc;

Giai đoạn 2, là từ khi Liên hợp quốc bắt đầu hoạt động (1946) đến năm 1958;

Giai đoạn 3, là từ giữa những năm 1960 đến năm 1982 [12].

Cần chú ý rằng, trước khi Liên hợp quốc thông qua Công ước về luật biển 1982 thì nguồn cơ bản của luật biển là các Công ước đã được Liên hợp quốc thông qua tại Hội nghị Geneva ngày 24/02/1958 lần thứ nhất về biển[13] (hay còn gọi là các Công ước Geneva về luật biển năm 1958).

 Công ước về luật biển 1982 đã có 160 quốc gia và EU tham gia (tính đến tháng 8/2009, Hoa Kỳ không tham gia Công ước vì Hoa Kỳ cho rằng Công ước này không có lợi cho kinh tế và anh ninh của Hoa Kỳ[14]). Việt Nam đã gia nhập Công ước về luật biển 1982 ngày 23/6/1994 và nộp lưu chiểu tại Liên hợp quốc ngày 25/7/1994[15]. Công ước về luật biển 1982 có 17 phần, 320 điều, 9 phụ lục và 4 nghị quyết. Công ước này có hiệu lực ngày 16/11/1994 sau khi có 60 quốc gia phê chuẩn[16]. Liên hợp quốc đã thông qua Nghị định thư New York ngày 29/7/1994 về việc thực hiện Phần XI của Công ước về luật biển 1982. Nội dung của Nghị định thư này, Phần XI của Công ước về luật biển 1982 được ưu tiên hiệu lực hơn so với các Công ước Geneva về luật biển năm 1958.

2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế

Các nguyên tắccơ bản của Luật biển quốc tếlà những tư tưởng chính trị – pháp lýmang tính chỉ đạo cho quá trình xây dựng và thực hiện Luật biển quốc tế, cũng như quá trình hợp tác, giải quyết các tranh chấp về biển. Những nguyên tắc này được xác định thuộc những nguyên tắc, quy phạm bắt buộc chung của luật quốc tế (quy phạm Jus cogens của luật quốc tế); tức là các nguyên tắc và các quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế.

Tính chất jus cogens trong luật quốc tế được thể hiện trên các bình diện sau đây: Một là, đây là các quy phạm đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận; hai là, một hoặc một nhóm chủ thể của luật quốc tế không được phép thay đổi các quy phạm đó; ba là, việc thay đổi các quy phạm này phải dựa trên cơ sở được thừa nhận của cộng đồng quốc tế.

Trong Luật biển quốc tế có các nguyên tắc cơ bản sau:

a. Nguyên tắc tự do biển cả

Biển cả (biển quốc tế) là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải, nội thủy của quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo. Điều 87 Công ước luật biển 1982 quy định: Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển. Quyền tự do trên biển cả được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước và những quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định. Đối với các quốc gia dù có biển hay không có biển, quyền tự do này bao gồm: Tự do hàng hải; tự do hàng không; tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm; tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị khác được pháp luật quốc tế cho phép; tự do đánh bắt hải sản; tự do nghiên cứu khoa học (khi thực hiện các quyền tự do trên phải tuân thủ các quy định có liên quan của Công ước).

Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính đến lợi ích của việc thực hiện quyền tự do trên biển cả của các quốc gia khác và các quyền được Công ước thừa nhận liên quan.

Điều 88 Công ước quy định:Biển cả được sử dụng vào các mục đích hòa bình”.

Cần chú ý rằng, nguyên tắc tự do biển cả được thực hiện không chỉ ở vùng biển quốc tế, mà còn ở ngay trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển, tức là trong các vùng biển này, các quốc gia khác cũng có một số quyền tự do biển cả nhất định.

b. Nguyên tắc đất thống trị biển

Nguyên tắc đất thống trị biển được hiểu là quốc gia ven biển hoặc quốc gia quần đảo được mở rộng chủ quyền hướng ra biển (khoản 2, Điều 49 Công ước về luật biển 1982) nhưng không được sửa chữa lại tự nhiên. Việc mở rộng chủ quyền ra biển được giới hạn theo quy định của luật pháp quốc tế. Các quốc gia không được lạm dụng nguyên tắc này để mở rộng các vùng biển và thềm lục địa ra bên ngoài không phù hợp với quy định của Luật biển quốc tế.

c. Nguyên tắc di sản chung của loài người

Đây là một nguyên tắc đặc thù của Luật Biển quốc tế được áp dụng cho đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cả (gọi là vùng). Đây là đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán của các quốc gia. Những vùng biển này được xem là di sản chung của loài người (được quy định tại Phần XI Công ước về luật biển 1982); theo nguyên tắc chung, vùng là di sản chung của mọi quốc gia (mọi chủ thể của luật quốc tế), không thuộc về quyền sở hữu của bất kỳ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào, không thuộc quyền tài phán của bất cứ quốc gia nào. Vùng và tài nguyên của vùng được sử dụng vào mục đích hoà bình; việc thăm dò, khai thác tài nguyên trong vùng phải được tiến hành thông qua một tổ chức quốc tế, gọi là cơ quan quyền lực quốc tế. Cơ quan này, bảo đảm phân chia công bằng những lợi ích kinh tế do các hoạt động khai thác tài nguyên trong vùng.

d. Nguyên tắc công bằng

Nguyên tắc công bằng trong Luật Biển quốc tế được hiểu là các quốc gia đều có quyền sử dụng biển cả và sử dụng vùng vào mục đích hoà bình, không phân biệt đối xử; có quyền khai thác nguồn tài nguyên ở biển cả, cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cả; trên cơ sở quy định của luật pháp quốc tế. Biển cả không thuộc chủ quyền của quốc gia nào; là di sản chung của loài người, việc phân định biển phải công bằng và không được sửa lại tự nhiên.

3. Phân loại các vùng biển

Đây là chủ đề được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu[17]. Theo luật quốc tế hiện đại, đại dương được phân chia có điều kiện thành ba loại vùng biển với các tính chất pháp lý cơ bản khác nhau:

Loại thứ nhất, các vùng biển là một phần lãnh thổ không tách rời của quốc gia ven biển, mà trong đó có sự hiện diện chủ quyền của quốc gia ven biển (như: vùng nội thủy được ghi nhận tại Điều 5 Công ước Geneva về luật biển năm 1958 và tại khoản 1, Điều 8 Công ước về luật biển 1982; vùng lãnh hải được ghi nhận tại Điều 12 Công ước về luật biển 1982);

Loại thứ hai, các vùng biển không là một phần lãnh thổ của quốc gia ven biển, nhưng lại thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (như vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa);

Loại thứ ba, là vùng biển không thuộc chủ quyền, không thuộc quyền chủ quyền và không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, kể cả quốc gia có biển và quốc gia sử dụng biển (biển cả hay còn gọi là biển quốc tế).

Cần nhấn mạnh rằng, chế độ pháp lý của các vùng biển được phân chia nói trên không giống nhau. Chẳng hạn như, trong vùng lãnh hải khác với vùng nội thủy vì có sự qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài (quyền qua lại hòa bình cần được thực hiện phù hợp với quy định tại Điều 17 Công ước về luật biển 1982 và Điều 14 Công ước Geneva về luật biển năm 1958. Quyền qua lại vô hại này tương tự như thương quyền về tự do bay trên lãnh thổ ký kết không kèm hạ cánh, hay còn gọi là quyền qua lại vô hại trong luật hàng không dân dụng quốc tế). Trong vùng tiếp giáp, các quốc gia ven biển có quyền thực hiện việc kiểm tra các hoạt động trên biển của tàu thuyền nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định (Điều 33). Với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì các quốc gia ven biển được thực hiện quyền chủ quyền quốc gia theo quy định tại Điều 77 Công ước về luật biển 1982 và khoản 1 Điều 26 Công ước Geneva về luật biển năm 1958. Ví dụ, trong vùng thềm lục địa, quyền chủ quyền quốc gia ven biển có tính đặc quyền, tức là các quốc gia khác không có quyền thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên ở thềm lục địa nếu quốc gia ven biển không cho phép.

Như vậy, trong luật quốc tế đã xuất hiện quy chế pháp lý hỗn hợp đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa vì ở đó có sự hiện diện quyền chủ quyền của quốc gia ven biển (pháp luật quốc gia) và các quy phạm của luật biển quốc tế được quy định trong Công ước về luật biển 1982. Tất nhiên, cùng với việc thông qua phân loại các vùng biển thì các vấn đề về eo biển, kênh, nước quần đảo, kể cả Bắc Cực và Nam Cực cũng đã chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong Công ước.

a. Nội thủy – Internal waters

Nội thủy là các vùng nước nằm phía trong đường cơ sở (baseline) dùng để tính chiều rộng lãnh hải được quy định tại khoản 1 và 2 Điều 8 Công ước về luật biển 1982. Các vùng nước phía trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải bao gồm các vịnh, cửa sông và cảng đậu tàu thuyền… Các vùng nước lịch sử hoặc vịnh lịch sử cũng có quy chế pháp lý như vùng nội thủy mặc dù hiện nay trong luật biển quốc tế còn thiếu quy định cụ thể về vùng nước lịch sử, vịnh lịch sử. Ví dụ, các vùng nước hoặc vịnh lịch sử: Phangi (Mỹ), Hớtxơn (Canada), Bơríttơn (Anh); vịnh Pêtơrô, Bán đảo Côla, biển Adốp và biển Trắng của Nga; vùng nước lịch sử, như vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia (hai nước đã ký kết ngày 07/7/1982).

Nội thủy là lãnh thổ của quốc gia ven biển, thuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ của quốc gia đó. Chế độ pháp lý chủ yếu do luật quốc nội điều chỉnh. Quốc gia ven biển thực hiện quyền tài phán hành chính, dân sự và hình sự trong quan hệ với tàu thuyền của bất kỳ quốc gia nào qua lại. Tàu thuyền quân sự ra vào phải được phép hoặc theo lời mời của quốc gia ven biển. Tàu thuyền nước ngoài trong vùng nội thủy của quốc gia khác có nghĩa vụ chấp hành quy tắc hải vận, luật pháp và tập quán của quốc gia ven biển. Vùng nội thủy của quốc gia quần đảo được xác định tại Điều 47 Công ước về luật biển 1982.

b. Lãnh hải – Territorial sea

Lãnh hải là vùng biển nằm giữa vùng nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển. Lãnh hải thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia ven biển với chiều rộng không được vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Theo quy định tại Điều 3, Công ước về luật biển 1982 thì mỗi quốc gia có quyền ấn định chiều rộng của lãnh hải đến một giới hạn không quá 12 hải lý từ đường cơ sở được xác định phù hợp với Công ước này. Có hai cách xác định đường cơ sở:

Một là đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải, được tính theo ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển, thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn được quốc gia ven biển chính thức công nhận (Điều 5 Công ước về luật biển 1982);

Hai là đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải, được dùng cho bờ biển lồi lõm, khúc khuỷu, quanh co và cho quốc gia quần đảo (Điều 7 Công ước về luật biển 1982). Một số quốc gia kết hợp đường cơ sở thẳng và đường cơ sở thông thường để tính chiều rộng lãnh hải (tức là kết hợp Điều 5 và Điều 7 của Công ước về luật biển 1982).

Đối với vùng lãnh hải, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ (Điều 2 Công ước về luật biển 1982), ban hành các quy định cho thủy vận, với mục đích đảm bảo an ninh, các phương tiện và trang thiết bị vận tải thủy, bảo vệ tài nguyên sinh vật và phòng ngừa ô nhiễm, quy định khu vực cấm tàu thuyền nước ngoài (khoản 3, Điều 25 Công ước về luật biển 1982).

Theo Điều 18 và 19 Công ước về luật biển 1982 thì qua lại hòa bình (qua lại vô hại – right of innocent passage) được hiểu là tàu thuyền nước ngoài chạy qua không rẽ vào vùng nội thủy, hoặc đi qua vùng nội thủy, hoặc đi từ vùng nội thủy ra biển cả (Điều 18 Công ước về luật biển 1982). Như vậy, đi lại hòa bình có nghĩa là không vi phạm các quy định và an ninh của quốc gia ven biển (Điều 19 Công ước về luật biển 1982) và chấp hành luật lệ của quốc gia ven biển.

Theo Điều 19 Công ước về luật biển 1982, các quốc gia có quyền đi qua lãnh hải của quốc gia ven biển không phải xin phép trước nếu họ không có các hoạt động:

Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ven biển;

Luyện tập, diễn tập với bất kỳ loại vũ khí nào;

Thu thập tin tức tình báo gây thiệt hại cho quốc gia ven biển;

Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc gia ven biển;

Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện quân sự;

Xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái quy định của quốc gia ven biển;

Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng;

Đánh bắt hải sản;

Nghiên cứu, đo đạc;

Làm rối loạn hoạt động giao thông liên lạc;

Các hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

Trong vùng lãnh hải, quốc gia ven biển thực hiện các quyền:

Một là, quyền tài phán hình sự đối với tàu thuyền nước ngoài khi có vụ việc phạm tội trên tàu thuyền nước ngoài mà hệ quả của vụ việc đó tác động đến quốc gia ven biển; hoặc tính chất của nó ảnh hưởng đến sự ổn định của quốc gia ven biển; hoặc gây mất trật tự vùng lãnh hải; nếu trưởng tàu thuyền, đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có đề nghị chính quyền địa phương giúp đỡ (Điều 27 Công ước về luật biển 1982); và nhằm ngăn chặn buôn bán trái phép ma túy;

Hai là, quyền tài phán dân sự không thực hiện với tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải nhưng có thể áp dụng các biện pháp hình phạt hoặc bắt giữ tại điểm đậu trong lãnh hải, hoặc đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy; có quyền đòi bồi thường do tàu thuyền nước ngoài gây ra trong thời gian khi đi qua lãnh hải (làm hư hại các phương tiện hàng hải, ống dẫn ngầm, hệ thống lưới đánh bắt cá vv…;

Ba là, tàu quân sự nước ngoài khi đi qua lãnh hải, ở trong lãnh hải hoặc trong nội thủy có quyền bất khả xâm phạm theo quy định của luật quốc tế nhưng không đe dọa đến an ninh quốc gia ven biển. Tàu thuyền quân sự nước ngoài nếu không chấp hành luật lệ của quốc gia ven biển sẽ bị buộc phải rời khỏi lãnh hải (Điều 30 Công ước về luật biển 1982).

c. Vùng tiếp giáp – Contiguous zone

Vùng tiếp giáp là vùng biển nằm bên ngoài liền kề với lãnh hải, rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở (Điều 33 Công ước về luật biển 1982).

 Quốc gia ven biển có quyền kiểm tra để phòng ngừa vi phạm các luật về hải quan, thuế, y tế, nhập cư và trừng phạt các hành vi vi phạm các quy định trên lãnh thổ hay trong lãnh của mình (Điều 33 Công ước về luật biển 1982).

Đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ ở đáy biển thuộc vùng tiếp giáp lãnh hải (Điều 303 Công ước về luật biển 1982), nếu không được phép của quốc gia ven biển, mọi sự trục vớt các hiện vật này đều bị coi là vi phạm xảy ra trên lãnh hải hoặc trong lãnh hải của quốc gia đó và quốc gia đó có quyền trừng trị. Khác với vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp không thuộc lãnh thổ và không thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển. Quốc gia ven biển thực hiện quyền tài phán hạn chế hơn.

d. Vùng đặc quyền kinh tế – Exclusive economic zone

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm bên ngoài lãnh hải, cùng với lãnh hải vùng đặc quyền kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Vùng đặc quyền kinh tế không thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, có quy chế pháp lý riêng. Các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, cũng như các quyền và tự do của các quốc gia khác được điều chỉnh phù hợp với Điều 55 Công ước về luật biển 1982. Quốc gia ven biển thực hiện quyền chủ quyền với mục đích thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tài nguyên sinh vật biển; lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trình khác v.v… (Điều 56 Công ước về luật biển 1982).

Trong vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia khác có các quyền tự do sau đây (khoản 1, Điều 58 Công ước về luật biển 1982):

1) Tự do hàng hải;

2) Tự do hàng không;

3) Tự do lắp đặt dây cáp ống dẫn ngầm (khi đặt đường ống dẫn ngầm phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển);

4) Được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác phù hợp với luật định và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này, phù hợp với các quy định khác của Công ước.

Trong khu vực Biển Đông, vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia lân cận lại trùm lẫn lên nhau. Phương án phân chia tốt nhất vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa tại Biển Đông là theo đường trung tuyến. Tuy nhiên, các quốc gia trong vùng đều không áp dụng phương án đường trung tuyến. Mỗi quốc gia đều có những tuyên bố riêng biệt về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nên dẫn đến phát sinh tranh chấp.

e. Biển cả và chế độ pháp lý của biển cả (high sea)

Biển cả là toàn bộ các phần biển nằm ngoài các vùng nội thủy, lãnh hải, đặc quyền kinh tế và ngoài vùng nước quần đảo của các quốc gia quần đảo thuộc quyền tự do hàng hải của tất cả các quốc gia phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật quốc tế (Điều 86 Công ước về luật biển 1982).

Chế độ pháp lý biển cả quy định đối với tàu thuyền mọi quốc gia khi hoạt động ngoài biển cả phải có cờ quốc gia, tuân thủ nguyên tắc tự do biển cả và có trách nhiệm tôn trọng quyền lợi hợp pháp của các quốc gia khác (Điều 87 Công ước về luật biển 1982). Ngoài quốc gia mình, các tàu thuyền nước ngoài, kể cả tàu thuyền quân sự ở biển cả đều có quyền bất khả xâm phạm, các quốc gia khác không có quyền tài phán. Cấm các quốc gia khác có biện pháp cưỡng ép hoặc hành động bạo lực. Mọi tàu thuyền đều có các đặc quyền và ưu đãi đặc biệt. Tất cả các quốc gia có quyền hợp tác với nhau, bằng mọi khả năng của mình, để trấn áp cướp biển trên biển cả hay ở bất kỳ nơi nào khác không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào (Điều 100 Công ước về luật biển 1982).

Ngoài ra, hoạt động của các quốc gia ở biển quốc tế còn được điều chỉnh bởi một số điều ước quốc tế song phương quan trọng khác, ví dụ như Thỏa thuận giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ký kết ngày 25/5/1972 về phòng ngừa sự va chạm ở biển cả và khoảng không trên nó, các tàu thuyền có thể quan sát hoặc giám sát lẫn nhau, nhưng không được làm phiền đến hoạt động hoặc gây nguy hiểm cho nhau (khoản 4, Điều 3 của Thỏa thuận); hoặc điều ước quốc tế tương tự giữa Liên Xô và Anh đã được ký kết năm 1986.

Các quốc gia không có vùng biển có quyền tiếp cận biển cả bằng cách đi transit qua lãnh thổ của quốc gia ven biển (Điều 124 đến Điều 132 Công ước về luật biển 1982).

Vùng di sản chung gồm đáy biển, lòng đất đáy biển và tài nguyên ở đó không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, mà là di sản chung của nhân loại. Việc khai thác và sử dụng vì mục đích hòa bình cho con người phải tuân theo pháp luật và tập quán quốc tế, do cơ quan quốc tế có thẩm quyền quản lý chung (Điều 137 Công ước về luật biển 1982)

f. Thềm lục địa (Continental shelf) và quy chế pháp lý thềm lục địa

Theo Công ước Geneva về luật biển năm 1958, thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tiếp giáp với bờ biển, các hải đảo nằm ngoài lãnh hải đến độ sâu 200m hoặc sâu hơn nữa tới mức độ cho phép khai thác các tài nguyên thiên nhiên ở đó.

Thềm lục địa, theo quy định của Công ước về luật biển 1982, là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở 200 hải lý (Điều 76). Nếu thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình và báo cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc để xem xét và đưa ra khuyến nghị và có nghĩa vụ đóng góp khi khai thác (Điều 76 và Phụ lục II Công ước về luật biển 1982).

Theo đó, Điều 76 Công ước về luật biển 1982 quy định thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở 200 hải lý nếu như rìa ngoài của bờ lục địa ở khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa kéo dài tự nhiên lớn hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa theo sự kéo dài tự nhiên đó nhưng cũng không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách không quá 100 hải lý.

Trong thềm lục địa, các quốc gia ven biển có quyền thăm dò, khai thác, tài nguyên thiên nhiên thềm lục địa; lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trình khác (Điều 77 Công ước về luật biển 1982). Các quốc gia khác muốn khai thác ở thềm lục địa phải được sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tất cả các quốc gia đều có quyền lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm (Điều 79 Công ước về luật biển 1982).

g. Quy chế pháp lý eo biển và kênh quốc tế

Kênh quốc tế là công trình thủy lợi nối biển với đại dương và được sử dụng làm vận tải quốc tế, ví dụ như các kênh đào Xuy-ê, Panama và Kinxki.

Kênh đào Xuy-ê nối Địa Trung Hải và Hồng Hải là đường giao thông trọng yếu giữa Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Kênh đào Xuy-ê khởi công xây dựng ngày 25/5/1859 và hoàn thành vào ngày 17/11/1869. Năm 1882, Anh xâm chiếm Ai Cập và khống chế kênh đào Xuy-ê. Năm 1956, người Anh rút khỏi Ai Cập sau 74 năm chiếm đóng. Tổng thống Ai Cập đã công bố quốc hữu hóa kênh đào Xuy-ê ngày 26/7/1956. Công ước về đảm bảo tự do cho kênh đào Xuy-ê được ký kết năm 1888, nội dung Công ước đã quy định kênh đào Xuy-ê được tự do sử dụng 24/24h cho tất cả các quốc gia. Chính phủ Ai Cập có trách nhiệm áp dụng các biện pháp để đảm bảo tự do thủy vận trên kênh đào này.

Kênh đào Panama. Văn bản pháp lý về đào kênh Panama được điều chỉnh bằng các điều ước Quốc tế ký kết giữa Mỹ và Panama vào các năm 1901 và năm 1903. Kênh Panama được đào từ năm 1904 và hoàn thành vào tháng 8/1914 (sau 10 năm). Kênh đào Panama có quy chế pháp lý quy định tự do cho tàu thuyền quân sự và phi quân sự. Hoa Kỳ đã quản lý kênh đào Panama đến năm 1977, sau đó Mỹ và Panama ký các điều ước về kênh Panama, về sự trung lập vĩnh viễn và khai thác kênh đào này. Các điều ước này thay thế cho các điều ước trước đó và có hiệu lực đến ngày 31/12/1999. Từ ngày 01/01/2000, kênh đào Panama và các công trình thủy lợi đã chuyển chủ quyền cho chính phủ Panama.

Kênh Kinxki. Quy chế pháp lý về kênh Kinxki được quy định bằng các văn bản pháp luật của Đức và các Thỏa thuận giữa Đức với các các quốc gia khác. Theo đó, tàu thuyền phi quân sự của các quốc gia có quyền đi lại 24/24h. Đối với tàu quân sự nước ngoài thì đi qua kênh cần xin phép, cắm cờ quốc gia của mình và tuân thủ các quy định hàng hải.

Eo biển quốc tế là phần thu hẹp tự nhiên của biển mà tàu thuyền và phương tiện bay qua được điều chỉnh bằng luật quốc tế (Công ước về luật biển 1982); hoặc eo biển quốc tế là các đường biển tự nhiên nối các biển, các đại dương với nhau và được sử dụng cho giao thông hàng hải quốc tế. Eo biển quốc tế là đường ngắn nhất không chỉ nối các lục địa và các nước với nhau mà còn nối giữa các miền của một nước. Chế độ tự do qua lại này không động chạm tới các quy chế khác của các vùng nước trong eo biển đó (lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế). Công ước về luật biển 1982 cũng có quy định riêng về chế độ qua lại vô hại đối với một số eo biển quốc tế.

Eo biển quốc tế có 3 đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là, được tạo thành giữa một bên là đảo, một bên là lãnh thổ trên đất liền của một nước nếu như phía bên kia của đảo cũng là đường hàng hải quốc tế thuận tiện để ra biển cả; Hai là, nằm giữa một bên là biển cả và một bên là lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế của nước khác; và Ba là, có nhiều eo biển quốc tế là đường dẫn tới biển kín (eo biển Ban Tích, eo biển Hắc Hải…) có quy chế pháp lý riêng được quy định bằng các điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế[18].

4. Giải quyết các tranh chấp trên biển.

Nội dung Điều 279 Công ước về luật biển 1982 đã quy định nghĩa vụ của các quốc gia cần giải quyết các tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, theo đó các quốc gia tranh chấp, trước hết cần ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng hòa bình theo quy định tại khoản 3, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc; hoặc cần phải tìm các giải pháp, các phương pháp đã được quy định tại khoản 1, Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc, sau đó sẽ áp dụng Công ước về luật biển 1982. Nội dung các Điều từ 279 đến Điều 299 (Phần XV) của Công ước về luật biển 1982 đã quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp, trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp, cũng như cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Hiện nay, các quốc gia đều căn cứ vào Công ước về luật biển 1982 để giải quyết bất đồng và tranh chấp về các vùng biển quốc gia cũng như các báo cáo về xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của các quốc gia (Điều 76 Công ước về luật biển 1982).

Như vậy, để giải quyết các tranh chấp trên biển, các quốc gia cần dựa vào cơ sở pháp lý là luật pháp quốc tế (các điều khoản và thủ tục); thông qua cơ chế Liên hợp quốc, Tòa án quốc tế, Tòa án luật biển quốc tế, Tòa trọng tài quốc tế hoặc tiến hành bằng cách đàm phán song phương và đa phương.

Nội dung giải quyết tranh chấp thông qua các cơ chế cụ thể nói trên như sau:

a. Liên hợp quốc

Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là hai cơ quan quan trọng nhất của Liên hợp quốc, có vai trò chính trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế nói chung và tranh chấp về biển nói riêng. Với tư cách là các cơ quan tối cao của Liên hợp quốc, Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có quyền thảo luận mọi vấn đề liên quan đến việc bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế, đưa ra các nghị quyết có tính bắt buộc hoặc khuyến nghị về bất cứ vấn đề gì cho các quốc gia hữu quan trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế.

b. Tòa án quốc tế về luật biển (TALB-ITLOS)

Tòa án quốc tế về luật biển được thành lập và hoạt động theo quy định của Công ước về luật biển 1982 và Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển. Tòa gồm 21 thẩm phán, thủ tục giải quyết giống như Tòa án quốc tế. Khác với Tòa án quốc tế và Tòa án EU, Tòa án quốc tế về luật biển không có thẩm quyền giải thích luật với ý nghĩa của một kết luận tư vấn. Ví dụ, trong vụ tranh chấp song phương giữa Singaporevà Malaysia về lãnh hải tại phiên tòa ngày 09/10/2003, Malaysia lập luận rằng Singapoređã vi phạm lãnh hải và chiếm đất ở biển, Malaysia đã đệ trình vấn đề này lên Tòa án quốc tế về luật biển tại Hamburg (Đức) và yêu cầu cơ quan này lệnh cho Singaporephải dừng ngay mọi cuộc khai thác xung quanh Tuas và Pulau Tekong. 21 thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển đã phán quyết Singaporetiếp tục việc khai thác xung quanh Tuas và Pulau Tekong; hoặc các vụ tranh chấp khác như: vụ tranh chấp quần đảo Falmas giữa Mỹ và Hà Lan năm 1928; vụ tranh chấp các đảo Minquiers và Écrehous giữa Anh và Pháp năm 1953; vụ tranh chấp hai nhóm đảo giữa Indonesia và Malaysia năm 2002.

Các bên tranh chấp cũng không phải bắt buộc lựa chọn Tòa án quốc tế về luật biển để giải quyết tranh chấp, đôi khi vụ việc tranh chấp lãnh thổ trên biển cũng được các bên đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Ví dụ năm 2003, Malaysia và Singaporecùng yêu cầu ICJ xử lý tranh chấp lãnh thổ ở Pedra Brance (thường được biết đến với tên gọi là Pulau Batu Puteh ở Malaysia), Middle Rocks và South Ledge. Vụ việc đã được phán quyết vào tháng 5/2008 mà theo đó chủ quyền đối với đảo Pedra Brance đã được trao cho Singapore,Middle Rock thuộc về Malaysia, còn South Ledge được chia tách cho cả hai nước căn cứ theo lãnh hải. Cả Malaysia và Singapoređều chấp nhận phán quyết của ICJ[19]

c. Tòa trọng tài về luật biển

Tòa trọng tài về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước về luật biển 1982. Tòa trọng tài về luật biển giải quyết các tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng Công ước có liên quan đến các vấn đề:

Một là, quyền chủ quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển; Hai là, nghiên cứu khoa học biển; và Ba là, các quy định của Công ước về đánh bắt hải sản.

Trọng tài viên của Tòa trọng tài về luật biển do các quốc gia thành viên Công ước về luật biển 1982 chỉ định (mỗi quốc gia có quyền chỉ định 4 trọng tài, Tổng thư ký Liên hợp quốc lập danh sách trọng tài và khi có tranh chấp một Hội đồng trọng tài được thành lập từ danh sách đó).

Hội đồng trọng tài thường có 5 thành viên: Mỗi bên tranh chấp chỉ định một trọng tài; 3 trọng tài còn lại do các bên tranh chấp thỏa thuận; Chủ tịch Hội đồng trọng tài được chọn một trong 3 trọng tài đó. Hội đồng trọng tài phán quyết theo đa số, nếu trường hợp số phiếu bằng nhau thì phiếu của Chủ tịch Hội đồng trọng tài quyết định. Phán quyết của Hội đồng trọng tài là chung thẩm, không kháng án, kháng cáo, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

e. Tòa trọng tài đặc biệt về luật biển

Tòa trọng tài đặc biệt về luật biển được thành lập và hoạt động theo Phụ lục VIII Công ước về luật biển 1982. Để thành lập Tòa trọng tài đặc biệt về luật biển phải kể đến sự đóng góp to lớn của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền chuyên môn, như: IMO; FAO; Chương trình Liên hợp quốc về môi trường (UNEP) và Ủy ban hải dương học liên chính phủ. Các tổ chức quốc tế này lập Danh sách các chuyên gia về từng lĩnh vực trên cơ sở tiến cử của các quốc gia thành viên Công ước về luật biển 1982.

Tòa trọng tài đặc biệt về luật biển giải quyết các tranh chấp theo từng lĩnh vực riêng, cụ thể như: hàng hải; nghiên cứu khoa học biển; đánh bắt hải sản, bảo vệ môi trường biển.

Như vậy, việc phân loại pháp lý các vùng biển đã ghi nhận cụ thể quyền của các quốc gia đối với các vùng biển và quy chế pháp lý đối với từng vùng. Cộng đồng quốc tế đã đạt được mục đích là xây dựng được văn bản thành văn quy định về các hoạt động của các quốc gia ở thế giới đại dương.

II. PHÂN ĐỊNH CÁC VÙNG BIỂN TRÊN BIỂN ĐÔNG

Đây là lĩnh vực đã được nhiều nhà khoa học trong nước nghiên cứu[20]. Theo các điều khoản của luật biển quốc tế, tất cả các quốc gia ven biển đều có quyền hoạch định các vùng biển của mình như vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc hoạch định các vùng biển vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của các quốc gia ven biển, đặc biệt là đối với các quốc gia thành viên của Công ước về luật biển 1982. Việc hoạch định các vùng biển còn nhằm tạo ra sự ổn định và trật tự trong việc sử dụng và quản lý biển. Trong trường hợp các quốc gia ven biển có vùng biển không có liên quan đến lợi ích của các quốc gia khác thì ranh giới của các vùng biển này do các quốc gia ven biển tự xác định phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như với thực tiễn quốc tế. Trong trường hợp vùng biển của quốc gia ven biển lại nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng lấn với vùng biển của các quốc gia khác thì việc hoạch định ranh giới các vùng biển đó cần phải đàm phán và thỏa thuận với các quốc gia có liên quan.

Như vậy, việc phân định biển có thể được hiểu là quá trình hoạch định đường ranh giới phân chia các vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan, tức là vấn đề phân định biển được đặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền hoặc đối diện nhau và có danh nghĩa pháp lý các vùng biển chồng lấn nhau.

Phân định biển nhằm mục đích xác định rõ đường biên giới biển, phân chia (hoặc đường phân chia) vùng biển thuộc chủ quyền hoặc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển hoặc quốc gia quần đảo (gọi chung là quốc gia ven biển).

Phân định biển là một vấn đề quan trọng nhằm đảm bảo an ninh quốc gia nói riêng và an ninh quốc tế nói chung, đảm bảo việc khai thác và sử dụng biển vì sự trường tồn của con người. Việc phân định biển không chỉ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định biên giới lãnh thổ quốc gia trên biển đối với mỗi quốc gia có biển, mà đây còn là một vấn đề có tính nhạy cảm vì liên quan trực tiếp đến chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của các quốc gia có liên quan. Do đó, để giảm thiểu xung đột lợi ích quốc gia, việc phân định biển phải được tiến hành một cách hợp lý, tôn trọng và tuân thủ hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như những chứng cứ pháp lý – lịch sử đã được ghi nhận và tồn tại trong lịch sử phát triển dân tộc ở mỗi quốc gia.

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các quốc gia ven biển dựa trên cơ sở luật quốc tế và áp dụng các phương pháp khác nhau để tiến hành đàm phán nhằm tìm ra giải pháp phân định biển. Chẳng hạn như:

Một là, áp dụng phương pháp đường trung tuyến cách đều. Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Theo đó, đường ranh giới để phân định biển chính là đường mà tất cả các điểm nằm trên đường đó đều cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quốc gia tương ứng.Phương pháp này thường sử dụng trong phân định các vùng biển có bờ biển bằng phẳng, ít lồi lõm, ít khúc khuỷu hoặc không có sự hiện diện của các đảo…

Hai là, áp dụng phương pháp công bằng. Đây là phương pháp mà khi thực hiện phân định biển các quốc gia hữu quan cần phải xem xét, cân nhắc và chú ý tới các yếu tố như: hình dạng bờ biển, các đảo, vấn đề về hàng hải… nhằm tìm ra được các giải pháp công bằng mà các bên có thể chấp nhận. Muốn đạt được kết quả công bằng trong phân định biển cần phải áp dụng các quy định của Công ước về luật biển năm 1982 một cách khoa học, vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, phương pháp phân định cho phù hợp với thực tế và các hoàn cảnh hữu quan của khu vực phân định.

 Các phương pháp khác: Phương pháp phần kéo dài tự nhiên của biên giới trên bộ:Trên cơ sở đường biên giới trên bộ kéo dài tự nhiên ra biển để phân định vùng biển đang tranh chấp. Đến nay, mới chỉ có 3 trường hợp áp dụng phương pháp này là Thoả thuận giữa Brazil và Uruguay (ngày 21/6/1972); Thoả thuận giữa Gambia và Sênêgan (ngày 04/6/1974); Thoả thuận giữa Colombia và Ecuador (ngày 23/8/1975). Phương pháp đường vuông góc đối với hướng đi chung của bờ biển: Trên cơ sở hướng đi chung của bờ biển kẻ đường vuông góc để phân định vùng biển đang tranh chấp (phân định thềm lục địa giữa Guinea và Guiné-Bissau). Phương pháp đường kinh tuyến và vĩ tuyến: Đây là phương pháp dựa vào đường kinh tuyến và vĩ tuyến để phân định các vùng biển liên quan giữa các bên. Áp dụng trong các trường hợp sau: Tuyên bố Santiago giữa Chilê, Pêru và Ecuador (ngày 18/8/1952); Hiệp định giữa Colombia và Pêru (ngày 23/8/1975); Hiệp định giữa Pháp và Venezuela (ngày 17/6/1980)…

Công ước về luật biển 1982 đã quy định cụ thể và rõ ràng về khái niệm, quy chế cũng như phạm vi các vùng biển. Các quốc gia ven biển không chỉ có lãnh hải rộng 12 hải lý, mà còn có những vùng biển khác như vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối đa tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Mặc dù, các quy định trong Công ước về luật biển 1982 đã tạo điều kiện tối đa để các quốc gia có biển mở rộng một cách đáng kể chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình nhưng thực tiễn còn nhiều các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các quốc gia có bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau. Đó cũng chính là nguyên nhân làm phát sinh xung đột[21], có nguy cơ đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế khu vực (ví dụ như ASEAN), cũng như trên toàn thế giới (ví dụ như châu Á – Thái Bình Dương).

1. Về phân định lãnh hải

Theo Công ước về luật biển 1982, chiều rộng của lãnh hải được định chế không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Tuy nhiên, khi phân định ranh giới lãnh hải có thể xuất hiện các “yếu tố” có thể ảnh hưởng đến phân định ranh giới lãnh hải. Ví dụ như sự hiện diện của các đảo và các công trình nhân tạo trên biển v.v… Công ước Geneva về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (khoản 1, Điều 12) và Công ước về luật biển 1982 (Điều 15) đã quy định về việc hoạch định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau: “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác”.

Quy định trên đã ghi nhận phương pháp đường trung tuyến cách đều, cũng như mở ra khả năng để các quốc gia liên quan có thể thoả thuận về một giải pháp phân định khác dựa trên cơ sở có tính đến các yếu tố như danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, việc quy định cụ thể về danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt chưa được hai Công ước nói trên quy định cụ thể dẫn đến thiếu cơ sở pháp lý cụ thể để các quốc gia có liên quan tiến hành đàm phán, thoả thuận về việc thừa nhận có sự hiện diện của danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến giải pháp phân định ranh giới lãnh hải. Thực tiễn quốc tế về phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp thường gặp các “hoàn cảnh đặc biệt” sau đây: Hình dạng bất thường của bờ biển; sự hiện diện của các đảo; tuyến đường và luồng hàng hải…

Công ước về luật biển 1982 không có qui định riêng biệt về phân định vùng nội thuỷ và vùng  tiếp giáp lãnh hải. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, khi phân định vùng nội thuỷ, các quốc gia có biển thường áp dụng tương tự như các định chế được quy định tại Điều 15 Công ước về luật biển 1982; còn việc phân định vùng tiếp giáp lãnh hải thì phức tạp hơn vì các điều khoản quy định về vùng biển này nằm chung trong Phần II “Lãnh hải và vùng tiếp giáp” của Công ước về luật biển 1982. Việc đặt tên mục của Phần II, Công ước về luật biển 1982 là “Lãnh hải và vùng tiếp giáp” có thể là một quy định “mở” để các quốc gia liên quan có thể áp dụng những quy  định về phân định lãnh hải trong Điều 15 Công ước về luật biển 1982 cho việc phân định vùng tiếp giáp lãnh hải.

2. Về phân định vùng đặc quyền kinh tế

Thực tiễn quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia không thiết lập vùng tiếp giáp lãnh hải, mà chỉ thiết lập vùng đặc quyền kinh tế; bởi vì, vùng tiếp giáp lãnh hải là một bộ phận đặc thù của vùng đặc quyền kinh tế; là hai vùng biển thuộc quyền chủ quyển của quốc gia ven biển. Quy chế pháp lý vùng đặc quyền kinh tế cũng điều chỉnh các hoạt động ở vùng tiếp giáp lãnh hải. Đây là hai vùng biển nằm bên ngoài đường biên giới quốc gia trên biển nên trong trường hợp xuất hiện nhu cầu về phân định ranh giới giữa vùng tiếp giáp lãnh hải, các quốc gia có thể áp dụng (hay viện dẫn) Điều 74 “Hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau” Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982. Điều 74 Công ước về luật biển 1982 quy định như sau:

Một là, việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng (khoản 1);

Hai là, nếu không đi tới được một thỏa thuận trong một thời gian hợp lý thì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV (khoản 2);

Ba là, trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng (khoản 3);

Bốn là, khi một điều ước đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữu quan, các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế được giải quyết theo đúng điều ước đó (khoản 4).

3. Về phân định thềm lục địa

 Phân định thềm lục địa được quy định trong Điều 83 của Công ước về luật biển 1982. Cụ thể như sau:

Một là, việc hoạch định ranh giới thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng luật pháp quốc tế như đã được nêu ở Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế để đi tới một giải pháp công bằng (khoản 1);

Hai là, nếu không đi tới một thỏa thuận trong một thời hạn hợp lý thì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV Công ước (khoản 2);

Ba là, trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng;

Bốn là, khi một điều ước đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữu quan, các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới thềm lục địa được thực hiện theo đúng điều ước đó.

Như vậy, việc hoạch định ranh giới thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được ưu tiên thực hiện bằng con đường thỏa thuận, chỉ khi thoả thuận không thành thì các bên mới sử dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình đã được định chế trong khoản 3, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc, các bên được quyền chọn các biện pháp hòa bình thích hợp. Ngoài ra, các bên có thể lựa chọn một hay nhiều thiết chế sau đây:

- Tòa án quốc tế về luật biển, thành lập theo Phụ lục VI;

- Tòa án công lý quốc tế;

- Tòa án Trọng tài, thành lập theo Phụ lục VII;

- Tòa án đặc biệt, theo Phụ lục VIII.

  Khác với phân định lãnh hải, Công ước về luật biển 1982 đã không đưa ra một phương pháp cụ thể để phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế nhưng lại nhấn mạnh đến 2 nguyên tắc: “dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế” và “giải pháp công bằng”. Về nguyên tắc dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước về luật biển 1982 đã mở ra khả năng áp dụng tất cả các nguồn của luật pháp quốc tế, kể cả tập quán quốc tế cũng như các án lệ quốc tế và thực tiễn đã được phân định giữa các quốc gia. Còn về giải pháp công bằng có thể có ý nghĩa nhiều hơn về mặt định tính vì đây là một quy định mang tính hàn lâm (hoặc định hướng).

Trong mỗi trường hợp cụ thể, khi phân định thềm lục địa dựa trên cơ sở nguyên tắc giải pháp công bằng sẽ được coi là đạt kết quả sau khi các bên hữu quan chấp nhận được các yếu tố liên quan trong khu vực phân định và áp dụng linh hoạt các quy định về phân định. Ví dụ như các yếu tố về: đặc điểm địa lý, địa mạo, địa chất; sự hiện diện của mỏ tài nguyên; tỷ lệ giữa chiều dài bờ biển và diện tích thềm lục địa; sự hiện diện của đảo; điểm mút biên giới đất liền; sự hiện diện của các đường đường cấp phép thăm dò, khai thác dầu khí hay các tài nguyên khác; yếu tố quốc gia bất lợi về địa lý; lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh; truyền thống đánh bắt cá; giao thông thủy vận; yếu tố văn hoá; và các quyền lợi chính đáng khác.

Đối với các án lệ quốc tế trong lĩnh vực phân định vùng thềm lục địa, cần ưu tiên xem xét đến các đặc trưng về địa lý mà có ảnh hưởng nhiều đến giải pháp phân định. Ví dụ như hình thái bờ biển; sự hiện diện của đảo; và tỷ lệ giữa chiều dài bờ biển và diện tích thềm lục địa.

Để đảm bảo tôn trọng việc xác định ranh giới thềm lục địa lớn hơn 200 hải lý, một Ủy ban ranh giới thềm lục địa được lập ra trong khuôn khổ Công ước về luật biển 1982. Ủy ban ranh giới thềm lục địa gồm 21 ủy viên là chuyên gia về địa chất, địa vật lý hay địa thủy văn do các quốc gia thành viên tham gia công ước lựa chọn trong số công dân của mình, đảm bảo một sự đại diện công bằng về địa lý. Các ủy viên này thi hành các chức trách của mình với tư cách cá nhân. Việc bầu cử các ủy viên của Ủy ban được tiến hành trong hội nghị của các quốc gia thành viên do Tổng thư ký triệu tập tại trụ sở của Liên hợp quốc. Số đại biểu cần thiết là 2/3 số quốc gia thành viên. Những ứng cử nào thu được 2/3 số phiếu của các đại biểu có mặt và bỏ phiếu thì trúng cử ủy viên của Ủy ban. Mỗi vùng địa lý được tuyển chọn ít nhất 3 ủy viên. Các ủy viên của Ủy ban được bầu với một nhiệm kỳ là 5 năm và họ có thể được bầu lại.

Ủy ban ranh giới thềm lục địa đã công bố danh sách 21 thành viên trong nhiệm kỳ đầu tiên (ngày 13/3/1997). Đến nay, Ủy ban đã tổ chức 3 kỳ bầu cử với các nhiệm kỳ: 1997 – 2002; 2002 – 2007; và 2007 – 2012. Ủy ban ranh giới thềm lục địa thường họp 2 lần/năm (mùa xuân và mùa thu) tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York. Việc triệu tập các phiên họp được phê duyệt bởi Đại hội đồng Liên hợp quốc trong các nghị quyết hàng năm của mình về biển và luật biển.

Ủy ban ranh giới thềm lục địa có chức năng xem xét các số liệu và các thông tin khác do các quốc gia ven biển gửi đến có liên quan đến ranh giới ngoài thềm lục địa khi thềm lục địa này mở rộng quá 200 hải lý, đưa ra các kiến nghị theo đúng điều 76 và Giác thư thỏa thuận (Memorandum d’accord) đã được Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc thông qua ngày 29/8/1980. Bên cạch đó, Ủy ban cũng có chức năng cung cấp các ý kiến về khoa học kỹ thuật trong việc xây dựng các số liệu cho việc xác định ranh giới ngoài thềm lục địa theo yêu cầu của quốc gia ven biển liên quan.

Khi cần thiết, Ủy ban ranh giới thềm lục địa có thể hợp tác với Ủy ban hải dương học liên chính phủ của UNESCO, Tổ chức thủy văn quốc tế và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền khác nhằm thu thập các số liệu khoa học và kỹ thuật có thể giúp cho Ủy  ban hoàn thành trách nhiệm.

Ủy ban ranh giới thềm lục địa hoạt động thông qua 2 tiểu ban, gồm 7 ủy viên được chỉ định 1 cách cân bằng theo yêu cầu của quốc gia ven biển. Khi xem xét các đơn yêu cầu của các quốc gia ven biển, tiểu ban sẽ gửi các kiến nghị của mình lên Ủy ban. Sau đó, Ủy ban chuẩn y các kiến nghị của Tiểu ban theo đa số 2/3 các ủy viên và bỏ phiếu. Các kiến nghị của Ủy ban được gửi bằng văn bản tới quốc gia ven biển đã đưa đơn yêu cầu cũng như cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

Theo quy định của Ủy ban, ngày 13/5/2009 các quốc gia tham gia Công ước trước ngày 13/5/1999 phải nộp Báo cáo quốc gia cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa. Nếu sau thời hạn 10 năm như quy định của Công ước về luật biển 1982 mà quốc gia ven biển không nộp báo cáo (Báo cáo đầy đủ hay sơ bộ) thì coi như quốc gia đó không có nhu cầu và từ bỏ quyền của mình đối với thềm lục địa vượt quá 200 hải lý.

Đến ngày 13/5/2009, đã có 50 Báo cáo quốc gia được chính thức đệ trình lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa. Ngoài ra, đã có 44 quốc gia nộp Báo cáo các thông tin sơ bộ về thềm lục địa của mình, đồng thời đăng ký trong thời gian nhất định sẽ hoàn thành Báo cáo để trình Ủy ban ranh giới thềm lục địa. Tính đến ngày 29/4/2011, đã có 56 Báo cáo chính thức được gửi đến Ủy ban ranh giới thềm lục địa.

Từ năm 2002 đến năm 2009, Việt Nam đã tiến hành xây dựng Báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa lớn hơn 200 hải lý gồm 3 khu vực là: khu vực phía Bắc, khu vực giữa và khu vực phía Nam (Báo cáo chung với Malaysia). Trong đó khu vực phía Bắc dựa trên cơ sở sự kéo dài của thềm lục địa Việt Nam về phía Đông, khu vực giữa và phía Nam là sự trải dài tự nhiên của thềm lục địa Đông Nam Việt Nam. Ngày 06/5/2009, Phái đoàn thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc đã phối hợp với Phái đoàn thường trực của Malaysia nộp Báo cáo chung Việt Nam – Malaysia. Ngày 07/5/2009, Phái đoàn Việt Nam đã nộp Báo cáo của Việt Nam khu vực phía Bắc, bảo đảm đúng thời hạn quy định là ngày 13/5/2009. Ngày 27/8/2009, Việt Nam và Malaysia đã phối hợp trình bày Báo cáo chung và ngày 28/8/2009 Việt Nam đã trình bày Báo cáo riêng khu vực phía Bắc cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa.

4. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải quyết phân định các vùng biển

a. Tình hình tranh chấp biên giới biển, đảo

Trước diễn biến tình hình thế giới hiện nay và đặc biệt là vấn đề về biển, đảo trong khu vực Biển Đông, Đảng ta đã xác định: “Tình hình Biển Đông còn nhiều diễn biến phức tạp. Việc giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển, bảo vệ vững chắc Trường Sa, Hoàng Sa cũng như các quyền lợi, chủ quyền của nước ta trên biển là một nhiệm vụ trọng yếu, là một trong những địa bàn chiến lược của quốc phòng, an ninh”.

Tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền hiện nay xuất phát từ những lí do cơ bản sau đây:

Một là, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn coi châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Đông Nam Á là một trọng điểm chiến lược. Thời gian gần đây chúng càng tăng cường lực lượng quân sự ở các nước trong khu vực, phối hợp tiến hành các cuộc tập trận hải quân song phương, đa phương với mật độ ngày càng tăng; triển khai và hoàn thành hệ thống thiết bị chiến trường, cầu cảng, kho tàng… đồng thời ra sức lôi kéo một số nước tạo thành liên minh quân sự để chống phá cách mạng nước ta;

Hai là, một số nước thể hiện ý đồ chiến lược, âm mưu “thôn tính Trường Sa, độc chiếm Biển Đông”. Họ ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuần tiễu, trinh sát thăm dò, khảo sát và khai thác tài nguyên, vi phạm quyền tài phán quốc gia của Việt Nam bằng các hình thức ngày càng tinh vi hơn.

Trong các vấn đề liên quan tới Biển Đông, Trung Quốc đã công bố bản đồ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình tại Biển Đông năm 2005, nơi xa nhất cách đường cơ sở của Trung Quốc hơn 900 hải lý, nơi gần bờ biển Việt Nam nhất chỉ cách bờ có 50 hải lý (khoảng 90km). Đây là một tuyên bố bất công bằng nhất, hoàn toàn trái ngược với các quy định của Công ước về luật biển 1982. Bên cạnh đó, việc giải quyết các vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông cũng gặp nhiều khó khăn và chưa có hướng giải quyết vì Trung Quốc áp dụng chính sách ba không, đó là: nói không với quốc tế hóa vấn đề Biển Đông; nói không với đối thoại đa phương; và nói không với bất kỳ cơ quan thứ ba nào can dự giải quyết vấn đề Biển Đông.

Việc Trung Quốc Tuyên bố về “đường yêu sách lưỡi bò” không chỉ gây lo ngại sâu sắc cho các nước trong khu vực Biển Đông, trực tiếp xâm phạm đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, mà còn vi phạm nguyên tắc tự do hải vận đối với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Ngoài ra, các nước có liên quan đến khu vực Biển Đông đều tăng cường lực lượng quân sự, củng cố vững chắc các vùng biển đảo đã chiếm đóng làm cho tình hình trong khu vực trở nên căng thẳng và phức tạp thêm.

Trong những năm tới, Đảng ta đã nhận định tình hình Biển Đông còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Trên hướng Biển Đông luôn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định và khả năng xuất hiện những động thái mới trong việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ; đặc biệt là tham vọng độc chiếm Biển Đông, thôn tính Trường Sa và giành giật “biên giới mềm” của một số nước lớn bằng cách tăng cường hoạt động quân sự, ngoại giao, leo thang về yêu sách chủ quyền. Các loại tội phạm, xâm phạm trái phép, buôn lậu ma túy, chất nổ… trên biển, đảo ngày càng gia tăng với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn.

Vì vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và quản lý tình hình an ninh biên giới biển, đảo hiện nay đang đặt ra nhiệm vụ mới nặng nề hơn cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc ta.

b. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết phân định các vùng biển

Vấn đề hoạch định đường biên giới biển và phân định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa với các quốc gia láng giềng là một vấn đề hết sức quan trọng và thiêng liêng vì nó liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia. Đồng thời đây cũng là một vấn đề hết sức mới mẻ, phức tạp và khó khăn. Một nước không thể áp đặt ý chí đơn phương của mình về biên giới biển cho một nước láng giềng khác trái với pháp luật và thực tiễn quốc tế. Việc vạch đường biên giới trên biển giữa các nước láng giềng đòi hỏi phải áp dụng chặt chẽ pháp luật, thực tiễn quốc tế trong một điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên cụ thể, mỗi nước phải bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia của mình nhưng đồng thời cũng phải tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác được pháp luật và thực tiễn quốc tế thừa nhận.

Tại Điều 7 Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam về lãnh hải, vùng tiến giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã khẳng định: “Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên”.

Trong Nghị quyết phê chuẩn Công ước về luật biển 1982 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 23/6/1994, đã nêu rõ:

“Chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác có liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về luật biển 1982…”

Như vậy, quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta đối với việc hoạch định phân chia các vùng biển trong vùng chồng lấn với các nước lánh giềng là: Thông qua thương lượng hòa bình, bình đẳng và trên cơ sở luật pháp quốc tế, thực tiễn của mỗi nước nhằm tìm ra một giải pháp công bằng cho các bên liên quan.

5. Phân định biển giữa Việt Nam với các quốc gia trong Biển Đông

Theo các định chế đã được ghi nhận tại Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, Việt Nam có toàn quyền xác định các vùng biển và thềm lục địa theo nội dung của Công ước. Ngoài ra, Việt Nam cũng có nghĩa vụ tiến hành phân định các vùng biển và thềm lục địa ở những khu vực chồng lấn với các nước láng giềng trong khu vực Biển Đông. Điều đó đã được khẳng định trong các văn bản sau đây: Luật Biên giới quốc gia năm 2003; Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ngày 12/11/1982; và Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Phê chuẩn Công ước về luật biển 1982. Nội dung các văn bản này đã nhấn mạnh rằng: “Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên”.

Việt Nam đã và đang tiến hành đàm phán giải quyết các vấn đề phân định các vùng biển và thềm lục địa với các nước trong khu vực. Đến nay, Việt Nam đã ký kết: Hiệp định về vùng nước lịch sử với Campuchia 07/7/1982; Bản thỏa thuận (Memorandum of Understanding) về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa với Malaysia 05/6/1992; Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan 09/8/1997; Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc 25/12/2000; Phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc 15/6/2004; Hiệp định thoả thuận đường ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia 26/6/2003.

a. Phân định biển giữa Việt Nam và Campuchia

Vùng biển Việt Nam – Campuchia nằm trong vịnh Thái Lan, là phần phía Tây của biển Đông, tạo thành một vùng lõm rộng trên bờ biển phía Nam của lục địa Đông Dương. Vùng biển Việt Nam – Campuchia là một biển nửa kín có diện tích khoảng 300.000km2, được giới hạn bởi bờ biển của bốn quốc gia: Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia. Vịnh thông ra Biển Đông, có chiều dài khoảng 450 hải lý và chiều rộng trung bình khoảng 208 hải lý. Vịnh có diện tích nhỏ và có khoảng 200 đảo chủ yếu tập trung vào phần phía Đông và gần bờ biển. Đó chính là yếu tố làm phức tạp thêm việc phân định ranh giới các vùng biển giữa Việt Nam và Campuchia cũng như việc phân định biển giữa một bên là Việt Nam – Campuchia với Thái Lan.

Phân định biển giữa Việt Nam và Campuchia là một việc làm phức tạp do hai nước có quan điểm khác nhau về đường biên giới biển; bên cạnh đó Campuchia muốn hoàn tất trước việc phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền với Việt Nam rồi sau đó mới đàm phán giải quyết biên giới trên biển.

Việt Nam và Campuchia đã ký kết Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa hai nước ngày 07/7/1982, trong đó đã thoả thuận lấy đường Brévié[22] được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia các đảo trong khu vực này và sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp… để hoạch định đường biên giới trên biển giữa hai nước. Đây là lần đầu tiên hai nước thừa nhận chủ quyền đối với các đảo giữa hai nước. Hiệp định đã nâng đường Brévié từ ranh giới quản lý hành chính và cảnh sát lên thành đường phân chia chủ quyền đảo giữa hai nước nhưng đồng thời cũng xác nhận giữa hai nước chưa có đường biên giới trên biển.

Như vậy, từ đầu thế kỷ XVIII cho đến trước năm 1939, toàn bộ các đảo giữa Việt Nam và Campuchia đều thuộc chủ quyền của Việt Nam (xét cả về yếu tố lịch sử và pháp lý). Từ năm 1939, Campuchia mới chính thức quản lý về mặt hành chính và cảnh sát các đảo ở phía Bắc đường Brévié. Tuy nhiên, chính quyền Nam Kỳ và sau đó là chính quyền Sài Gòn không chấp nhận vì cho rằng các đảo Wai, Phú Dự, Tiên Mối và nhóm Bắc Hải Tặc là các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam. Năm 1956, Campuchia đưa quân ra chiếm đảo Phú Dự, chiếm nhóm đảo Bắc Hải Tặc năm 1958 và đảo Wai năm 1966.

Năm 1957, Campuchia ra Sắc lệnh quy định đường cơ sở thẳng là đường nối liền các điểm chuẩn trên đất liền và các đảo ven bờ của Campuchia và quy định lãnh hải của Campuchia là 5 hải lý. Sắc lệnh cũng quy định ranh giới trên biển với các quốc gia liền kề là đường vuông góc với đường cơ sở kéo ra biển 5 hải lý (đối với Việt Nam, đường này còn lệch về phía Việt Nam hơn so với đường Brévié), ranh giới ngoài thềm lục địa của Campuchia là đường đẳng sâu 50m. Năm 1972, chính quyền Lonnol ra Sắc lệnh về ranh giới thềm lục địa (số 439-72/PRK, ngày 01/7/1972) và Sắc lệnh về quy định hệ thống đường cơ sở và lãnh hải của Campuchia (số 518-72/PKR, ngày 12/8/1972) đã quy thuộc các đảo Phú Quốc và Thổ Chu của Việt Nam vào lãnh thổ Campuchia.

Năm 1976, chính quyền Campuchia nêu yêu sách lấy đường Brévié làm đường biên giới biển giữa hai nước vì Campuchia cho rằng đường này đã được sử dụng như đường biên giới trong gần 40 năm qua. Sau đó Việt Nam đã chính thức trao lại đảo Wai cho Campuchia. Ngày 31/7/1982, Campuchia đã ra tuyên bố hệ thống đường cơ sở thẳng, trong đó bao gồm cả các đảo nằm xa bờ như đảo Wai.

Như vậy, Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia ngày 07/7/1982 đã giải quyết được một số các vấn đề đặc biệt quan trọng sau đây:

Một là, Hiệp định đã xác định giới hạn cụ thể của vùng nước lịch sử thuộc chế độ nội thuỷ chung của hai nước Việt Nam và Campuchia. Ngoài vùng nước này là các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền riêng của mỗi nước. Quy định này đã tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng để hai nước quản lý, bảo vệ các vùng biển của mình;

Hai là, hai bên đã thoả thuận lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này. Đây là lần đầu tiên hai nước thừa nhận chủ quyền của các bên đối với các đảo giữa hai nước. Hiệp định đã nâng đường Brévié từ ranh giới quản lý hành chính và cảnh sát lên thành đường phân chia chủ quyền đảo giữa Việt Nam và Campuchia nhưng cũng xác nhận giữa hai nước chưa có đường biên giới trên biển;

Ba là, hai bên sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau để hoạch định đường biên giới trên biển giữa hai nước trong và ngoài vùng nước lịch sử. Hai nước tiếp tục đàm phán để phân định đường biên giới trên biển Việt Nam và Campuchia bên trong và ngoài vùng nước lịch sử;

Bốn là, việc tuần tiễu, kiểm soát trong vùng nước lịch sử sẽ do hai bên cùng tiến hành. Hai nước tăng cường các lực lượng tuần tra, kiểm soát, phối hợp trao đổi thường xuyên hơn giữa chính quyền địa phương của hai bên nhằm bảo đảm an ninh trật tự chung trong vùng nước lịch sử, tránh tình trạng mất an ninh, trật tự cũng như để xẩy ra các vụ bắt giữ bất hợp pháp tàu thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam đang hành nghề hợp pháp trên biển. Hai nước sẽ tiếp tục tổ chức tiến hành tuần tra chung trong vùng nước lịch sử theo thoả thuận giữa hai Bộ Quốc phòng;

Năm là, việc đánh bắt hải sản của nhân dân địa phương trong vùng này vẫn tiếp tục theo tập quán làm ăn từ trước tới nay. Nhân dân hai nước đều có quyền khai thác nguồn lợi hải sản một cách hợp pháp trong vùng nước lịch sử. Công dân của nước khác không được phép vào đánh bắt trong vùng nước này;

Sáu là, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, v.v… trong vùng nước lịch sử sẽ do hai bên cùng thoả thuận; khi không có thoả thuận thì không bên nào được đơn phương tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên trong vùng nước lịch sử.

HHình 6:  Phân định biển giữa Việt Nam và Campuchia

b. Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa giữa Việt Nam và Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 2.800 km2. Đây là vùng chồng lấn thềm lục địa đã được hình thành bởi sự khác nhau giữa đường ranh giới thềm lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa thể hiện trên hải đồ của Malaysia công bố năm 1979, bởi khi công bố đường ranh giới thềm lục địa của mình, chính quyền Sài Gòn có tính đến đảo Hòn Khoai (đảo Hòn Khoai cách bờ 6,5 hải lý) và các đảo của cả hai bên còn Malaysia chỉ tính đến các đảo ven bờ của mình mà bỏ qua đảo Hòn Khoai của Việt Nam.

Diện tích khu vực chồng lấn thềm lục địa giữa Việt Nam và Malaysia không lớn nhưng lại có tiềm năng lớn về dầu khí. Để đáp ứng nhu cầu chung là khai thác dầu khí phục vụ phát triển của hai nhà nước trong diện tích vùng chống lấn, Việt Nam và Malaysia đã đàm phán và ký kết Bản thỏa thuận (Memorandum of Understanding) về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn ngày 05/6/1992 tại Kuala Lampua. Bản thỏa thuận (Memorandum of Understanding) có các nội dung cơ bản sau đây:

Một là, hai bên chính thức xác nhận tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa do Tổng cục Dầu khí Việt Nam công bố năm 1977 (trùng với yêu sách thềm lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971) và đường ranh giới thềm lục địa thể hiện trên hải đồ của Malaysia công bố năm 1979;

Hai là, hai bên đồng ý tạm gác vấn đề phân định thềm lục địa để hợp tác tay đôi về thăm dò và khai thác dầu khí trong khu vực xác định này theo các nguyên tắc: chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lợi nhuận; các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí sẽ được Petronas (Malaysia) và PetroVietnam (Việt Nam) tiến hành trên cơ sở dàn xếp thương mại sau khi được Chính phủ hai nước phê chuẩn; thỏa thuận này không làm phương hại tới lập trường cũng như đòi hỏi của mỗi bên đối với khu vực chồng lấn;

Ba là, nếu mỏ dầu khí có một phần nằm vắt ngang sang khu vực xác định và một phần nằm bên thềm lục địa của Malaysia hoặc Việt Nam thì hai bên sẽ thỏa thuận để thăm dò khai thác.

Sau khi Thỏa thuận có hiệu lực, hai công ty dầu khí quốc gia của hai nước đã ký kết các dàn xếp thương mại và triển khai các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí trong khu vực chồng lấn giữa hai nước. Từ năm 1997 đến nay, những thùng dầu đầu tiên được khai thác từ vùng chồng lấn đã được xuất khẩu, lợi nhuận bắt đầu được chia đều cho hai bên theo đúng thỏa thuận và hiện nay các giếng dầu trong vùng khai thác chung này vẫn đang tiếp tục hoạt động có hiệu quả.

Như vậy, từ sau khi Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 có hiệu lực, Việt Nam đã giải quyết được một loạt vấn đề về phân định biển với các quốc gia láng giềng trong khu vực. Việt Nam đã vận dụng một cách linh hoạt các định chế của Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 cũng như thực tiễn quốc tế để có thể cùng các nước có liên quan tìm đến một giải pháp phù hợp cho các vùng biển chồng lấn. Các điều ước quốc tế nói chung và các hiệp định phân định biển nói riêng mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia trong khu vực Biển Đông đã thể hiện thiện chí của nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế khu vực dựa trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ nghiêm luật pháp quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng và các bên cùng có lợi. Các điều ước đó đã góp phần không nhỏ vào việc phòng ngừa xung đột, duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực và trên toàn thế giới.

Hình 7: Vùng chồng lấn thềm lục địa giữa Việt Nam và Malaysia
 
Hình 8: Vùng khai thác chung giữa Việt Nam với Malaysia và Thái lan

c. Phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Thái Lan

Vịnh Thái Lan (Vịnh Xiêm) là một vùng biển nửa kín với diện tích khoảng 300.000km2, được giới hạn bởi bờ biển của 4 quốc gia: Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia. Vịnh Thái Lan thông ra Biển Đông, dài khoảng 450 hải lý và có chiều rộng trung bình là 208 hải lý. Vịnh có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế. Trong Vịnh có một số đảo quan trọng của hai nước như đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu của Việt Nam, hoặc đảo Ko Phangun, Ko Samui của Thái Lan….

Chính quyền Sài Gòn đã công bố Nghị định về phân lô thăm dò và khai thác dầu khí vào năm 1971, đồng thời đã xác định ranh giới ngoài thềm lục địa phía Nam Việt Nam theo đường trung tuyến giữa bờ biển và các đảo xa bờ của Việt Nam (Thổ Chu và Wai[23]) với bờ biển của Malaysia và Thái Lan. Năm 1973, Thái Lan ra tuyên bố về ranh giới thềm lục địa của Thái Lan là đường trung tuyến giữa bờ biển và các đảo ven bờ của Thái Lan với bờ biển và đảo Phú Quốc của Việt Nam.

Như vậy, hai tuyên bố về thềm lục địa của Việt Nam và Thái Lan đã tạo thành một vùng chồng lấn cần được phân định trong Vịnh Thái Lan rộng hơn 6.000km2.

Từ tháng 9 năm 1992 đến tháng 8 năm 1997, Việt Nam và Thái Lan đã tiến hành 9 vòng đàm phán và thống nhất phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước bằng một đường ranh giới duy nhất đã ký kết Hiệp định về phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam – Thái Lan ngày 09/8/1997 tại Băng Cốc. Hiệp định phân định biển đầu tiên của Việt Nam với Thái Lan gồm có các nội dung chính sau đây:

Một là, đường phân chia thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước Việt  Nam và Thái Lan trong Vịnh Thái Lan là một đường thẳng từ điểm C tới điểm K. Trong đó, điểm C là điểm nhô ra nhất về phía Bắc của khu vực phát triển chung giữa Thái Lan và Malaysia đã được xác định trong Bản ghi nhớ giữa 2 nước ngày 21/02/1979 và trùng với điểm 43 của đường yêu sách thềm lục địa Malaysia năm 1979; còn điểm K là điểm nằm trên đường thẳng cách đều đảo Thổ Chu và đảo Wai của Campuchia. Đây là đường “dàn xếp tạm thời” giữa Việt Nam và Campuchia năm 1991. Với kết quả này, Việt Nam được hưởng 1/3 diện tích và Thái Lan được hưởng 2/3 diện tích vùng chồng lấn. Đây là kết quả phân định công bằng mà hai Bên đã áp dụng phương pháp đường trung tuyến có tính đến các hoàn cảnh hữu quan trong phân định như các yếu tố địa lý tự nhiên, nguồn tài nguyên, sự hiện diện của các đảo trong khu vực; đặc biệt, đảo Thổ Chu của Việt Nam là đảo xa bờ (cách đảo Phú Quốc 55 hải lý), tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt nên theo luật pháp và thực tiễn quốc tế chỉ được hưởng một phần hiệu lực trong phân định (được hưởng 32,5% hiệu lực trong phân định). Kết quả phân định thể hiện sự nỗ lực, thiện chí và sự nhân nhượng của hai Bên để đi đến một giải pháp công bằng. 

 Hai là, trong trường hợp có cấu trúc dầu khí hoặc mỏ khoáng sản nằm vắt ngang đường ranh giới giữa hai nước thì hai bên có trách nhiệm trao đổi thông tin, cùng tìm kiếm thỏa thuận sao cho các cấu trúc hoặc mỏ này được khai thác một cách hiệu quả nhất và chi phí cũng như lợi tức từ việc khai thác sẽ được phân chia một cách công bằng;

Ba là, hai bên cam kết sẽ tiến hành đàm phán với Malaysia về khu vực yêu sách thềm lục địa chồng lấn giữa ba nước, nằm trong vùng phát triển chung Thái Lan – Malaysia

Hình 9: Phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Thái Lan

 Hình 10: Phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Thái Lan

Hình 11: Bản đồ Phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Thái Lan

d. Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763km, còn phía Trung Quốc khoảng 695km[24]. Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt trong đó có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng.Đặc thù của Vịnh là chiều ngang tương đối hẹp. Theo Công ước về luật biển năm 1982, Vịnh Bắc Bộ là vùng chồng lấn và trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ giữa hai nước.

Trước tình hình đó, hai nước đều có nhu cầu tiến hành đàm phán để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản và lâu dài:

Một là, xác định đường phân giới cụ thể, phân chia các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc;

Hai là, giải quyết dứt điểm vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước.

Ngoài ý nghĩa về an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn về kinh tế do có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt cá, bảo vệ môi trường, bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Việt Nam và Trung Quốc đã ký các thỏa thuận vào các năm 1957, 1961 và 1963 (các thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào những năm 70) cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Để giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000, Trung Quốc kiên trì quan điểm giải quyết hai việc đồng thời là: đề nghị lập vùng đánh cá chung và phân định Vịnh Bắc Bộ. Việt Nam cho rằng vấn đề nghề cá mang tính kinh tế, kỹ thuật không gắn với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược lâu dài. Như vậy, nếu không giải quyết được vấn đề nghề cá thì khó có thể giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000 và khi đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa hai bên, sẽ tiếp tục mất ổn định.

Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước có vịnh hoặc vùng biển chung cũng đã thỏa thuận lập vùng đánh cá chung và về mặt pháp lý thì điều đó không trái với Công ước về luật biển 1982. Để tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, Việt Nam đã đồng ý lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Việc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được tiến hành từ đầu những năm 70, nhưng do điều kiện lúc đó nên đàm phán không có kết quả. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, hai bên đã quyết định thương lượng để giải quyết vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ.

Hai nước đã ký Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 19/10/1993, trong đó nêu rõ phương hướng phân định Vịnh Bắc Bộ là: “Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh liên quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng”. Thực hiện Thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên[25].

Trong quá trình đàm phán, hai bên đã áp dụng các nguyên tắc sau đây:

Một là, căn cứ vào các quy định của Công ước về luật biển 1982, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và tập quán quốc tế đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế quan trọng. Ví dụ như Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế năm 1970; Kết luận của Hội nghị Henxki về an ninh và hợp tác châu Âu; điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế ….

Trên cơ sở đó, hai bên đã tiến hành phân định Vịnh Bắc Bộ với kết quả cụ thể như sau:

Về diện tíchtổng thể, Việt Nam được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc là 46,77% (Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8.205 km2), đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, dành cho đảo này 25% hiệu lực trong phân định Vịnh (đảo Bạch Long Vĩ nằm gần giữa Vịnh, tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt nên theo luật pháp và thực tiễn quốc tế chỉ được hưởng một phần hiệu lực trong phân định). Đảo Cồn Cỏ của Việt Nam là một đảo nằm gần bờ biển của Việt Nam (cách bờ biển Việt Nam 13 hải lý) nên được hưởng 50% hiệu lực trong phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế tại đường đóng cửa Vịnh.  

Vềkhíacạnhtàinguyên, giảipháp phân định đạt được đã bảo đảm việcphân chialợi ích mộtcách côngbằng. Hai bên đã phân chia rõ ràng phần thềm lục địa để mỗi bên đều có thể tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên trong phạm vi thềm lục địa của mỗi nước mà không bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường hợp mỏ có cấu tạo vắt qua đường phân định thì hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó.

Cuộc đàm phán về nghề cá được khởi động muộn hơn. Cho mãi đến tháng 04 năm 2000, Việt Nam mới đồng ý đàm phán nghề cá. Qua 6 vòng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 200 Bắc xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, vùng đánh cá chung cách bờ của mỗi nước khoảng 30 hải lý; phần lớn vùng đánh cá chung cách bờ của Việt Nam trung bình từ 35-59 hải lý, trong đó có 2 điểm cách bờ 28 hải lý. Thời hạn của vùng đánh cá chung hai bên thỏa thuận là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn).

Hai bên cũng đã thỏa thuận các điều khoản liên quan đến bảo vệ môi trường, bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh, đồng thời thỏa thuận ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung như sau:

Một là, vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung;

Hai là, sản lượng và số tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung dựa trên cơ sở của nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ;

Ba là, mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ 3 trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Hai bên thỏa thuận lập Ủy ban liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan đến vùng đánh cá chung. Ngoài vùng đánh cá chung, hai bên còn thỏa thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn 4 năm ở phía Bắc vĩ tuyến 20 cho tàu thuyền của hai bên tiếp tục được đánh bắt cá. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời hạn quá độ, tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của mình, trừ khi được bên kia cho phép. Đồng thời, hai bên cũng thỏa thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích tạo thuận lợi cho việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu đó đánh cá thì cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này dài 10 hải lý và tính từ đường phân định rộng 3 hải lý về mỗi bên.

Về tổng thể, các giải pháp đạt được trong quá trình đàm phán và được thể hiện trong hai bản Hiệp định đã đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các Hiệp định đó là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía. Đối với Việt Nam, việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 sau khi ký Hiệp định về biên giới trên đất liền năm 1999 có ý nghĩa rất quan trọng vì qua đó, nước ta đã đạt được mục tiêu là giải quyết được hai trong ba vấn đề biên giới – lãnh thổ tồn đọng lâu nay giữa hai nước. Hiệp định biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý biên giới, lãnh thổ; thực hiện mục tiêu là xây dựng biên giới Việt Nam – Trung Quốc thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài và tạo động lực thúc đẩy, tăng cường quan hệ hai nước. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đã xác định trọn vẹn đường biên giới lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa sông Bắc Luân, phân định rõ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và phạm vi thềm lục địa của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đã ghi nhận cam kết của hai bên là tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên trong phạm vi các vùng biển của mình. Hiệp định cũng đã định trước cách thức giải quyết lợi ích khi xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các mỏ tài nguyên khoáng sản nằm trong Vịnh.

Như vậy, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ mà Việt Nam ký kết với Trung Quốc là Hiệp định phân định biển thứ hai của Việt Nam, sau Hiệp định phân định các vùng biển đầu tiên đã được ký kết giữa Việt Nam và Thái Lan năm 1997. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đã có một giải pháp và kết quả phân định công bằng, có cơ sở pháp lý phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, phù hợp với hoàn cảnh khách quạn trong Vịnh, đáp ứng được lợi ích của mỗi Bên. Hiệp định đã xác định trọn vẹn đường biên giới lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc, phân định rõ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và phạm vi thềm lục địa của hai nước trong Vịnh, tạo khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho mỗi nước trong bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển trong Vịnh; đồng thời, tạo điều kiện cho hai Bên có cơ sở thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển bền vững, duy trì sự ổn định trong Vịnh, tăng cường sự tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước.

 
Hình12:Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc
Hình13: Vùng đánh cá chungVịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

e. Vềphân địnhranhgiớithềmlục địagiữaViệtNamvà Indonesia

Việt Nam và Indonesia có vùng biển và thềm lục địa chồng lấn nằm phía Đông Nam Việt Nam và Tây Bắc đảo lớn Borneo của Indonesia. Trong khu vực này, Côn Đảo là đảo xa bờ nhất của Việt Nam, đảo cách bờ biển khoảng 90km. Indonesia là một quốc gia quần đảo, với hơn 17.000 hòn đảo lớn, nhỏ nằm rải rác trên một vùng biển rộng lớn. Đảo xa bờ nhất của Indonesia trong khu vực nằm đối diện với Việt Nam là đảo Natuna Bắc, cách đảo lớn Borneo của Indonesia khoảng 320km về hướng Tây Bắc.

Năm 1969, Indonesia đã ra tuyên bố về ranh giới thềm lục địa dựạ trên nguyên tắc không vượt quá đường trung tuyến cách đều đường cơ sở quần đảo của Indonesia và đường cơ sở của các quốc gia láng giềng.

Năm 1971, chính quyền Sài Gòn đã vạch ranh giới đặc nhượng dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam mà theo đó ranh giới biển giữa Việt Nam và Indonesia là đường cách đều bờ biển Việt Nam và bờ biển đảo Borneo của Indonesia.

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam đã xác định thềm lục địa của Việt Nam là phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của Việt Nam ra đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Ngày 12/11/1982, Chính phủ Việt Nam công bố hệ thống đường cơ sở của phần lãnh thổ lục địa Việt Nam. Theo đó, đảo Côn Đảo được sử dụng làm một điểm cơ sở đ vạch hệ thống đường cơ sở thẳng của Việt Nam.

Như vậy, Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa của Indonesia năm 1969 và Tuyên bố của chính quyền Sài Gòn năm 1971 là có sự khác nhau. Vì vậy, năm 1972 hai bên đã tiến hành đàm phán đ phân định thềm lục địa. Indonesia đưa ra yêu sách đường trung tuyến giữa hai đường cơ sở (Indonesia sử dụng đường cơ sở quần đảo), thực chất là khoảng cách giữa đảo Natuna Bắc của Indonesia và Côn Đảo của Việt Nam (gọi là trung tuyến đảoảo). Chính quyền Sài Gòn đ nghị phân định theo đường trung tuyến giữa hai bờ biển Việt Nam và bờ biển đảo lớn Borneo Bắc (Calimantan) của Indonesia (gọi là trung tuyến bờ-bờ). Hai đường trung tuyến này tạo thành vùng chồng lấn rộng khoảng 40.000km2. Do có sự khác nhau về yêu sách đường trung tuyến của mỗi bên nên việc đàm phán này đã không có kết quả.

Sau ngày thống nhất đất nước, tháng 6/1978 Việt Nam và Indonesia đã bắt đầu tiến hành đàm phán về phân định thềm lục địa. Vì hai quốc gia có đặc điểm về lãnh thổ khác nhau nên việc đàm phán phân định thềm lục địa giữa hai nước rất khó khăn, phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan về lãnh thổ (Việt Nam là lãnh thổ lục địa, còn Indonesia là quốc gia quần đảo), ngoài ra là cách áp dụng luật biển quốc tế của hai bên.

Như vậy, sau 25 năm đàm phán với 2 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 22 vòng họp cấp chuyên viên (10 vòng chính thức và 12 vòng không chính thức), 4 cuộc họp giữa 2 Trưởng đoàn đàm phán cấp chuyên viên, cuối cùng hai bên đã đi đến được một giải pháp chung là thiết lập đường ranh giới thềm lục địa giữa hai nước. Chính phủ hai nước đã ký Hiệp định thoả thuận đường ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia[26] ngày 26/6/2003. Hiệp định này đã củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước Đông Nam Á.

Hiệp định định thoả thuận đường ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia ngày 26/6/2003 gồm có các nội dung cơ bản sau đây:

Mộtlà, đường phân định được xác định bằng các đoạn thẳng nối tuần tự 6 điểm có tọa đ địa lý cụ thể. Hiệp định này chỉ phân định ranh giới thềm lục địa, không ảnh hưởng đến bất kỳ hiệp định nào sẽ được ký trong tương lai về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước (đ.2);

Hailà, các bên ký kết sẽ tham khảo ý kiến của nhau nhằm phối hợp chính sách của mình phù hợp với luật pháp quốc tế về bảo vệ môi trường biểniều 3);

Balà, trong trường hợp có một cấu tạo mỏ dầu hoặc khí tự nhiên, hoặc mỏ khoáng sản khác dưới đáy biển nằm vắt ngang đường ranh giới nêu tại khoản 1 điều 1, các Bên ký kết sẽ thông báo cho nhau mọi thông tin liên quan và thoả thuận về cách thức khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ nói trên và về việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác đó (điều 4);

Bốnlà, mọi tranh chấp giữa các Bên ký kết nẩy sinh trong việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hoà bình thông qua hiệp thương hoặc đàm phániều 5) – hai nước chưa phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Hình14:Phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia

Hình 15: Phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ Việt – Trung và chiến tranh biên giới tháng 2 – 1979

 

Tù binh Trung Quốc trong cuộc chiến tranh biên giới 2.1979

Trong những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam Việt Nam (1975), Trung Quốc là nước tiếp tục giúp đỡ, viện trợ cho Việt Nam. Theo một logic thông thường, lý ra sự hợp tác, quan hệ truyền thống giữa hai nước càng phải được củng cố, phát triển. Tuy nhiên, từ giữa năm 1975, do nhiều nguyên nhân lịch sử, chính trị…. quan hệ Việt Nam – Trung Quốc rạn nứt và trở nên không bình thường, rơi vào tình trạng thường xuyên căng thẳng dẫn đến đến đối đầu, xung đột với sự kiện đỉnh cao là cuộc tấn công của Trung Quốc dọc theo biên giới phía Bắc Việt Nam (2-1979).

1- “Khoảng lặng” trong quan hệ Việt – Trung

Sau năm 1975, điều bất thường là quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bắt đầu bộc lộ nhiều “lỗ hổng” và mang dáng vẻ lạnh nhạt. Dường như không phải ngẫu nhiên mà đúng lúc Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tại Bắc Kinh, tờ Nhân dân nhật báo ngày 18-9-1975 đã đăng 6 ảnh lớn về các đơn vị quân đội Trung Quốc ở Hoàng Sa[1]. Tương tự, một ngày sau khi phái đoàn Việt Nam rời khỏi Trung Quốc, các bức ảnh lớn về Hoàng Sa tiếp tục xuất hiện trong những tờ báo uy tín tại Bắc Kinh. Nhìn chung, chuyến thăm Bắc Kinh tháng 9-1975 của Lê Duẩn được các nhà quan sát coi như một thất bại chính trị – ngoại giao[2], bởi mặc dù được tiếp đón có vẻ như trọng thị, song phái đoàn đã rút ngắn thời gian lưu lại tại Bắc Kinh và đã không mở tiệc chiêu đãi để cảm tạ lòng hiếu khách của người Trung Hoa như vẫn thường thấy trong thông lệ ngoại giao. Phái đoàn đã rời Bắc Kinh đúng hai ngày trước khi kỷ niệm ngày Quốc khánh Trung Quốc (1-10), mà không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm. Tiếp đó, ngày 26-11-1975, sau khi Đoàn Việt Nam kết thúc chuyến thăm hữu nghị Liên Xô, tờ Quang minh nhật báo có bài viết về Hoàng Sa và Trường Sa với lời báo động không giấu giếm: “Một số đảo vẫn chưa trở về trong tay nhân dân Trung Hoa… Tất cả các đảo thuộc về Trung Hoa đều phải trở về lãnh thổ của Tổ quốc”[3].

Tuy hai nước còn cố gắng kiềm chế, tránh xung đột, nhưng từ giữa những năm 1976, quan hệ Việt – Trung đã xấu đi rất nhanh chóng với các tranh cãi liên quan đến vấn đề biên giới, vấn đề người Việt gốc Hoa và đặc biệt về vai trò của Liên Xô trong các vấn đề thế giới, khu vực. Trong bài phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 25 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ ngày 24-9 đến 24-10-1976) xuất hiện những cụm từ nhiều hàm ý: “Ta thắng là nhờ có sự giúp đỡ tích cực của Liên Xô, Trung Quốc, của phe ta, của thế giới, Liên Xô và Trung Quốc giúp ta rất nhiều. Không có sự giúp đỡ của họ ta khó lòng thắng được. Ta phải luôn luôn biết ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác đã giúp ta; ta nói cho con cháu ta mãi mãi nhớ ơn họ. Nhưng chúng ta phải độc lập, tự chủ bởi vì trong quan hệ quốc tế, mỗi nước có lập trường riêng do vị trí và quyền lợi mỗi nước một khác, cho nên giữa các nước anh em, khó có sự nhất trí với nhau, có khi về những vấn đề rất quan trọng đối với một nước trong phe, cũng không nhất trí được”[4].

Tháng 2-1977, Trung Quốcngỏ ý với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung cấpviện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh[5].

Cũng vào thời kỳ này, biên giới Việt Nam – Campuchia liên tục có xung đột. Chính phủ Việt Nam không dưới một lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp, mong muốn thông qua hợp tác với Trung Quốc tác động tới phía Campuchia, song Trung Quốc đã im lặng. Việc Trung Quốc từ chối ủng hộ Việt Nam trong việc tìm kiếm các phương thức giải quyết căng thẳng biên giới với Campuchia càng cho thấy những vết nứt sâu hơn trong quan hệ hai nước. Điều đáng chú ý là trong thời điểm phức tạp, nhạy cảm của quan hệ Việt Nam – Campuchia, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa đã chính thức phát biểu (30-7-1977): “Chúng tôi ủng hộ lập trường chống đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia… và sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội. Chúng tôi sẽ ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể”[6]. Ngầm sau lời tuyên bố đó, người ta dễ dàng nhận thấy ẩn ý “chống lưng” của Ban lãnh đạo Trung Quốc đối với tập đoàn Polpot-Iêngxari.

Ngày 20-11-1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc một lần nữa. Đây được coi như một nỗ lực nhằm hàn gắn những vết rạn nứt trong quan hệ với Trung Quốc, thực hiện việc cố gắng cân bằng quan hệ giữa Việt Nam – Liên Xô; Việt Nam – Trung Quốc. Tuy nhiên, giới quan sát nhận thấy rằng, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam Lê Duẩn đã được đón tiếp với một thái độ vừa phải (nếu không muốn nói là lạnh nhạt), trái ngược với sự trọng thị và nồng nhiệt được dành cho Polpot trước đó một tháng[7]. Chuyến viếng thăm Trung Quốc lần này của Lê Duẩn chẳng những không làm cho quan hệ hai nước ấm lên, mà bộc lộ những bất đồng mới. Trong cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến một vấn đề tế nhị trong quan hệ hai nước là những tranh chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình… đã bộc lộ ngày càng rõ. Lê Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung – Xô thông qua việc “chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam”. Không khí có vẻ căng thẳng hơn, khi Lê Duẩn đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc đã không mấy mặn mà. Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9-1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc khoản đãi “những người Trung Hoa anh em”.

Về phía Trung Quốc, từ cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh thần “phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam”, tuyên truyền: “Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa”[8]. Tháng 1-1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng. Trong khi đó, tháng 1-1978, Bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnompenh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia. Thậm chí, trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh Siêu đã tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào liên minh của họ (ngụ ý ám chỉ Việt Nam đã rõ, mặc dù không nêu đích danh).

2- Những đợt sóng mới

Sự rạn nứt trong quan hệ Việt – Trung trở nên sâu sắc và chuyển dần sang trạng thái căng thẳng, xung đột thể hiện qua hàng loạt sự kiện rắc rối khác, mà trước tiên là vấn đề người Việt gốc Hoa.

So với các khu vực khác trên thế giới, Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) là nơi có số lượng tương đối lớn Hoa kiều làm ăn, sinh sống, “lên tới hơn 20 triệu người (năm 1978)”[9]. Ở Việt Nam có khoảng 1,2 đến 2 triệu người Hoa đến lập nghiệp từ lâu đời, là một trong những thế lực kinh tế mạnh mẽ, nhất là ở miền Nam Việt Nam. Hoa kiều được gọi là “đội quân thứ năm” trong chính sách tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực.

Người Hoa là một bộ phận cùng hợp thành cộng đồng dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc thống nhất trong đa dạng. Cư dân người Hoa ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán của ngữ hệ Hán – Tạng[10]. Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX, quy chế đối với người Hoa ở Việt Nam không khác gì so với cư dân thuộc các cộng đồng dân tộc khác[11]. Trong chiến tranh và xây dựng đất nước thời bình, người Hoa đã “đồng cam cộng khổ”, sát cánh cùng các dân tộc Việt Nam.

Về phía Trung Quốc, trước năm 1949, Trung Quốc yêu cầu tất cả các Hoa kiều tiếp tục giữ quy chế công dân Trung Quốc, hoặc có hai quốc tịch. Điều đó đồng nghĩa với việc Trung Quốc đòi duy trì quyền lãnh ngoại (quyền có thể can thiệp vào nước khác để bảo vệ kiều dân của mình). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia độc lập ở Đông Nam Á đã đưa ra những đạo luật hạn chế các hoạt động của người Hoa, đặc biệt là hạn chế quy chế hai quốc tịch. Năm 1950, theo sáng kiến của Chu Ân Lai, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức từ bỏ yêu sách về quyền lãnh ngoại, coi như là sự chấp nhận những nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia.

Năm 1955, ở miền Bắc Việt Nam, theo thỏa thuận của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, “người Hoa cư trú ở miền Bắc Việt Nam phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”[12], sau dần dần chuyển thành công dân Việt Nam, được hưởng những quyền lợi như người Việt Nam và tự nguyện nhận quốc tịch Việt Nam. Cho đến năm 1975, giữa Việt Nam – Trung Quốc không có bất cứ một bất đồng nào trong vấn đề người Hoa ở miền Bắc Việt Nam. Còn ở miền Nam Việt Nam, từ năm 1956, dưới Chính quyền Ngô Đình Diệm, Hoa kiều đã gia nhập quốc tịch Việt Nam để có điều kiện dễ dàng làm ăn, sinh sống[13].

Tháng 4-1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam. Vấn đề người Hoa được Trung Quốc nêu lên. Trung Quốc coi việc Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp, động chạm tới người Hoa ở một số thành phố lớn miền Nam như một sự công khai thách đố chính sách bảo vệ Hoa kiều hải ngoại mà Trung Quốc vừa công bố[14]. Một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam được dấy lên. Trung Quốc đưa ra chính sách “đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều”, kêu gọi chống lại chính sách “bài Hoa” của Việt Nam; đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt, gốc Hoa những luận điệu kích động[15]về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam – Trung Quốc, gây tâm lý hốt hoảng trong quần chúng người Hoa. Do sự khuyến khích đó của Trung Quốc và với sự im lặng đồng tình ngầm của Việt Nam muốn tống xuất hiểm họa của “đội quân thứ năm”, trong năm 1978, các dòng người Hoa ở Việt Nam ồ ạt kéo về Trung Quốc[16]. Ngày 30- 4-1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ “sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt”, hứa hẹn “sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội vàng”. Để thu hút sự chú ý của dư luận thế giới về tình trạng “nạn kiều”, Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước, tuyên bố sẽ gửi hai tầu chuyên chở sang Việt Nam để đón “nạn kiều” về nước, nói trắng ra rằng, tàu Trung Quốc sang Việt Nam không phải để đón người Hoa, người Việt gốc Hoa, hay Hoa kiều muốn đi Trung Quốc”, mà đón “nạn kiều”[17].Tháng 5-1978, Trung Quốc đơn phương đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc[18]. Ngày 12-7-1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại, tạo nên tình trạng mất an ninh ở khu vực biên giới. Đến khi các đợt ra đi của người Hoa trở nên ồ ạt, Trung Quốc lại đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của Chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận những “nạn kiều người Hoa” đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ dứt khoát không nhận về “người Việt gốc Hoa”, hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, trong khi Trung Quốc khêu lên vấn đề bảo vệ Hoa kiều một cách mạnh mẽ, thì ở Campuchia, do chính sách khủng bố trong nước của Chính quyền Campuchia, hàng vạn Hoa kiều chạy khỏi Campuchia, song Trung Quốc đã không có bất cứ một động thái phản đối nào.

Sự ra đi đông đảo của cư dân người Hoa đã làm cho tình trạng kinh tế tại các vùng biên giới phía Bắc Việt Nam trở nên tồi tệ. Hàng vạn người Hoa vội vã bỏ nhà cửa, chuẩn bị “hồi hương” đã phá hoại nghiêm trọng nền kinh tế nhỏ trong các hộ gia đình, làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng một cách gay gắt, đánh mạnh vào nền kinh tế Việt Nam vốn đã khủng hoảng. Vấn đề người Hoa ở Việt Nam và phong trào đòi trở lại quốc tịch Trung Quốc đã làm mối quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc trở nên phức tạp. Đây là một trong những nguyên nhân làm căng thẳng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau năm 1975.

Việc Trung Quốc đơn phương cắt viện trợ cho Việt Nam là một trong những nguyên nhân tiếp theo làm cho sự căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung ngày càng gia tăng. Ngày 12-5-1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Công hàm cho Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc thông báo quyết định cắt 21 dự án ở Việt Nam, với lý do là để chuyển các khoản tiền cùng vật chất trong các dự án này cho người Hoa hồi hương sinh hoạt và lao động sản xuất. Sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã gửi Chính phủ Việt Nam Công hàm ngày 30-5-1978 hủy bỏ thêm thêm 51 dự án khác[19], cũng với lý do cách đối xử của Chính phủ Việt Nam đối với người Hoa là gánh nặng tài chính cho Trung Quốc, do Trung Quốc phải giải quyết vấn đề người Hoa nhập vào Trung Quốc từ Việt Nam[20]. Chỉ trong tháng 5-1978, Trung Quốc đã cắt 72 trong số 111 công trình viện trợ[21],gây cho Việt Nam nhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh tế. Ngày 3-7-1978, Trung Quốc gửi thêm một công hàm nữa cho Chính phủ Việt Nam thông báo chấm dứt mọi trợ giúp kinh tế, kỹ thuật[22]và rút tất cả các chuyên gia Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam về nước[23].Ngày 22-12-1978, Trung Quốc đơn phương hủy bỏ việc chuyên chở trên tuyến đường sắt liên vận từ Hà Nội đến Bắc Kinh. Lý giải việc cắt toàn bộ viện trợ, ngoài  lý do vì “gánh nặng rất lớn về tài chính của Trung Quốc trong việc sắp xếp sản xuất và đời sống cho nạn kiều”[24], Trung Quốc còn đưa thêm lý do “Việt Nam ngày càng chống Trung Quốc, bài Hoa một cách nghiêm trọng, phá hoại các điều kiện tối thiểu nhất để các chuyên gia Trung Quốc tiếp tục công tác tại Việt Nam”[25], nên “Chính phủ Trung Quốc mới buộc phải quyết định ngừng viện trợ kinh tế, kỹ thuật cho Việt Nam, điều cán bộ Trung Quốc ở Việt Nam về nước”[26].  Cần lưu ý rằng, từ chối viện trợ cho Việt Nam với lý do “gánh nặng kinh tế giải quyết vấn đề người Việt gốc Hoa”, nhưng trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen (2-1976), những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã ký viện trợ quân sự cho Campuchia một khoản tiền không hề nhỏ, trị giá 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) trong ba năm (1976-1978)[27].

Cắt viện trợ cho Việt Nam vào thời điểm Việt Nam mới ra khỏi khói lửa chiến trường, đang nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, kiến thiết đất nước và gồng mình bảo vệ tuyến biên giới Tây Nam, quả thật, Trung Quốc đã giáng một “đòn chí tử” có tính toán vào nền kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ bấp bênh, khiến Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những thử thách mới.

Cùng với việc đơn phương cắt bỏ mọi khoản viện trợ mà hai bên đã ký kết, Trung Quốc hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự. Ngày 17-6-1978, Trung Quốc yêu cầu các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh phải dời về nước. Quan hệ Việt – Trung tiếp tục đi xuống một bước.

Đi kèm với vấn đề người Hoa,“câu chuyện Campuchia” tiếp tục là một nhức nhối mới trong quan hệ Việt – Trung.

 Ngay từ giữa những năm 60 (XX), các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã có kế hoạch nắm trọn vấn đề Campuchia, phục vụ  mục đích tạo vùng ảnh hưởng của mình tại khu vực Đông Nam Á, sau khi nhận thấy “những biểu hiện bướng bỉnh” của Việt Nam đi chệch quỹ đạo mà Trung Quốc muốn sắp đặt. Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: “Bề ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam – TG) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta”[28].Nói như nhà báo Gareth Porter (tờ Dân tộc, New York), thì “Campuchia đóng vai trò trung tâm trong chiến lược của Trung Quốc, nhằm bao vây ảnh hưởng của Việt Nam tại Đông Nam Á”[29]. Thực hiện kế hoạch nắm Campuchia, Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Campuchia Dân chủ. Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R.SarDesai, “từ năm 1975-1978, Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca, súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy đủ để trang bị cho đội quân 200.000 người. Trung Quốc cũng viện trợ cho Campuchia một khoản tiền rất lớn. Thêm vào đó, Trung Quốc đã gửi khoảng 10.000 cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và rèn luyện quân đội Pôn Pốt”[30]. Nhà báo Marish Chandona[31] cung cấp một thông tin: Nếu tháng 7-1977, Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, thì vào tháng 1-1978, Campuchia có 25 sư đoàn, Trung Quốc đã cung cấp vũ khí để lập ra 19 sư đoàn mới trong ba năm[32].

Những năm 1975-1976, Trung Quốc vẫn còn muốn giữ quan hệ, duy trì ảnh hưởng của mình tại Việt Nam, muốn Việt Nam đứng về phía mình để chống Liên Xô, giảm ảnh hưởng của Liên Xô tại Việt Nam và vùng Đông Nam Á; do vậy, Trung Quốc vẫn đóng vai trò trung gian hoà giải khi những cuộc đụng độ quân sự giữa Việt Nam và Campuchia mới bắt đầu diễn ra. Nhưng từ đầu năm 1977 trở đi, khi quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia trở nên gay gắt, rồi dẫn đến tan vỡ ngoại giao vào cuối năm 1977 và tiếp diễn chiến tranh trong năm 1978, quan hệ Việt – Trung cũng chuyển sang một tình trạng xấu hơn, phức tạp hơn, nhất là khi Trung Quốc ủng hộ cả chính trị, lẫn quân sự cho chế độ Khơme Đỏ.Từ tháng 9 đến tháng 10-1977, Pôn Pốt có chuyến thăm dài ngày tới Trung Quốc, nhằm thắt chặt thêm quan hệ liên minh được thiết lập. Sau chuyến thăm này, tháng 12-1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng đã tới thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Tuyên bố của Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng cũng mạnh mẽ hơn và đầy hàm ý: “Không một lực lượng nào có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi”[33]. Tháng 3-1978, các kỹ sư Trung Quốc xây dựng lại đường xe lửa Konpongthom – Phnôm Pênh và ở lại tại chỗ sau khi sửa xong. Ngày 12-7-1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam “tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam”[34]. Ngày 4-11-1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước có giá trị 25 năm), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng đi Phnôm Pênh để tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với chính sách của Campuchia[35]. Theo Cơ Bằng Phi, thì đó là sự trả lời trực tiếp của Trung Quốc đối với việc ký Hiệp ước Việt – Xô. Tháng 1-1979, Việt Nam đưa quân vào Campuchia, lật đổ chế độ Pôn Pốt và đối với Trung Quốc, “việc không thể chấp nhận được đã thành sự thật”[36].  Một thời gian ngắn sau khi Phnompenh bị thất thủ, tờ Nhân dân Nhật báo (27-1-1979) đã có bài viết, trong đó chứa nhiều hàm ý: “Sự thất thủ của Phnompenh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu”. Nói một cách cụ thể hơn, đối với Trung Quốc, “vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa”[37].

Campuchia bị mất, Thái Lan trở nên một địa bàn quan trọng để Trung Quốc có thể tiếp tục giúp đỡ cho Khơme Đỏ. Tháng 1-1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Uỷ viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan lúc này không còn giữ thái độ trung lập nữa, đồng ý để Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khơme Đỏ. Đồng thời, trước sự vận động của Trung Quốc, sau hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, ông Hoàng Sihanouk xuất hiện, đại diện cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam phải rút quân ra khỏi Campuchia[38].

Trong thời gian này, bên cạnh những khúc mắc như đã nói ở trên, xung đột biên giới trên bộ và tranh chấp chủ quyền trên biển Đông là một trong biểu hiện cụ thể, tập trung nhất trạng thái bất bình thường trong quan hệ Việt – Trung, nó đẩy quan hệ Việt – Trung rơi xuống nấc thấp nhất.

Với Trung Quốc, Việt Nam có đường biên giới đất liền dài khoảng 1.406 km, từ ngã ba biên giới Việt Nam – Trung Quốc – Lào đến bờ biển vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh – Quảng Đông), đi qua 7 tỉnh biên giới phía Việt Nam, tiếp giáp với hai tỉnh phía Trung Quốc[39]. Đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc là đường biên giới thực tế lịch sử, đến cuối thế kỷ XIX đã trở thành đường biên giới pháp lý (được luật pháp quốc tế thừa nhận). Theo R.V.Pretcot thì đây là “một trong những biên giới được xác định tốt nhất trong khu vực”[40].

Từ giữa năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam – Trung Quốc trở nên căng thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng xấu đi với những xung đột ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc tại khu vực Cao Bằng – Lạng Sơn vào cuối năm 1976. Tháng 3-1977, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới Cao Lạng – Quảng Tây. Đoàn Việt Nam yêu cầu bàn biện pháp chấm dứt các vụ vi phạm biên giới quốc gia và trở lại đường biên giới lịch sử, trong khi đó, Đoàn Trung Quốc chỉ đề nghị bàn biện pháp ngăn ngừa xung đột, giữ nguyên trạng trong khi chờ Chính phủ hai nước đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, vũ trang khiêu khích biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt, từ tháng 7-1978, Trung Quốc đã sử dụng hành động này phục vụ cho mục đích công khai và chuẩn bị tạo cớ, gây cuộc tấn công dọc theo toàn tuyến biên giới Việt Nam. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15-2-1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2-1979 tăng lên 230 vụ[41]. Cùng với những hoạt động vũ trang trên vùng biên giới đất liền với quy mô ngày càng rộng lớn, nhịp độ ngày càng tăng, Trung Quốc còn cho máy bay chiến đấu xâm phạm vùng trời, cho tầu thuyền xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Trong năm 1978, đã cho trên 100 lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tầu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam[42].

Trên biển Đông, vấn đề tranh chấp quan trọng nhất của Trung Quốc đối với Việt Namliên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 10-9-1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa-TG). Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 9-1975, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24-9-1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng, phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ rằng, sau này hai bên có thể thương lượng, bàn bạc. Ngày 12-5-1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã phản ứng mạnh mẽ. Ngày 30-7-1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: “Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa – TG) mà không cần phải thương lượng gì hết”[43].

Sau mỗi lần Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ và vũ trang khiêu khích biên giới Việt Nam, Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

3- Chuẩn bị ngoại giao và tiến hành cuộc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2- 1979

Song song với việc liên tục xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam, Trung Quốc cũng ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tấn công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, tập trung những quân đoàn chủ lực lớn dọc theo biên giới Việt – Trung.Theo nguồn tin từ Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA (sau này được các báo chí Mỹ tiết lộ), thì từ giữa năm 1978, Trung Quốc đã hoàn chỉnh các phương án tác chiến, các đơn vị bộ đội Trung Quốc đã sẵn sàng mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn chống Việt Nam, “vấn đề còn lại là chỉ chờ đợi thời cơ là bật đèn xanh”[44].Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 – cuối năm 1978, nhiều biện pháp “trừng phạt” Việt Nam bằng quân sự được đưa ra[45]. Ngay cả thời cơ cũng được Trung Quốc tạo ra và chuẩn bị kỹ càng sau một loạt những sự kiện “nạn kiều”, “Việt Nam xâm chiếm, vũ trang khiêu khích biên giới Trung Quốc”.Cũng cần nói thêm rằng, một bước chuẩn bị quan trọng của Trung Quốc trước khi tiến hành tấn công Việt Nam là việc Trung Quốc đã kịp ký với Nhật Bản Hiệp ước hoà bình, hữu nghị(vào ngày 12-8-1978, có giá trị trong mười năm và sẽ tái ký sau đó), nhằm thu xếp, tạo thế cân bằng chiến lược ở khu vực Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc, Trung Quốc có thể rảnh tay đối phó với Việt Nam.

Ngày 5-11-1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN để tập hợp lực lượng cho bước đi sắp tới về Việt Nam. Việc Việt Nam – Liên Xô ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện (3-11-1978)[46]là món quà bất ngờ cho Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi này. Tuyên truyền rằng, việc ký Hiệp ước Việt – Xô là mối de dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam. Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng ý cho phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia và trở về. “Liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái khoen chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia”[47].

Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình không giấu giếm ý định dùng biện pháp quân sự để đối phó với Việt Nam. Thái độ của từng nước ASEAN có điểm khác nhau, nhưng đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam- Campuchia và Việt Nam – Trung Quốc là “nhân tố không ổn định đối với hoà bình khu vực”. Tuy nhiên, khi Việt Nam nghiêng về phía Liên Xô, các nước ASEAN cũng nhận thấy cần phải nhích hơn chút nữa về phía Trung Quốc.

Chuyến đi Mỹ của Đặng Tiểu Bình tháng 1-1979, sau đó là tới thăm Nhật cũng là nằm trong mục đích chuẩn bị cho cuộc tấn công Việt Nam vào tháng 2-1979. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn công Việt Nam, mong muốn là có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ. Khi tiếp xúc bí mật với Brzezinski. Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó” và nhấn mạnh: “Các ngài nhớ kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động”[48]. Đặng Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh chóng. Chuyến đi của Đặng Tiểu Bình sang Mỹ là một chuyến đi thành công, “Đặng Tiểu Bình đã chuẩn bị tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ thực hiện sự trừng phạt như đã loan báo”[49]Hai tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng Gromutko là Liên Xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT mà Liên Xô rất mong muốn.

Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: “Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô”; “Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục”; cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản ứng công khai, còn A.Kosyginthì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một bản “tuyên bố chiến tranh với Việt Nam”.

Nhìn chung lại, thông qua các bước chuẩn bị ngoại giao, Trung Quốc thấy rằng, nếu đánh Việt Nam, Mỹ sẽ đồng tình, các nước ASEAN ít nhất cũng không lên tiếng phản đối, Liên Xô sẽ có phản ứng, nhưng không có khả năng mang hải quân can thiệp. Còn Việt Nam đang đứng trước những khó khăn nghiêm trọng, những thách thức về kinh tế, chính trị, nhất là sau cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (với số lượng thương vong bằng 74% trong kháng chiến chống Pháp), đánh Việt Nam lúc này là thuận lợi.

Từ giữa tháng 12-1978, Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm quân khu và đưa áp sát biên giới Trung – Việt. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1-1979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam “chiếm” Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam.

Từ ngày 9 đến ngày 12-2-1979, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung[50]. Ngày 16-2-1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp các ngành. Trong cuộc họp này, Đặng Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian[51]. Ngày 17-2-1979, sau sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên cả hai phương diện trong nước và quốc tế, Trung Quốc đưa 60 vạn quân cùng với gần 800 xe bọc thép, xe tăng, trọng pháo và máy bay các loại đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) và đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam.  Các nhà bình luận phương Tây gọi cuộc tấn công của Trung Quốc dọc tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam (1979) là “cuộc chiến giữa những người anh em Đỏ“, hay “cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứba“. H. Kissinger đánh giá về cuộc chiến tranh này như sau: “Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của cộng sản cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc”[52].

Về phía Trung Quốc, biện minh cho hành động của mình, Trung Quốc tuyên bố đây chỉ là “một cuộc phản kích để tự vệ” (?!). Thực chất, “đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng lực lượng chính quy của hầu hết các quân khu Trung Quốc”[53]. Trung Quốc “có sự chuẩn bị kỹ càng về các mặt”[54].Mục đích của Trung Quốc trong cuộc chiến là xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam, làm giảm tiềm lực quốc phòng, kinh tế, làm suy yếu Việt Nam, hạ uy thế chính trị, quân sự của Việt Nam, thể hiện vai trò nước lớn trong khu vực và củng cố đoàn kết nội bộ. Một chiến thắng quân sự sẽ đập tan huyền thoại chiến đấu của quân đội Việt Nam, thoả mãn tinh thần “Đại hán”, nâng cao uy tín nước lớn Trung Hoa. Mặt khác, lợi dụng vào dân số và quân số đông đảo, số lượng vũ khí dồi dào, Trung Quốc dự định bằng cuộc hành quân chớp nhoáng, chiếm đóng một số thị xã dọc biên giới, phân tán mỏng lực lượng quân sự của Việt Nam, buộc Việt Nam phải rút bớt quân từ chiến trường Campuchia về nước, cứu nguy cho Khơme Đỏ. Ngoài ra, Trung Quốc tấn công Việt Nam còn nhằm mục đích kiểm tra tính chặt chẽ của Hiệp ước phòng thủ Liên Xô – Việt Nam, thăm dò phản ứng của Liên Xô, thách đố “liên minh quân sự” Việt – Xô. Hành động quân sự để đối phó với Việt Nam sau khi Việt Nam vừa ký Hiệp ước hợp tác hữu nghị với Liên Xô là một thách đố liều lĩnh, nhưng có tính toán. Chấp nhận những hậu quả có thể xảy ra khi Liên Xô trả đũa, Trung Quốc muốn cho Liên Xô biết quyết tâm của Trung Quốc không thể để bị bao vây, không thể chấp nhận ảnh hưởng gia tăng của Liên Xô tại Đông Nam Á; đồng thời, chứng minh cho các quốc gia Đông Nam Á thấy có thể tin cậy vào Trung Quốc để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và tham vọng của Liên Xô thông qua Việt Nam. Nhà nghiên cứu Gilbert Padoul nhận định: Trung Quốc đánh trận 17-2, còn mang tính chất thông điệp với Việt Nam và thế giới: “Trung Quốc không thể chấp nhận một Đông Dương dưới sự giám hộ của Liên Xô và Việt Nam”[55]. Nhận xét trên của Gilbert Padoul không phải là ngẫu nhiên, bởi Đặng Tiểu Bình đã không chỉ một lần tuyên bố: “Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Xô có 70% ảnh hưởng ở Việt Nam, miễn là 30% còn lại dành cho Trung Quốc”[56].

4- Việt Nam hành động

Cuộc tấn công dọc tuyến biên giới phía Bắc (1979) là nấc thang cao nhất thể hiện thái độ thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam. Ngay sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, trong ngày 17-2-1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố:“Nhân dân Việt Nam là một dân tộc kiên cường, anh dũng, bất khuất đã từng đánh thắng mọi kẻ xâm lược, tin tưởng sắt đá rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam, lại được bạn bè khắp năm châu đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ, nhất định sẽ đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của những người cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình”[57].Ngày 18-2-1979, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Lời kêu gọi toàn dân đoàn kết “kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chặn đứng và đập tan cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của bọn phản động Trung Quốc”[58].Ngày 4-3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu gọi,trong đó có đoạn viết:Quân thù đang giày xéo non sông đất nước ta (…).Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ. Cuộc kháng chiến chống quân Trung Quốc xâm lược đang diễn ra(…) Đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc lần này là nghĩa vụ dân tộc vẻ vang”[59].

Ngày 1-3-1979, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 67, Về việc phát động và tổ chức toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc, nêu bật nhiệm vụ “xây dựng thế phòng thủ vững chắc của đất nước, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đánh bại quân xâm lược Trung Quốc”[60]. Tiếp đó, ngày 3-3-1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 16, Về cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung Quốc xâm lược, dự đoán chiến tranh có thể diễn biến theo hai tình huống:“Một là, địch bị chặn lại ở các vùng biên giới, bị tiêu diệt lớn, buộc phải rút quân về nước. Hai là, địch tạm thời chiếm được một số thị xã và huyện biên giới, mở rộng chiến tranh đến Hà Nội, vùng đồng bằng Bắc Bộ và lan ra cả nước”[61]. Trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững tư tưởng chủ đạo: “Nỗ lực vượt bậc, tranh thủ giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời phải chuẩn bị mọi điều kiện để đánh lâu dài, lâu bao nhiêu cũng đánh, quyết đánh thắng hoàn toàn quân địch. Phải nắm vững phương châm “làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường để tiêu diệt địch; tiêu diệt địch để làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường”[62]. Về quân sự, Nghị quyết xác định: 1- Quyết tâm tiêu diệt quân xâm lược ở biên giới; 2- Cả nước ráo riết chống chiến tranh xâm lược, sẵn sàng, mạnh mẽ, vững chắc chiến đấu ở các tuyến trung du và đồng bằng; 3- Triển khai kế hoạch bảo vệ Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng; 4-Tiến hành bố phòng, chuẩn bị chiến đấu ở khu vực hậu phương trực tiếp (từ Hà Nội đến Thanh Hoá-Nghệ Tĩnh) và trong cả nước[63].

Trên tinh thần “tất cả cho Tổ quốc quyết sinh”, quân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ từng mảnh đất biên cương của Tổ quốc. Trên các mặt trận dọc tuyến biên giới phía Bắc, chiến thuật “biển người” của Trung Quốc đã không thể phát huy tác dụng trước ý chí bảo vệ non sông, đất nước và lòng quả cảm của những con đất Việt. Máu đã đổ trên dải đất biên cương, quân xâm lược đã bị giáng trả thích đáng: Ở hướng Cao Bằng, các cánh quân Trung Quốc đều bị bộ đội địa phương, dân quân Cao Bằng đánh chặn, bị phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới;trên tuyến Hoàng Liên Sơn, sau 7 ngày bị dân quân, tự vệ cùng các lực lượng vũ trang đánh trả quyết liệt, hai quân đoàn Trung Quốc vẫn không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích; trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ, hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng ở Hà Tuyên,hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui tại Quảng Ninh, tháo chạy sát về biên giới.

Ngay khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, đấu tranh đòi Trung Quốc rút quân. Ngày 18-2-1979, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Tuyên bố có đoạn viết: “Việc Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam chứng tỏ một lần nữa rằng, Bắc Kinh có thái độ vô trách nhiệm biết nhường nào đối với vận mệnh của hoà bình và Ban lãnh đạo Trung Quốc sử dụng vũ khí một cách tuỳ tiện, đầy tội ác biết nhường nào!.. Những hành động xâm lược đó trái với những nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế, càng vạch trần trước toàn thế giới thế giới thực chất chính sách bá quyền của Bắc Kinh ở Đông Nam Á”[64]. Nhiều nước trên thế giới ratuyên bố lên án Trung Quốc, đòi Trung Quốc phải lập tức rút quân về nước. Nhiều cuộc vận động ủng hộ Việt Nam về tinh thần và vật chất đã được phát động. Một số nước khác (kể cả Anh, Mỹ) yêu cầu Hội đồng Bảo an thảo luận về tình hình Đông Nam Á và tác động đối với hoà bình thế giới.

Ngày 14-3-1979, trước sự chống trả của quân, dân Việt Nam ở biên giới, trước sức ép của dư luận và có lẽ tự cho là đã “dạy” cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Trong điều kiện đó, ngày 6-3-1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều kiện Trung Quốc rút quân. Chỉ thị của Ban Bí thư ghi rõ: Tối 5-3-1979, Tân Hoa Xã (Trung Quốc) ra Tuyên bố về việc “Quân đội Trung Quốc đã bắt đầu rút quân từ 5-3-1979″, khẳng định: “Trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa”[65]. Chỉ thị nhấn mạnh thêm: “Không được một chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta (…) luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược”[66].  Về mặt quốc tế, “cần giương cao chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và bảo vệ hòa bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, bảo vệ Việt Nam”[67]. Bên cạnh việc “chấp nhận cho Trung Quốc rút quân”, để trả lời, phía Việt Nam cũng phản kích đánh vào Malipô, Ninh Minh, hai thành phố biên giới của Trung Quốc[68].

5- Từ quá khứ đến hiện tại

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một trong những mối quan hệ địa – chính trị tồn tại khá lâu đời so với nhiều mối quan hệ địa – chính trị khác trên thế giới. Trong suốt chiều dài quan hệ, Trung Quốc luôn ứng xử với Việt Nam theo tinh thần nước lớn – tư tưởng có nguồn gốc sâu xa trong xã hội Trung Quốc. Từ sau năm 1975, Trung Quốc đẩy mạnh chiến lược chống Liên Xô, đặc biệt là chống ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam Á và phá hoà hoãn Xô – Mỹ. Cũng từ năm 1975 trở đi, đối với những nhà lãnh đạo Trung Quốc, một Việt Nam thống nhất, thực hiện chính sách độc lập, tự chủ bị coi là trở ngại cho chiến lược chống Liên Xô và chiến lược mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á – địa bàn “mở nước” cổ truyền của Trung Quốc. Hơn nữa, từ giữa năm 1976, Việt Nam đã dần dần rồi đi tới dứt khoát từ bỏ hình động đầy thận trọng giữa Liên Xô và Trung Quốc, một hành động được duy trì một cách tương đối trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngả hẳn sang phía Liên Xô, từ chối những đòi hỏi mới của Trung Quốc. Chính vì thế, chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam mang tính nước lớn và hai mặt rõ rệt: Vừa lôi kéo, vừa kiềm chế, chèn ép. Khi thấy Việt Nam vượt ra ngoài quỹ đạo của mình và quan hệ không như ý muốn, Trung Quốc lập tức tiến hành các biện pháp mang tính trừng phạt: Rút chuyên gia, cắt viện trợ, gây nên làn sóng tuyên truyền về vấn đề “nạn kiều”, lôi kéo người Hoa bỏ về nước; hậu thuẫn, ủng hộ Polpot – Iengxari tiến công Việt Nam từ hướng biên giới Tây Nam, dùng Campuchia như con đê ngăn chặn Việt Nam, gây ra các sự kiện khiêu khích vũ trang với mức độ xung đột ngày càng tăng ở biên giới Việt – Trung… Hành động bộc lộ sự đối đầu cao độ trong một chuỗi những sự kiện này là cuộc tấn công ồ ạt với 60 vạn quân trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam (17-2-1979), nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” – một hành động như các nhà phân tích nước ngoài nhận xét: Trước nhân dân thế giới, trước các dân tộc châu Á, “Trung Quốc hiện ra như một nước siêu cường, quân phiệt và bá quyền, hoàn toàn có khả năng áp bức các nước láng giềng yếu hơn”[69].

Với những điều vừa trình bày ở trên, có thể thấy quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc luôn có hai mặt: Thực chất và hình thức – hai mặt này không phải bao giờ cũng tương đồng. Về mặt hình thức, quan hệ hai nước được thừa nhận trong một khuôn khổ có tính chuẩn tắc mà cả hai nước cùng công nhận, song về thực chất, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phản ánh tương quan lực lượng và lợi ích giữa hai quốc gia, nhưng là hai quốc gia láng giềng lớn và nhỏ, với các chỉ số so sánh cách biệt.

Về phía Trung Quốc, tăng cường, mở rộng ảnh hưởng, trở thành cường quốc khu vực và thế giới là cái lõi của mọi quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Đối với khu vực, Việt Nam vẫn là một nhân tố chính yếu mà Trung Quốc cần quan tâm và kiềm chế, nhằm thực hiện mục đích của mình một cách ít trở ngại nhất. Chính sách kiềm chế Việt Nam của Trung Quốc là nhất quán và lâu dài, tồn tại song song với mục tiêu chiến lược nêu trên; vì vậy, nó vẫn tiếp tục là nguyên nhân của những khó khăn, thách thức trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.

Ở thời điểm hiện tại, vấn đề nổi cộm, có ý nghĩa trọng yếu đối với an ninh quốc gia và vị thế đất nước liên quan đến quan hệ Việt – Trung là tranh chấp trên biển Đông, liên quan đến hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa.

Với tầm quan trọng của biển Đông, Trung Quốc coi đây là “không gian sinh tồn” với ý định rõ ràng là phải sở hữu bằng được các quyền lợi sống còn của biển Đông, mở rộng cương vực sinh tồn, tạo thêm sức mạnh trong cán cân quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong các tranh chấp trên biển Đông, Trung Quốc luôn có các hành động khó lường và yêu sách lấn dần không định rõ. Nói cách khác, chiến lược của Trung Quốc dường như đồng thời: Củng cố khả năng hải quân, mở rộng khả năng hiện diện hiện thực, từ đó hợp thức hóaviệc chiếm đóng.Có vẻ như Trung Quốc đã phát triển một chính sách ba không để giải quyết các vấn đề trên biển Đông: Không định rõ yêu sách, không đàm phán nhiều bên, không quốc tế hóavấn đề, bao gồm cả không có sự tham gia của các cường quốc ngoài khu vực[70]. Đó là cách, như Valencia.M.J bình luận: “Trung Quốc đang tìm cách viết nên luật lệ của chính mình cho trật tự thế giới, thay bằng việc chấp nhận các nguyên tắc đang tồn tại”[71]

Đối với các tranh chấp biển Đông, Việt Namkhông thể và không bao giờ từ bỏ chủ quyền đối với lãnh hải và thềm lục địa của mình. Tuy nhiên, tồn tại bên cạnhvà giải quyết tranh chấp với một người láng giềng khổng lồ luôn có khát khao thống trị thực sự là một áp lực đối với Việt Nam – Trung Quốc là một thực tế, là một câu chuyện “không bao giờ kết thúc”. Trung Quốc, Việt Nam núi biển liền nhau như môi với răng, có mối quan hệ không chia cắt về địa dư, khi muốn gây sức ép, Trung Quốc không thiếu cách thức và lý do.

Lịch sử là một dòng chảy liên tục nối quá khứ với hiện tại và định hình con đường đi tới tương lai, là cuộc đối thoại nghiêm khắc giữa hiện tại với quá khứ, kết nối ngày hôm qua với hôm nay. Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 đã lùi xa vào lịch sử 35 năm, thế giới đổi thay nhanh chóng, lịch sử đầy ắp các sự kiện, các thăng trầm khó đoán định trước. Tuy nhiên, lịch sử khách quan và công bằng, không thể đơn giản và dễ dàng xé bỏ trang này, hay trang kia theo ý muốn chủ quan. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã là một dấu mốc khó phai mờ trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong ký ức và lương tri của loài người – của những ai đang phấn đấu cho công bằng và công lý. Nhiều câu hỏi của ngày hôm nay có thể có câu trả lời từ những bài học lịch sử xương máu đã qua.

 Nguyễn Thị Mai Hoa

 


[1]Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, 1982, tr.127.

[2]Trong khi đó, cuộc đi thăm hữu nghị Liên Xô do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 10-1975 lại được đánh giá là thành công. Việt Nam đã ký hiệp định phối hợp kinh tế quốc gia với Liên Xô trong 5 năm (1976-1980) và nhận được 500 triệu USD viện trợ với trên 400 hạng mục công trình.

[3]Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, Tlđd, tr.7.

[4]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.37, tr. 333.

[5]Pao Min Chang: Cuộc tranh chấp Trung – Việt và vấn đề thiểu số người Hoa, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, Hà Nội, 1982, tr.16.

[6]Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, t.2, tr.122.

[7]Hàng vạn người đã được huy động đứng dọc quãng đường từ sân bay về Thủ đô Bắc Kinh, vẫy cờ, hoa chào đón Polpot, còn cuộc đón tiếpLê Duẩn không khí lặng lẽ một cách bất thường. Tờ Nhân dân nhật báo đã đăng những bức ảnh đen trắng về chuyến thăm của Lê Duẩn, chứ không phải là các bức ảnh mầu như thông lệ khi có các vị thượng khách đến thăm.

[8]Bộ mặt thật, phản động, phản bội của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và sự đầu độc của chúng đối với quân đội Trung Quốc, Báo cáo của Cục tuyên truyền đặc biệt, Tổng cục chính trị, Tập tài liệu văn kiện Trung ương, Lưu tại Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng, tr.2.

[9]Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sách trắng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.19.

[10]Người Hoa di cư đến Việt Nam từ lâu đời, kéo dài trong nhiều thời kỳ khác nhau với nhiều thành phần xã hội khác nhau. Họ đến cư trú ở hầu hết các nơi, tập trung đông nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và các thị xã, thành phố lớn. Trải qua quá trình lịch sử, dần dần họ đã hoà nhập với cư dân bản địa và trở thành công dân của Việt Nam. Họ đã góp phần cùng các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam làm phong phú và phát triển nền văn hoá, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam.

[11]Người Hoa được hưởng các quyền lợi dân sự giống như người Việt, được đối xử bình đẳng như người Việt. Từ đầu thế kỷ XIX, trẻ em do hôn nhân dị chủng giữa người Hoa và người Việt được coi là người Việt và được hưởng đầy đủ các quyền lợi chính trị như người Việt khác.

[12]Ramses Amer:  Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung – Việt, Kuals Lumpur, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, 1991, tr.8.

[13]Chính quyền Sài Gòn cũng có những quy định đưa Hoa kiều trở thành công dân Việt Nam. Ngày 7-12-1955, Chính quyền Sài Gòn đưa ra đạo luật số 10 quy định tất cả trẻ em sinh ra do hôn phối giữa người Hoa và người Việt đều được xem là công dân Việt Nam. Sau đó, ngày 21-8-1956, đưa tiếp Đạo luật số 48, theo đó tất cả người Hoa sinh ra tại Việt Nam đương nhiên trở thành công dân Việt Nam. Đạo luật này được áp dụng cho tất cả người Hoa sinh ra tại Việt Nam ở mọi thời điểm, kể cả trước đó (Nguồn: Ramses Amer, người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung- Việt, Kuals Lumpur 1991, tr. 10).

[14]Từ cuối năm 1976 sang đầu năm 1977, ở Trung Quốc có sự thay đổi chínhsách đối với vấn đề gọi là “người Hoa ở hải ngoại”. Nếu trong thời kỳ “cách mạng văn hoá” người Hoa ở nước ngoài bị phân biệt đối xử và nghi ngờ, thì từ đầu năm 1977, Trung Quốc lại mong nhận được sự giúp đỡ của người Hoa ở nước ngoài để phát triển kinh tế đất nước. Chính sách đối với Hoa kiều ở hải ngoại lần đầu tiên được công bố qua một bài viết của Liêu Thừa Chí, Chủ tịch Uỷ ban Hoa kiều Hải ngoại vụ (đăng trên Nhân dân Nhật báo ngày 4-1-1978), trong đó tuyên bố: Trung Quốc sẽ giành quyền bảo vệ tất cả Hoa kiều hải ngoại còn mang quốc tịch Trung Quốc.

[15]Trung Quốc lan truyền tin rằng, “Chính phủ Trung Quốc kêu gọi người Hoa về nước xây dựng Tổ quốc”; “ai không về là phản bội Tổ quốc”.

[16]Tuy nhiên, bên cạnh dòng người Hoa đổ về Trung Quốc, với nhiều người Việt gốc Hoa thực dụng hơn đã coi đây là cơ may để đến được thế giới Tây phương – điều mà những người Hoa ở Đông Nam Á hẻo lánh không mơ tới được (BBCVetnamese.com, 10-2-2009).

[17]Tập tài liệu tổng kết công tác của Đảng (1975-1985),Cục lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng.

[18]Chỉ trong vòng vài tháng, 17 vạn người Hoa đã rời Việt Nam đi Trung Quốc (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979,tr. 86). Sau khi Trung Quốc đóng cửa biên giới (12-7-1978), nhiều người Hoa vẫn cố vượt biên. Theo tính toán của Ramses Amer “thì con số người Hoa ra đi cụ thể từ tháng 4-1978 đến cuối tháng 12-1979 là khoảng trên dưới 25 vạn người” (Nguồn: Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung – Việt, Kuals Lumpur, 1991, tr. 46).

[19]Hội đồng tương trợ kinh tế COMECON đã nhận đảm đương giúp Việt Nam 21 công trình lớn mà Trung Quốc bỏ dở.

[20]Ramses Amer: “Sino-Vietnameses Normalization in the Light of Crisis of the late 1970s”, In: the “Pacific Affairs“, Vol.67, N3, Fall 1994, University of British Columbia Canada, 1994,  tr. 360-361.

[21]Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Sđd, t. 2, tr. 113.

[22]Từ năm 1976, Trung Quốc giảm dần và đến năm 1978 thì cắt hẳn viện trợ: Khoảng 500 triệu đô la thiết bị và 300 triệu đô la/năm hàng hoá, vật tư, trong đó có 34 vạn tấn lương thực, 43 vạn tấn xăng dầu, 30 triệu mét vải và 1 vạn 5 tấn bông, 14 vạn tấn phân bón, 15 vạn tấn ximăng, 20 vạn tấn than mỡ v.v…(Nguồn: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế –xã hội trong 5 năm 1981-1985, Trình hội nghị lần thứ 11 của BCHTƯ Đảng CSVN, khoá IV, Văn phòng lưu trữ Trung ương Đảng).

[23]Ramses Amer: “Sino-Vietnameses Normalization in the Light of Crisis of the late 1970s”, In: the “Pacific Affairs“, Vol.67, N3, Ibid, tr.32.

[24]“Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Sở nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Trung Quốc, số 2, Bản dịch, Lưu tại Phòng Thông tin- tư liệu, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng, 1988),  tr.12.

[25]“Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Tlđd, tr.12.

[26]“Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Tlđd, tr.12.

[27]Về kế hoạch viện trợ này, Vương Thượng Vĩnh đã tuyên bố: “Trung Quốc sẽ đưa sang Campuchia 13.300 tấn vũ khí, trong đó có 4.000 tấn súng đạn, 1.301 xe các loại. Trung Quốc sẽ đào tạo cho Campuchia một trung đoàn pháo binh, một trung đoàn rađa, xây dựng và trang bị một sân bay quân sự, cung cấp cho Campuchia bốn tầu hộ tống và bốn thuyền cao tốc phóng ngư lôi, trang bị một trung đoàn xe tăng, một trung đoàn thông tin liên lạc, ba trung đoàn pháp binh, đào tạo 471 phi công, 157 sĩ quan hàng hải và xây dựng căn cứ hải quân, mở rộng xưởng sửa chữa vũ khí và cảng kép”. Riêng năm 1977, Trung Quốc cấp cho Campuchia 450 khẩu pháo lớn, 244 xe tăng, 1200 xe các loại, 52 máy bay và hai vạn cố vấn trực tiếp nắm và chỉ đạo tất cả mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, xây dựng cho Campuchia một lực lượng vũ trang từ 7 sư đoàn lên 23 sư đoàn

[28]Bộ mặt thật, phản động, phản bội của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và sự đầu độc của chúng đối với quân đội Trung Quốc, Tl d, tr.2.

[29]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Bản dịch, lưu tại thư viện quân đội. tr. 9.

[30]Dẫn theo Ngô Vĩnh Long; Vài câu hỏi về quan hệ giữa ngoại giao và công việc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong thập kỷ sau khi miền Nam được giải phóng, Tạp chí Thời đại mới, số 6/tháng 12-2005.

[31]Phóng viên tờ “Tuần châu Á”.

[32]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.23.

[33]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam,Tlđd, tr.46.

[34]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.47.

[35]Tuy Uông Đông Hưng chuyển chính thức ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc là không đồng ý đưa quân Trung Quốc sang Campuchia trực tiếp chiến đấu, nhưng khuyên Campuchia kháng chiến lâu dài bằng chiến tranh du kích và hứa sẽ hết sức ủng hộ Campuchia Dân chủ, gửi qua Campuchia gần 3 vạn cố vấn quân sự. Pôn Pốt lên đài phát thanh ca ngợi “sự  ủng hộ vô điều kiện” của Trung Quốc với Phnôm Pênh trong cuộc chiến đấu chống Việt Nam.

[36]Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.4.

[37]Michael Lelfer: Xét nghiệm lại cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, Bản dịch, Lưu lại Thư viện Quân đội, 1979, tr.1.

[38]Nghị quyết tuy được đại đa số tán thành, nhưng bị Liên Xô phủ quyết. Còn Sihanouk sau khi dự Đại hội đồng đã bí mật gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc Andrew yêu cầu được tị nạn chính trị, nhưng Hoa Kỳ không đồng ý bởi họ vừa mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc được hai tuần và Đặng Tiểu Bình sắp sang thăm hữu nghị Hoa Kỳ.

[39]Đường biên giới với Trung Quốc được phân định trong các Công ước ngày 26- 6-1887 và ngày 20-6-1895 giữa Chính quyền Pháp (đại diện cho Việt Nam lúc bấy giờ) và nhà Thanh (đại diện cho Trung Quốc). Công ước hoạch định biên giới Pháp – Thanh  ngày 26-6-1887 đã hoạch định lại một số đoạn biên giới tiếp giáp giữa Bắc Kỳ với Vân Nam và nói rõ đường kinh tuyến 105°43′ là đường phân chia chủ quyền các đảo. Công ước bổ sung hoạch định biên giới Pháp – Thanh  ngày 20-6-1895 thống nhất hoạch định các đoạn biên giới mà hai bên còn gác lại trong các văn bản hoạch định trước và hoạch định mới đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam từ sông Đà đến sông Mê Công. Trên cơ sở của các bản Công ước này, từ năm 1889 đến năm 1897, trên toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Pháp và nhà Thanh đã hai bên đã tổ chức phân giới, xác định 314 vị trí mốc và đã cắm được 341 mốc giới trên thực địa. Nhìn chung, trong quá trình đàm phán thương lượng về biên giới, chính quyền Pháp và nhà Thanh đã vận dụng một số nguyên tắc phổ biến của pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn quốc tế trong quá trình xác lập đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung quốc, thực hiện đầy đủ các bước từ xác định nguyên tắc, hoạch định, phân giới và tiến hành cắm mốc trên thực địa cũng như các thủ tục pháp lý khác. Về mặt pháp lý, Công ước năm 1887 và Công ước bổ sung năm 1895 cùng các biên bản, bản đồ phân giới cắm mốc thực hiện hai Công ước là một thể thống nhất các văn bản pháp lý bổ sung cho nhau, cung cấp khá đầy đủ các yếu tố về đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc.  Như vậy, về cơ bản, hai công ước Pháp – Thanh năm 1887 và 1895 thừa nhận đường biên giới lịch sử truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quá trình phân giới cắm mốc, phía Pháp đã nhân nhượng một số vùng lãnh thổ của Việt Nam cho Trung Quốc như Giang Bình, Bát Trang (Quảng Ninh), Đèo Luông (Cao Bằng), Tụ Long (Hà Giang). Trong giai đoạn chế độ Quốc dân đảng ở Trung Quốc, quan hệ biên giới giữa Pháp và Trung Quốc cơ bản ổn định, hệ thống mốc giới được bảo vệ, nhưng lợi dụng tình hình Pháp bị sa lầy và thất bại liên tiếp trong chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã có hành động di chuyển, phá hoại một số mốc giới, lấn chiếm quản lý nhiều khu vực đất đai sang phía Việt Nam.

[40]R.V.Pretcot : Những biên giới của Đông Nam Á, Nxb Membuốc, 1977, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr. 60

[41]Bị vong lục Bộ Ngoại giao Việt Nam, Báo Nhân dân ngày 16-2-1979,tr.4.

[42]Bị vong lục Bộ Ngoại giao Việt Nam, Tlđd.

[43]D. Xtêphanov:Trung Quốc bành trướng trên hướng biển, Nxb Quan hệ quốc tế, Hà Nội,1980, tr. 144.

[44]Lê Kim: Một bước thất bại của bọn bành trướng Bắc Kinh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1984, tr.12.

[45]Trong đó có đề nghị của Uỷ viên Bộ Chính trị Uông Đông Hưng đem quân tham gia trực tiếp tham chiến ở Campuchia; đề nghị của Tư lệnh quân khu Quảng Châu Hứa Thế Hữu[45] ào ạt tấn công Việt Nam; đề nghị của Chính uỷ Hải quân Sử Chấn Hoa đem hạm đội Đông Hải xuống vịnh Thái Lan yểm trợ vùng duyên hải Campuchia. Cuối cùng, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp thuận kế hoạch “phản công tự vệ giới hạn” của Đặng Tiểu Bình (Nguồn: Hoàng Dung: Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, Việt Nam thư quán Online).

[46]Ngày 3-11-1978, Việt Nam và Liên Xô đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện. Bên cạnh những điều khoản về quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, điều 6 của Hiệp ước còn nhấn mạnh: “Trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công hoặc bị đe doạ tấn công, hai bên sẽ trao đổi với nhau nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng những biện pháp thích đáng có hiệu lực để đảm bảo hoà bình, an ninh của hai nước”. Cùng với Hiệp ước này, lực lượng hải quân Liên Xô tăng cường sự có mặt tại Vịnh Cam Ranh và biển Đông. Việt Nam trở thành một trọng điểm trong chiến lược châu Á- Thái Bình Dương của Liên Xô. Ở Cam Ranh, Liên Xô có khoảng 20-30 tầu chiến; 1 sân bay và một số tàu ngầm với lực lượng tổng cộng là 7.000 binh sĩ. Cam ranh trở thành căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài trong so sánh với các căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài.Tuy biết rằng, Hiệp ước này được ký kết sẽ gây chấn động và bất lợi về chính trị, kinh tế, ngoại giao, nhưng tình thế lúc này khôngcho phép Việt Nam chần chừhơn được nữa.

[47]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, 1988, p. 394.

[48]Lê Kim: Một bước thất bại của bọn bành trướng Bắc Kinh, Sđd, tr.12.

[49]Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Tlđd, tr.4.

[50]Tạp chí Sở nghiên cứu quốc tế Trung Quốc, số tháng 2-1981, Bản dịch, lưu tại thư viện quân đội.

[51]Có ít nhất hai lý do để Trung Quốc thực hiện kế hoạch “tấn công giới hạn”: Thứ nhất, Việt Nam cũng là một địch thủ đáng ngại. Trung Quốc không thể nào chịu nổi một cuộc chiến lâu dài, quy mô, bởi nó sẽ gây trở ngại cho chính sách “bốn hiện đại hoá”; thứ hai, một cuộc tấn công giới hạn, nhanh chóng sẽ không gây ra một phả ứng mạnh mẽ trong dư luận thế giới, hay một cuộc tấn công trả đũa từ Liên Xô

[52]Dẫn theo “Kissinger bàn về Trung Quốc”, Pháp luật, Trang thông tin điện tử báo Pháp luật T.P Hồ Chí Minh, ngày 12-2-2012.

[53]Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sđd, tr.91.

[54]Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sđd, tr.91.

[55]Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Tlđd, tr.8.

[56]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.61.

[57]Báo Nhân dân, ngày 18-2-1979, tr. 1.

[58]Báo Nhân dân,  ngày 19-2-1979, tr.1.

[59]Báo Nhân dân,  ngày 5-3-1979, tr.1.

[60]Đảng Cộng sản Việt Nam: Chỉ thị số 67, ngày 1-3-1979,  Về việc phát động và tổ chức toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc,Văn phòng lư trữ Trung ương Đảng.

[61]Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979 “Về cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung Quốc xâm lược”, Văn phòng lư trữ Trung ương Đảng.

[62]Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979, Tlđd.

[63]Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979, Tlđd.

[64]Báo Nhân dân, ngày 19-2-1979, tr.1.

[65]Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979  “Về chủ trươngcủa ta trước tình hình bọn phản động Trung Quốc rút quân”, Lưu tại Cục lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng.

[66]Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979, Tlđd.

[67]Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979, Tlđd.

[68]Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 448.

[69]Những tác động chiến lược của cuộc chiến tranh Đông Dương, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr. 12.

[70]Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A, “Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa”, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr.59.

[71]Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A, “Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa”, Tlđ d, tr.59.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Các tranh chấp lãnh hải và tác động đối với chiến lược biển: Một góc nhìn lịch sử*

 

Bruce A.  Elleman
Giáo sư Trường Cao đẳng Hải quân Mỹ
(US Naval War College)

 

 *Đây là bản dịch Chương 3: “Maritime territorial disputes and their impact on maritime strategy: A historical perspective” trong cuốn Security and International Politics in the South China Sea (An ninh và chính trị quốc tế ở biển Đông) do Sam Bateman và Ralf Emmers chủ biên

Trung Quốc đã nhiều lần đơn phương tuyên bố chủ quyền tại các đảo trên biển Đông từ hơn 100 năm nay. Đô đốc Tát Trấn Băng (Sa Zhenbing), tổng tư lệnh Hải quân Thanh triều đã từng dẫn đầu một tầu viễn dương đến những vùng biển đang trong vòng tranh chấp này vào năm 1907 để khẳng định các tuyên bố về chủ quyền của Thanh triều. Vào thập niên 1930, Nhật Bản đã cho quân đồn trú tại nhiều đảo ở đó cho tới khi những hòn đảo này lọt vào vòng kiểm soát của Trung Hoa Quốc Dân Đảng sau Thế Chiến Thứ Hai. Bất chấp các cuộc phản đối của Trung Quốc, Đài Loan vẫn tiếp tục chiếm đóng một số đảo mang tính chiến lược, bao gồm đảo Đông Sa (Pratas) và Ba Đình (Itu Aba – Taiping Island).

Bù lại việc Trung Quốc đã muộn màng trong việc hiện đại hóa quân đội và ngay cả chưa có hàng không mẫu hạm cho đến tận bây giờ, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc (People’s Liberation Army  ̶  PLA) vẫn phải bám quân ở nhiều đảo và vỉa san hô đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông. Để tăng cường khả năng chỉ huy quân báo, Trung Quốc đang từng bước xây dựng các trạm vô tuyến trên các đồn trú quân rải rác này với các thiết bị điện tử đa dạng, từ các máy chuyển tiếp tín hiệu truyền thông hiện đại cho đến các radar sóng ngắn. Điều này không những cho thấy sự gia tăng về tiềm năng quân sự của Trung Quốc trong khu vực, mà rõ ràng còn là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang chuẩn bị ráo riết cho việc bành trướng thêm nữa đối với các vùng biển còn đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông.

Bằng việc phân tích các mâu thuẫn trong quá khứ ở biển Đông, bài viết này sẽ cho thấy tác động của việc tranh chấp chủ quyền lên việc tăng cường lực lượng hải quân Trung Quốc cũng như tác động lên một chiến lược hiếu chiến hơn về quyền lợi biển nhằm khoanh vùng và ngăn cản các nước khác xâm phạm các vùng lãnh hải mà Trung Quốc tuyên bố là thuộc về họ. Rõ ràng, việc xây dựng dần dần các căn cứ trên các đảo sẽ cho phép Bắc Kinh một ngày nào đó khẳng định nhiều hơn chủ quyền của họ ở biển Đông. Điều suy đoán này đã được xác định vào ngày 4 tháng 12, 2007 khi Trung Quốc đơn phương thông báo thành lập “một thành phố mới” thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý hành chánh quần đảo Hoàng Sa (Paracels), quần đảo Trung Sa (Maccles­field Bank) và quần đảo Trường Sa (Spratlys) bất chấp rằng chủ quyền của những quần đảo này vẫn còn đang trong vòng tranh chấp.

Các tuyên bố lịch sử về chủ quyền tại biển Đông trước Thế chiến Thứ Hai

Có rất nhiều tranh chấp căng thẳng và tiềm tàng giữa Bắc Kinh và các nước láng giềng Đông Nam Á tại vùng biển phía nam Trung Quốc, bao gồm tranh chấp chủ quyền ở đảo Đông Sa (Pratas – Dongsha), quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa, và quần đảo Trường Sa. Tranh chấp công khai về những hòn đảo này đã nổ ra vào năm 1974, khi hải quân Trung Quốc đánh bật hải quân Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi Hoàng Sa, và một lần nữa vào năm 1988 khi quân đội Trung Quốc đánh bật quân đội Việt Nam ra khỏi bãi đá Gạc Ma (Johnson South Reef) thuộc quần đảo Trường Sa. Bắc Kinh luôn lớn tiếng tuyên bố rằng chỉ Trung Quốc mới có chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa (theo cách gọi của Trung Quốc, và là biển Đông theo cách gọi của Việt Nam – người dịch). Điểm đặc biệt là cả Bắc Kinh và Đài Bắc cùng tranh nhau tuyên bố chủ quyền trên rất nhiều vùng lãnh hải tương tự, bao gồm cả các đảo đang nằm trong sự kiểm soát của Đài Loan như đảo Đông Sa và đảo Ba Đình (Itu Aba)  – đảo lớn nhất ở quần đảo Trường Sa.

Đơn phương tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với biển Đông và các đảo phía nam đã được lặp đi lặp lại nhiều lần qua việc Trung Quốc rêu rao rằng đã từng có giao thương hàng hải rộng khắp trong vùng bắt đầu từ thời nhà Hán (206TCN – 220 SCN).[1] Thời nhà Minh (1368-1644), các đoàn tàu viễn dương Trung Quốc thường đi ngang các vùng nước này để đi đến eo biển Malacca, và các đoàn thuyền đầy chở đầy của cải của Trịnh Hòa (Zheng He) có thể đã ghé lại một vài đảo lớn ở đây. Mặc dù nếu tính tất cả diện tích, lãnh hải bao quanh quần đảo Trường Sa lên đến 180,000 km2, nhưng chỉ khoảng một trên một chục các đảo ở đó là có thể ở được với tổng cộng chưa đến 10 km2 đất liền.[2] Vào giữa thế kỷ 19, nhà Mãn Thanh đã thiết lập được mối quan hệ thương mại “phồn vinh” giữa Đông và Tây và do đó “các thương thuyền Trung Quốc và thương nhân phương Tây đã có thế mạnh trong nền kinh tế khu vực.”[3]

Mặc dù các ngư dân Trung Quốc thường đến đánh bắt hải sản ở biển Đông trong hai thiên niên kỷ vừa qua, nhưng chẳng có bằng chứng nào cho thấy Trung Quốc đã đánh dấu các lãnh hải của họ ở biển Đông. Nước phương Tây đầu tiên tuyên bố chủ quyền chính thức đối với Trường Sa là Vương Quốc Anh vào năm 1864, và sau đó Nhật cũng tuyên bố chủ quyền ở đây vào năm 1877 và 1889. Thật ra những hòn đảo này chỉ là một vài đảo trong số hơn 100 hòn đảo trên Thái Bình Dương mà Vương Quốc Anh đã từng tuyên bố chủ quyền để sử dụng chúng như những trạm tiếp liệu. Rất nhiều những hòn đảo như thế sau này đã được chuyển quyền cai quản sang Tân Tây Lan.[4]

Sau xung đột Trung-Pháp 1884-1885, Pháp biến An Nam (Việt Nam) thành một xứ bảo hộ và sau đó thành thuộc địa, và trong chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất năm 1894-1895, Nhật chiếm cứ Đài Loan. Bắt đầu từ đấy, Trung Quốc đã phản đối các hoạt động khai mỏ bất hợp pháp trên các đảo giàu phốt-pho và phân chim ở Đông Sa và Trường Sa. Đó là lý do vào năm 1907 đô đốc Tát Trấn Băng đã dẫn đầu đội hải quân viễn chinh đòi lại những đảo này cho nhà Thanh như đã nhắc ở trên. Sự xuất hiện bất ngờ của đô đốc họ Tát đã buộc những phu mỏ đang làm việc ở đó phải rút lui.

Lo sợ rằng các đảo mà họ tuyên bố có chủ quyền sẽ dần rơi vào tay các nước khác, tháng 9 năm 1909 chính quyền nhà Thanh đổi tên Ủy ban Cải Tổ Hải Quân thành Bộ Hải Quân nhằm chính thức hiện đại hóa hải quân Trung Quốc. Ngay sau khi được đổi tên, Bộ Hải Quân Trung Quốc lập tức tiến hành một số hoạt động trên biển Đông, và vào năm 1909 và 1910, họ đã chính thức tuyên bố sáp nhập những đảo đang còn trong vòng tranh chấp này vào tỉnh Quảng Đông và đồng thời tuyên bố hàng năm sẽ biệt phái một tàu đến biển Đông “để duy trì liên lạc với những người Trung Quốc ở những đảo này.”[5]

Cùng với sự sụp đổ của Thanh triều, Trung Quốc đã rơi vào tình trạng hỗn loạn trong nhiều năm. Vào năm 1926, hải quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng vừa mới thành lập đã xây dựng một trạm vô tuyến ở Đông Sa. Nhân lúc Trung Quốc suy yếu, người Pháp ở Đông Dương đã sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào thuộc địa Đông Dương vào năm 1932. Thấy thế, sau khi chiếm được Trung Quốc vào năm 1937, Nhật cũng tuyên bố chủ quyền của họ đối với quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, và Trường Sa. Cũng vào năm đó, Nhật chiếm đảo Đông Sa, bắt giữ và thẩm vấn 29 lính Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Quan ngại trước những đe dọa từ Nhật Bản, Pháp đã tức tốc gửi một đội tàu viễn dương tới Hoàng Sa, và chính thức tuyên bố chủ quyền đảo này là thuộc Việt Nam vào ngày 4 tháng 7 năm 1938. Ngay lập tức, chính phủ Quốc Dân Đảng ở Trùng Khánh và chính phủ Nhật Bản đã phản đối hành động của Pháp; thậm chí vào ngày 8 tháng 7 năm 1938 Nhật Bản còn ra tuyên bố phản đối Pháp đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc khi Pháp chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Sau đó, Pháp lại tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như là một phần của Liên Hiệp Pháp vào năm 1939. Đáp trả lại, vào ngày 31 tháng 3 năm 1939, Nhật Bản thay mặt Đài Loan, lúc đó đang là một phần của đế quốc Nhật Bản, lên tiếng phản đối về việc tuyên bố chủ quyền của Pháp. Tuy nhiên, khi Pháp rút quân một năm sau đó, Nhật tái chiếm Hoàng Sa, nhưng lúc này không phải trên danh nghĩa cho Đài Loan mà là cho chính chủ quyền của Nhật dựa trên tuyên bố chủ quyền từ năm 1917, mà theo đó chủ quyền của họ đối với quần đảo Trường Sa là từ 7 đến 12 vĩ độ Bắc và 111’30’’ đến 117 kinh độ Đông! Từ năm 1939 đến 1946, Nhật chiếm đóng đảo Ba Đình, xây dựng các kho nhiên liệu, căn cứ tàu ngầm, và trạm vô tuyến ở đây. Mãi đến gần cuối Thế Chiến Thứ Hai thì Nhật Bản bị buộc phải rút lui.

Các tuyên bố chủ quyền ở biển Đông sau Thế Chiến Thứ Hai

Trước Thế Chiến Thứ Hai, Trung Quốc đã bỏ mặc Hải Nam mặc dù đã có một trạm hải quân ở Hải Khẩu được xây dựng vào đầu những năm 1900. Mãi đến năm 1926, quân của Tưởng Giới Thạch mới tiếp thu quyền kiểm soát Hải Nam từ tay các lãnh chúa ở Quảng Đông. Tuy nhiên Hải Nam vẫn chưa được dùng làm là căn cứ hải quân hay quân sự quan trọng nào cho đến khi chính phủ bù nhìn Trung Quốc, dưới quyền Vương Tinh Vệ, cho phép Nhật chiếm đóng Hải Nam và Nhật đã nhanh chóng xây dựng một căn cứ không quân và hải quân ở Hải Khẩu vào tháng 2 năm 1939.

Trong thời gian chiếm đóng Hải Nam, người Nhật đã xây dựng nhiều khu công nghiệp và quân sự rộng lớn song song với việc khai thác các mỏ sắt và than đá lớn, cũng như thiết lập những đường xe lửa đầu tiên nối các khu công nghiệp đó với các căn cứ tàu ngầm của Nhật ở Ngọc Lâm (Yulin). Sau khi Nhật rút quân khỏi Hải Nam vào năm 1945, một cơn bão lớn vào năm 1946 đã tàn phá nhiều khu mỏ, đường sắt và các căn cứ hải quân ở đó. Quân đội Trung Quốc thuộc quân khu Bốn đã chiếm được Hải Nam sau khi đè bẹp sự chống trả quyết liệt từ quân đội của Tưởng Giới Thạch vào ngày 1 tháng 5 năm 1950.[6]  Căn cứ không quân Hải Khẩu được chính thức được tái khánh thành bởi tư lệnh quân đội Trung Quốc vào tháng 6 năm 1952. Vào thời điểm đó, hệ thống liên lạc thông tin duy nhất của hạm đội Nam Hải Trung Quốc là một trạm vô tuyến tần số thấp ở Trạm Giang. Mãi đến năm 1957 hải quân Trung Quốc mới bắt đầu mở rộng các cở sở quân sự hạ tầng ở Hải Nam.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, Trung Hoa Quốc Dân Đảng lại chiếm lại đảo Đông Sa từ tay Nhật Bản và một lần nữa xây dựng một trạm vô tuyến ở đó. Năm 1947, chính phủ Trung Hoa Quốc dân Đảng tuyên bố chủ quyền của họ đối với gần như toàn bộ biển Đông với “đường yêu sách chín đoạn” qua những bản đồ được in ở Trung Quốc vào thời đó. Năm 1949, khi Trung Hoa Dân Quốc phải rút về cố thủ ở Đài Loan thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã tiếp nhận quan điểm chủ quyền “đường yêu sách chín đoạn” nói trên về biển Đông mà còn tranh chấp cả với Đài Loan về chủ quyền quần đảo Đông Sa.

Khi Thế Chiến Thứ Hai kết thúc, tranh chấp quốc tế về quần đảo Hoàng Sa lại tái diễn với việc Trung Hoa Quốc Dân Đảng xây một căn cứ trên đảo Phú Lâm (Woody Island) tại phía Bắc nhóm đảo An Vĩnh (hay Tuyên Đức – Amphitrite group), và tái khẳng định các tuyên bố chủ quyền của họ đối với quần đảo Trường Sa bằng cách đóng quân ở đảo Ba Đình từ năm 1948 đến 1950. Trong khi đó, Pháp cho đồn trú hải quân An Nam xa hơn ở phía Tây trên đảo Hoàng Sa thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết – Crescent group) thuộc quần đảo Hoàng Sa. Khi Trung Hoa Quốc Dân Đảng bị buộc phải rút lui khỏi đảo Hải Nam vào năm 1950, họ cũng bị đánh bật khỏi đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Theo sau việc rút quân của Quốc Dân Đảng, Trung Quốc đưa ra các tuyên bố chính thức về chủ quyền đối với các đảo này và Pháp cũng đại diện Việt Nam tuyên bố chủ quyền như thế. Năm 1951, Nhật Bản từ bỏ tất cả các tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như là một phần trong Hiệp ước Hòa Bình San Francisco và, một cách gián tiếp, trao quyền quản lý các đảo này cho Pháp. Khi Việt Nam bị chia thành hai miền Nam – Bắc, các đảo này trở thành một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa.

Đảo Phú Lâm gần như không có người ở trong suốt những năm cuối của thập niên 1950. Vào năm 1974, lợi dụng cuộc tổng tiến công của quân đội Bắc Việt xuống miền nam Việt Nam, hải quân Trung Quốc đã đánh bật hải quân Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi Tây Hoàng Sa, và một lần nữa tuyến bố chủ quyền với tất cả các đảo ở đây. Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, chính quyền Hà Nội đã gửi công văn chính thức phản đối Bắc Kinh và tái khẳng định chủ quyền của mình đối với tất cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1979, e rằng hải quân Trung quốc đang đồn trú ở Trường Sa có thể tham gia vào cuộc xâm lăng Việt Nam, và Trung Quốc rất có thể sẽ tìm cách chiếm thêm nhiều đảo nữa trong vùng đang tranh chấp, một số các tàu chiến Xô-Viết đã được lập tức gửi đến Việt Nam. Ngày 22 tháng 2 năm 1979, tùy viên quân sự Liên Xô ở Hà Nội, Đại tá N.A. Trarkov, thậm chí đe dọa rằng Liên Xô sẽ “thực hiện các nghĩa vụ của họ như đã được thỏa thuận trong hiệp ước hữu nghị Việt – Xô”; một mặt, các nhà ngoại giao Xô-Viết đã tỏ rõ quan điểm của Liên Xô là họ sẽ không can thiệp khi mà xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam còn ở mức hạn chế.[7]

Năm 1988, Trung Quốc chính thức sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Hải Nam. Tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc, gồm ba khu trục hạm có trang bị tên lửa, đã đánh bật bộ đội Việt Nam ra khỏi vị trí họ đang trú đóng tại bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa. Mặc dù không có thêm những cuộc chạm súng những năm sau đó, quan hệ Việt-Trung vẫn tiếp tục căng thẳng. Ví dụ như là vào năm 1992, tàu chiến Trung Quốc đã áp giải một loạt các tàu hàng Việt Nam, ngược lại vào năm 1994 một tàu nghiên cứu địa chấn, điều hành bởi công ty Crestone Energy – một đối tác đầu khí của Trung Quốc đóng trụ sở ở Colorado, bị một tàu hải quân Việt Nam chĩa súng và ra lệnh rời khỏi khu vực còn trong vòng tranh chấp.

Trong năm 2002, Trung Quốc và các nước thuộc khối ASEAN đã đồng ý giải quyết các tranh chấp còn tồn tại trên nguyên tắc hòa bình. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền của họ trên toàn bộ quần đảo Trường Sa. Trong khi đó, vì không được mời, nên trước ngày các hiệp định được ký kết, Đài Loan đã tuyên bố là họ sẽ không tuân thủ bất kỳ một thỏa ước đa phương nào mà họ không được chấp nhận là thành viên. Cần hiểu rằng Đài Loan vẫn đang thực sự kiểm soát một số hòn đảo thuộc loại lớn nhất và sẵn sàng đáp trả với lực lượng hải quân đáng gờm của họ, do đó bất cứ giải pháp lâu dài nào cũng phải tính đến Đài Loan.

Các tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông xem ra rất phức tạp. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ đối với quần đảo Hoàng Sa, trong khi đó Đài Loan và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với đảo Đông Sa và Trung Sa. Đối với quần đảo Trường Sa, thì Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan tuyên bố toàn bộ chủ quyền, các nước Philippines, Brunei, Indonesia, Malaysia và Indonesia có những tuyên bố giới hạn hơn (tuyên bố chủ quyền một phần – người dịch). Ngoại trừ Brunei, thì tất cả các quốc gia trong danh sách kể trên đều đã từng có các hoạt động quân sự để hỗ trợ cho các tuyên bố chủ quyền của họ trong vùng tranh chấp này; chỉ riêng trong năm 1990 đã có trên một chục các báo cáo về tranh chấp lãnh hải ở đây. Tuy nhiên, trong tất cả các nước đang tuyên bố chủ quyền lãnh hải ở biển Đông, chỉ có Trung Quốc liên tục tìm cách xây dựng và củng cố rất nhiều các cơ sở hạ tầng để phục vụ các mục tiêu chiến lược cho một ngày nào đó nếu họ cần dùng đến vũ lực.

Các căn cứ quân sự của Trung Quốc ở biển Đông

Các căn cứ quân sự của Trung Quốc ở biển Đông dần dần được củng cố và có khả năng tác chiến cao hơn. Điển hình là đảo Hải Nam với hạ tầng cơ sở viễn thông được nối kết rất tinh vi và được ngụy trang rất khó phát hiện từ khi Trung Quốc chủ động bành trướng xuống phía nam đảo Hải Nam qua việc cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam vào năm 1974. Trong thập niên 1990 Trung Quốc tiếp tục xây dựng thêm các căn cứ quân sự trên một số hòn đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa. Dựa trên các thiết bị điện tử và cơ sở vật chất được quan sát qua vệ tinh, thì đảo Phú Lâm và bãi đá Gạc Ma dường như là hai căn cứ chính cho các hoạt động bành trướng của hải quân Trung Quốc kéo dài từ biển Đông đến tận eo biển Malacca. Các đảo và các rặng đá ngầm khác có vũ trang của Trung Quốc được nối kết qua vệ tinh hay trạm vô tuyến mặt đất, và thậm chí họ còn có mạng Internet để liên lạc giữa các tướng lĩnh địa phương và các hạm đội. Đó là chưa kể đến các thiết bị điện tử tinh vi trên các chiến đấu cơ, tàu chiến, và tàu ngầm, tất cả đều phục vụ vào việc tăng cường tiềm năng quân sự sẵn có trên đất liền của Trung Quốc rất nhiều.[8]

 Các căn cứ quân sự trên đảo Hải Nam

Phần lớn các căn cứ quân sự ở bờ biển phía nam Trung Quốc được kết nối vô tuyến với các hoạt động hải quân ở ngoài khơi. Trung tâm đầu não của hệ thống viễn thông này dường như tập trung ở đảo Hải Nam. Mặc dù là tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc tính về mặt lãnh thổ, chỉ khoảng 35000 km2, tỉnh Hải Nam là nơi đặt tổng hành dinh của Cục bờ biển và hải đảo Trung Bộ, Tây, và Nam Trung Quốc để giám sát quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa, và quần đảo Trường Sa. Theo tính toán này, vùng biển đảo Hải Nam xấp xỉ khoảng 2 triệu km2, hay là gấp 50 lần diện tích lãnh thổ đất liền của nó cho nên việc quản lý của Trung Quốc đối với các vùng lãnh hải này rất là khó khăn và tốn nhiều thời gian.[9]

Để kiểm soát được một khu vực rộng lớn như thế, một ra-đa lớn loại quét sóng quá chân trời (OverTheHorizon Backscatter Radar- OTHB Radar) được đặt gần bờ biển Hải Nam và chĩa thẳng về hướng Nam. Trong thập niên 1970, Trung Quốc đã từng thử nghiệm radar loại OTH có đường kính 2,3 mét với khả năng phát hiện tàu qua lại trong vòng bán kính 250 km.[10] Để tuần tra khu vực này, các tàu hải quân Trung Quốc được trang bị hệ thống định vị có khả năng bắt tín hiệu vệ tinh của Trung Quốc cũng như là của nước ngoài. Một thiết bị hướng dẫn hải quân chính khác là hệ thống định vị mặt đất kỹ thuật số DGPS, được sản xuất bởi công ty thiết bị viễn thông Hoa Kỳ, công ty Communication Systems International, có độ chính xác khoảng 5 đến 10m trong phạm vi hoạt động 300 km. Việc nghiên cứu được bắt đầu vào thập niên 1970 qua ba trạm tín hiệu hỗ trợ hướng dẫn vô tuyến điện công suất lớn ở miền nam Trung Quốc. Trong khi đó các trạm tín hiệu hỗ trợ hướng dẫn vô tuyến kết nối hàng hải (RBN-DGPS) được đặt ở Tam Á, Hải Khẩu, và Haifou. Một trạm tín hiệu DGPS khác có công suất cao hơn với tần số 295 kHz được đưa vào hoạt động vào năm 1999 tại Tam Á, và sau đó thêm hai trạm ở Yangpu và Baohujiao cũng tại miền nam Trung Quốc.

Từ năm 2000, Trung Quốc đã phóng ba vệ tinh lên quỹ đạo không gian để thiết lập cho riêng họ hệ thống vệ tinh định vị Beidou, còn gọi là “Big Dipper”. Khác với hệ thống GPS của Mỹ và GLONASS của Nga, Beidou là hệ thống vệ tinh định vị khu vực. Từ khi được đưa vào hoạt động vào năm 2008, hệ thống định vị Beidou đã giúp Trung Quốc ít lệ thuộc hơn và đang dần dần “trở thành một đối thủ đáng gờm đối với vai trò tiền phong của các vệ tinh định vị của Mỹ và châu Âu,”[11] đặc biệt là một thách thức đối với vị trí dẫn đầu trong hai thập niên qua của hệ thống định vị GPS của Mỹ. Mặc dù chỉ có khả năng giúp định vị một cách hạn chế, chủ yếu là vùng bờ biển Trung Quốc, hệ thống Beidou có thể phủ sóng tới toàn bộ phần lãnh hải mà Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền ở biển Đông.

Trong khi đó, dịch vụ kiểm soát hàng hải (VTS) được đặt ở Trạm Giang với sự hỗ trợ của hệ thống vi tính hiện đại và các radar được xây dựng dọc theo bờ biển phía Tây Hải Nam tại Dong Fang và ở Hải Khẩu. Hệ thống kiểm soát hàng hải này “được trang bị một trạm radar tần số X – một ở trong đất liền và ba được điều khiển từ xa cùng một thiết bị xác định phương hướng tần số VHF.”[12] Đa số các thiết bị vô tuyến cao cấp kể trên Trung Quốc đã mua của công ty Hoa Kỳ Lockheed Martin nhằm trang bị các phần cốt lõi của hệ thống hàng hải viễn liên. Vì các căng thẳng liên tục với Việt Nam, Trung Quốc cũng đặt mua một số hệ thống tình báo điện tử (ELINT) quan yếu để lắp đặt trên đảo Hải Nam gồm có một trạm tại phía Tây Nam và một trạm ở bờ biển phía Đông Nam thuộc căn cứ không quân Lăng Thủy (Lingshui), khu liên hợp quân sự được thành lập vào năm 1968 và sau đó được mở rộng rất nhiều vào năm 1995, với khoảng 1000 chuyên gia phân tích tín hiệu ở đây. Một trung tâm thu thập tín hiệu vệ tinh cùng một khu liên hợp vi tính kết nối với Bắc Kinh có thể được đặt ở Trường Thành (Changcheng), Hải Nam, mặc dù vai trò chính thức của khu liên hợp này là để hỗ trung tâm hải dương học quốc gia thu thập các số liệu về thời tiết từ một trung tâm thời tiết của Trung Quốc đặt ở Nam cực.

Để hỗ trợ cho các hoạt động tàu ngầm ở khu vực này, một trạm vô tuyến tần số thấp công suất cao đã được xây dựng ở Hải Nam vào năm 1965. Một căn cứ tàu ngầm ở Ngọc Lâm (Yulin) được nối kết chặt chẽ với Tổng hành dinh của các tàu nhỏ và tàu ngầm Thứ 32. Những trung tâm này bao gồm việc thông tin vô tuyến tần số rất thấp (VLF) với tàu ngầm và các tàu mặt biển ở vùng biển Đông. Tính tới năm 1985, năm trung tâm vô tuyến VLF được đặt ở Phúc Châu (Fuzhou), Lữ Thuận Khẩu (Lushun), Ninh Ba (Ningbo), Trạm Giang (Zhanjiang), và Ngọc Lâm (Yulin). Ngoài các nhiệm vụ dân sự kể trên, hệ thống quản lý giao thông vô tuyến này còn giúp điều phối một cách hiệu quả các tàu ngầm quân sự đang di chuyển trong vùng nước nông trên eo biển Quỳnh Sơn (Qiongzhou) nằm giữa đảo Hải Nam và lục địa.

Các căn cứ quân sự ở Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa là nơi Trung Quốc có các căn cứ quân sự đứng thứ hai về tầm quan trọng chỉ sau Hải Nam xét về phương diện hệ thống hỗ trợ điện tử vô tuyến. Một bức không ảnh về Hoàng Sa vào thập niên 1980 cho thấy một chuỗi ăng-ten lớn gồm 16 cái, mỗi cái gồm 8 nhánh ăng-ten trời (Yagi cross arm).  Đây có thể là một trạm VHF, nhưng lại được miêu tả rất khác nhau như là một ăng-ten thông tin vệ tinh,”[13] hay là một mảnh hình thánh giá của radar cảnh báo thế hệ cũ.[14]  Đảo Phú Lâm hình như được trang bị một radar tiếp cận chính xác (PAR), tần số X kiểu 791. Tháng 6 năm 2001, có một nguồn tin không chính thức cho rằng Trung Quốc đã đưa tên lửa chống hạm HY-2 lên đảo. Nếu tin đồn này là đúng thì nhiên hậu Trung Quốc sẽ phải xây dựng một radar thám sát tầm xa đặt trên đảo để phát hiện các mục tiêu di động trên mặt biển Đông.[15]

Đầu tiên Trung Quốc đã xây dựng một đường băng dài khoảng 360 mét ở đảo Phú Lâm.[16] Sau đó, đường băng được mở kéo dài thành trên hai kí-lô-mét, và cuối cùng là hai kí-lô-mét rưỡi. Đường băng bê-tông này có thể tiếp nhận các máy bay ném bom và các máy bay vận tải lớn. Trong khi đó, một cầu tàu dài hơn được xây dựng để tăng cường cho cầu tàu duy nhất trên đảo. Gần với đường băng là “một khu chứa máy bay bao gồm bốn nhà khối bê tông có mái che, mỗi cái có thể chứa hai máy bay chiến đấu, và một bãi đậu có thể chứa thêm 30 chiếc nữa. “Ngoài ra còn có thêm một khu đặt súng cao xạ bắn máy bay ở đầu cuối phía Bắc đảo Phú Lâm. Từ năm 1991, cả thảy đã có 67 chiến đấu cơ với tổng cộng 14 lần điều động đến đảo này.”[17]

Đảo lớn nhất ở quần đảo Hoàng Sa cũng có tên là Hoàng Sa (Pattle Island), nơi từng đặt một trạm ghi nhận thời tiết. Trong khi đó một cảng thuộc đảo Quang Hòa Đông (Duncan) – đảo lớn thứ hai ở Hoàng Sa mà theo báo cáo đã được mở rộng với việc gia cố các công sự phòng thủ và lắp đặt các trang thiết bị điện tử viễn thông. Mặc dù chưa thấy có tin tức gì về các thiết bị vô tuyến được xây dựng trên đảo Duy Mộng, trọng tâm của cuộc hải chiến Việt Trung vào năm 1974, nhưng giữa năm 1995, một trạm thám báo vô tuyến mới được đưa vào hoạt động ở đảo Hòn Đá (Rocky) gần đảo Phú Lâm.[18]

Mặc dù Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố là sẽ không can thiệp vào việc tự do đi lại của các tàu bè quốc tế, nhưng họ từ chối minh bạch hóa những vùng nào mà họ tuyên bố là có chủ quyền. Bằng cách vẽ “đường yêu sách chín đoạn” bao quanh quần đảo Hoàng Sa, Bắc Kinh rõ ràng đã đơn phương sát nhập vào họ các vùng lãnh hải và không phận thuộc vùng tự do đi lại quốc tế từ xưa đến nay. Theo Mark Valencia, rất có thể Bắc Kinh sau này sẽ bắt buộc các tàu bè qua lại phải xin phép khi đi qua các vùng đang được tự do di chuyển hiện nay. Dĩ nhiên là bây giờ Trung Quốc chưa thể áp đặt một chính sách như thế nhưng khi họ đủ mạnh, họ có thể sẽ thực hiện điều này.[19] Việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự và thám báo trên quần đảo Trường Sa khiến khả năng có một chính sách kiểm soát qua lại trên biển Đông nghiêm ngặt như thế ngày càng trở nên hiện thực hơn.

Các căn cứ trên quần đảo Trường Sa

Mặc dù phân tán trên một vùng rộng lớn, một vài đảo thuộc quần đảo Trường Sa có thể trở thành căn cứ quân sự của Trung Quốc. Trong quá khứ quần đảo Trường Sa gần như không có người ở cho mãi đến Thế Chiến Thứ Hai khi Nhật Bản xây dựng các công sự ở đảo đá Danger (Danger Reef- nay là đảo đá Kingman – người dịch), cồn Tizard (Tizard Bank) và đảo Nam Yết (Namyit); rất nhiều khu vực đó hiện nay đang có quân đội Việt Nam và Philippines trú đóng. Đảo Ba Đình là một trong những đảo nằm xa nhất về hướng Bắc của quần đảo Trường Sa và là một trong số rất ít những đảo đủ lớn để xây dựng một sân bay và một căn cứ tàu ngầm.[20]  Đài Loan vẫn tiếp tục chiếm giữ đảo Ba Đình, và gần đây đã kéo dài đường băng ở đấy để có thể tiếp nhận được những máy bay trọng tải lớn hơn.

Trung Quốc đang tìm mọi cách để nhanh chóng thay đổi cán cân quyền lực mỏng manh trong vùng bằng cách xây dựng các căn cứ ở những đảo nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa này. Vào thập niên 1980, các cuộc tuần tra trên biển bằng các tàu nghiên cứu đại dương đều được các tàu chiến Trung Quốc hộ tống. Sau khi các tàu dân sự và tàu khoa học thăm dò khu vực này vào tháng 10 năm 1987, Trung Quốc đánh chiếm bãi đá Chữ Thập (Fiery Cross Island hay là Chigua Atoll) vào tháng 3 năm 1988. Các bức không ảnh cho thấy một tòa nhà xi-măng dài trên bãi đá chữ thập có vẻ giống như các ăng-ten ra-đa HF tiêu chuẩn của các tầu chiến:

Một ăng-ten Trung Quốc làm nhái theo kiểu Bean Sticks của Mỹ có tần số từ 70 đến 73 MHz và phạm vi hoạt động trong vòng bán kính 180 km. Hai vòm của hai ăng-ten phát sóng đặt trên tòa nhà tương tự như là thiết bị RWS-1 đặt trên các khu trục hạm của Mỹ. Một vài cáp của ăng-ten truyền thông và cột ăng-ten cao hơn cũng được đặt trên nóc nhà.[21]

Vào năm 1988-1989, vài chục tàu chiến Trung Quốc cũng tiến hành các cuộc tập trận lớn trùng với việc chiếm đoạt thêm một số dải đá ngầm chiến lược ở quần đảo Trường Sa. Sau đó vào tháng 11 năm 1990, Trung Quốc công bố một bản báo cáo về hải lưu rất dài của các tàu “nghiên cứu”.[22] Tới thập niên 1990, Trung Quốc lại khởi công xây dựng các trạm đóng quân tạm thời và các công trình bát giác bằng gỗ trên các cọc gỗ ở sáu rặng đá ngầm. Những công sự này được chính quyền Bắc Kinh gọi là “những chòi trú bão”.[23]

Một căn cứ quân sự nhỏ khác cũng được xây dựng ở bãi đá Gạc Ma. Theo các bức không ảnh, các nhà gỗ bát giác tạm thời này ban đầu được xây trên những cọc gỗ nhưng đến năm 1989 thì hai ăng-ten liên lạc vệ tinh đường kính 2,5m đặt cạnh một trụ ăng-ten cao 2,4m được lắp đặt trên hai tòa tháp tròn xi-măng nằm trên hai đầu của một tòa nhà xi măng hai tầng. Trong khi đó ở rặng đá Su bi (Subi Reef), Trung Quốc cho xây một trại lính và một tòa nhà hai tầng cùng với một ăng-ten liên lạc vệ tinh. Trạm này cũng có “một sân đáp trực thăng và một cầu xi-măng kiên cố với nhịp uốn xi măng nối liền với tòa nhà sở chỉ huy.”[24]

Năm 1995, Trung Quốc bắt đầu xây dựng trên bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef) và tháng 10 năm 1998 họ bắt đầu mở rộng thêm với việc lắp đặt những chảo ăng-ten vệ tinh 2,5m. Theo một nguồn tin, những tòa nhà xi-măng 2 tầng này giống với những công sự phòng thủ được trang bị với những ăng-ten râu tần số cao liên lạc trực tiếp qua vệ tinh.[25] Hai năm sau đó, các bệ súng và các thiết bị điện tử chính được lắp đặt thêm ở một tòa nhà nhỏ hơn ở phía Bắc. Các cầu tàu, bãi đáp trực thăng, và một số súng phòng không đã được dựng lên, cùng với một hệ thống tên lửa chưa xác định được là loại gì. Có một vài báo cáo cho rằng đó là những tên lửa chống hạm Silkworm.[26]

Trong khi đảo Hải Nam là nơi đồn trú tất cả các căn cứ hải quân và không quân chủ lực, thì các phương tiện thiết bị nhỏ hơn nhiều ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa giúp liên lạc và thám báo cho các cuộc viễn chinh hàng hải trong tương lai và cho các tàu ngầm Trung Quốc thường xuyên qua lại biển Đông. Để hỗ trợ cho các tàu trên mặt biển, Trung Quốc đã dần dần tăng số lượng máy bay, tàu ngầm và hạm đội trong vùng này. Vài năm gần đây, Hải quân Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động tuần thám và tập trận ở rất xa vươn tới vịnh Bengal và biển Andaman, nơi mà Trung Quốc bắt đầu xây dựng trạm tình báo điện tử (SIGINT) quan yếu đời mới vào năm 1993, và “đang nắm quyền kiểm soát đảo Coco của Miến Điện với hệ thống thám báo vô tuyến điện tử và ra-đa công suất cao của Nga cùng với các trạm thám báo điện tử bổ sung ở Man-aung, Hainggyi và Zadetkyi Island.”[27]

Các lực lượng hải quân, tàu ngầm và thủy lục không quân của Trung Quốc

Hạm đội Nam Hải cuả Trung Quốc đóng ở Trạm Giang (Zhanjiang), tỉnh Quảng Đông. Trực chỉ về hướng nam, đảo Hải Nam, là căn cứ cho rất nhiều máy bay đánh chặn tầm xa SU-27K và hạm đội tàu ngầm Thứ 32. Từ đây, các lực lượng mặt biển tinh nhuệ của Trung Quốc được hỗ trợ bởi các trạm thám báo vô tuyến ở Hoàng Sa và Trường Sa với thông tin liên lạc, thông tin tình báo và hậu cần hải quân. Các căn cứ trải rộng như vậy cũng giúp đỡ các hoạt động hàng hải khác của Trung Quốc gần đây được nhắc đến như là những mắt xích quan trọng trong “chuỗi ngọc trai”, nối Trung Quốc với các nhà cung cấp dầu quan trọng ở Trung Đông.[28]

Thủy không quân

Để hỗ trợ cho các mục tiêu hàng hải trên biển Đông, Trung Quốc phải gia tăng tối đa việc kiểm soát không phận của họ. Hải quân và không quân hỗ trợ các hoạt động chiến đấu ở Hoàng Sa vào thập niên 1970 và ở quần đảo Trường Sa vào thập niên 1980. Việc hỗ trợ bằng không quân này đã tăng theo thời gian rất nhiều từ việc cung cấp các máy bay trực thăng cho đến các máy bay ném bom hải quân. Trong suốt hai thập niên vừa qua, quân số của hải quân và không quân Trung Quốc đã tăng gấp đôi, từ 15.000 lên hơn 30.000, và số lượng máy bay tăng từ 400 lên 700 chiếc. Việc tăng cường khả năng tiếp nhận của thủy không quân vào biển Đông càng được đẩy mạnh hơn nữa bằng việc hoàn thành đường băng trên đảo Phú Lâm. Một bức ảnh vệ tinh vào tháng một năm 1999 đã cho thấy một cơ sở tiếp nhiên liệu cho các máy bay hải quân đang được xây dựng.[29] Cùng với việc có thể chứa một lúc đến 1000 binh sĩ ở Hoàng Sa, các quan sát không ảnh cũng cho thấy: “các máy bay đặt căn cứ ở đảo Phú Lâm có thể vươn tới nhiều mục tiêu dọc bờ biển Việt Nam và các đảo Trường Sa.”[30]

Trung Quốc cũng đang tiến hành kết nối các hệ thống hướng dẫn hàng hải, bao gồm mạng lưới hỗ trợ hướng dẫn bao quát tầm xa từ Hàn Quốc cho tới Hải Nam với tầm hoạt động vào ban ngày là 1200-1700km, có thể vươn tới Đài Loan và Nhật Bản, và tầm hoạt động ban đêm có thể đạt tới gần 3000km. Vào tháng 4 năm 1984, Trung Quốc đã phóng thành công vệ tinh đầu tiên của họ dùng sức đẩy của tên lửa Trường Chinh-3. Kể từ đó, đã có thêm hàng chục cuộc phóng vệ tinh khác trong đó ít nhất đã có 9 vệ tinh viễn thông thuộc 3 kiểu khác nhau được sử dụng để hỗ trợ các phương tiện liên lạc quân đội của Trung Quốc.

Trung Quốc không thiết kế hay là phóng các vệ tinh hải dương học cảm ứng từ xa, mà nâng cấp các trạm thu tín hiệu trên mặt đất của Cục Hải dương học Trung Quốc để có thể thu thập các thông tin dữ liệu giúp giám sát đại dương từ các vệ tinh nước ngoài như các vệ tinh của Nhật Bản, GMS, Landsat, Nimbus-1, và NOAA của Mỹ

Trung Quốc cũng lắp đặt các trang thiết bị đặc biệt cho nhiều tàu nghiên cứu hải dương học của họ. Mười tàu nghiên cứu hải dương lớn Xiang Yang Hong (East is Red) có trọng tải rất khác nhau từ 15.000 tấn đến chỉ có 1.000 tấn. Ngoài ra cũng có khoảng mười hai tàu nghiên cứu hải dương học khác, mỗi chiếc khoảng 3000 tấn, và nhiều tàu nhỏ được trang bị hiện đại để khảo sát đại dương. Tất cả những con tàu này đều có thể được sử dụng để hỗ trợ cho việc phát triển hạm đội tàu ngầm Trung Quốc

Các tàu ngầm của Trung Quốc.

Các điểm dễ xảy ra xung đột ở biển Đông có thể cần đến tàu ngầm vì theo báo cáo trong trận hải chiến Trung-Việt ở quần đảo Hoàng Sa năm 1974 có cả 2 tàu ngầm Trung Quốc tham gia. Trong suốt thập niên 1970, Ngọc Lâm trở thành căn cứ của Hạm đội tàu ngầm Thứ 32. Cuối thập niên 1980, tàu ngầm tiếp nhiên liệu 10.000 tấn R-327 Yong Xing Dao đã hỗ trợ các tàu Yulin kiểu 033. Các hoạt động sửa chữa và bảo trì lớn cho các tàu ngầm ở Nam Hải được thực hiện tại xưởng đóng tàu ngầm ở Quảng Châu phía nam Trung Quốc.  Ngoài 3 tàu ngầm loại Dajang dùng hỗ trợ các tàu mặt biển được đóng từ 1978 đến 1980, Trung Quốc còn có khoảng 10 tàu ngầm cứu hộ dùng hỗ trợ các tàu mặt biển khác được  phân bổ rải rác ở các căn cứ.

Đầu thập niên 1990, các tàu ngầm Trung Quốc có thể đi đến bất cứ chỗ nào trong vùng biển Đông đang tranh chấp để chứng tỏ các tuyên bố chủ quyền của mình. Các căn cứ tàu ngầm Trung Quốc có thể sẵn sàng hoạt động không chỉ ở quần đảo Hoàng Sa, bao gồm cả đảo Phú Lâm, mà còn có thể vươn xa tới Ấn Độ Dương. Ấn Độ đã từ lâu nghi ngờ căn cứ hải quân mà Trung Quốc xây dựng ở Myanmar vào năm 1992 có thể một ngày nào đó được sử dụng để hỗ trợ cho các tàu ngầm của hải quân Trung Quốc. Được đặt ở đảo Hainggyi trên sông Irrawaddy, căn cứ này có thể mở rộng ra đến vịnh Bengal và Ấn Độ Dương. Căn cứ này có vị trí chiến lược rất quan trọng vì ngoài việc cung cấp thông tin tình báo cho các căn cứ và cho các tàu mặt biển hay tàu ngầm, nó còn được nối trực tiếp với tỉnh Côn Minh Trung Quốc chỉ qua một con sông và một hành lang đường bộ

Việc Trung Quốc mua các tàu ngầm loại Kilo của Nga và việc Trung Quốc tiếp tục tự sản xuất các tàu ngầm sơ khai chạy bằng diesel càng làm gia tăng mối đe doa đối với các nước đang có tuyên bố chủ quyền một phần hay toàn bộ ở biển Đông. Các cở sở hạ tầng hỗ trợ cho tàu ngầm của Trung Quốc đang được gấp rút triền khai.  Trong tháng 5, 2005, một tàu ngầm nguyên tử kiểu Hán đã bị phát hiện đang dừng lại ở đảo hải Nam. Đây là “lần đầu tiên một tàu ngầm chạy bằng năng lượng nguyên tử được chính thức triển khai ở biển Đông, cho thấy tầm quan trọng chiến lược của vùng này đối với Trung Quốc.”[31]

Lực lượng tàu ngầm ngày càng đóng vài trò quan trọng hơn đối với hải quân Trung Quốc qua việc một số lớn tàu đang được chuyển về phía Nam để sẵn sàng cho các hoạt động trên biển Đông.  Trước đây các tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc chỉ là để bảo vệ các cơ sở phương tiện của hạm đội phương Bắc nhưng từ thập niên 1990, Trung Quốc đã xây dựng các đường hầm bí mật cho các tàu ngầm ở phía Nam. Những đường hầm này, mỗi cái có vài cửa, được báo cáo là đặt ở Yalongwan.[32] Nếu các báo cáo này là đúng sự thật, thì các cơ sở này có thể chứa được các tàu lớn, ngay cả các tàu ngầm nguyên tử và thậm chí cả Luyang DDGs (các tàu khu trục có dàn phóng tên lửa).[33]  Vào tháng 2 năm 2008, một tàu ngầm kiều Jin bị chụp ảnh tại căn cứ Ngọc Lâm ở đảo Hải Nam.

Trong suốt thập niên vừa qua, việc Trung Quốc mua của Nga 4 khu trục hạm có trang bị tên lửa loại Sovremenny và thêm 8 tàu ngầm diesel loại Kilo đã tăng cường một cách cực kỳ nhanh chóng tiềm năng quân sự của Trung Quốc ở biển Đông. Mối đe dọa của các tàu ngầm Trung Quốc thực nghiêm trọng vì trong khi tổng số tàu ngầm đang hoạt động của Trung Quốc là 30 chiếc, so với 50 chiếc của hải quân Mỹ, nhưng số tàu ngầm Trung Quốc đã đóng mới trong năm năm vừa qua nhiều hơn Mỹ gấp 8 lần! Một chuyên gia quân sự cho rằng, “Mặc dù tính tổng quát họ vẫn chưa bắt kịp Mỹ nhưng chỉ đến cuối thập niên này thôi, Trung Quốc sẽ có nhiều tàu ngầm hơn Mỹ.”[34]  Cứ với đà này Trung Quốc sẽ đủ sức trong việc sử dụng sức mạnh tàu ngầm để cũng cố quyền kiểm soát phần lãnh thổ đang trong vòng tranh chấp tại biển Đông.

 Các đơn vị hải quân Trung Quốc.

Biết là có nhưng lực lượng thủy quân lục chiến của Trung Quốc ít được biết đến trước đây. Lữ đoàn thủy quân lục chiến đầu tiên của Trung Quốc gồm khoảng 4000 lính và thiết giáp lội nước được thành lập ở Hải Nam vào thập niên 1980, trong khi một lữ đoàn thủy quân lục chiến thứ hai gồm 5000 lính được thành lập ở Trạm Giang năm 1991. Thay vì đặt căn cứ gần vùng tranh chấp Đài Loan, nơi đáng lẽ ra là địa điểm hợp lý nhất, lữ đoàn thủy quân lục chiến đầu tiên này lại được đặt căn cứ ở Hải Nam. Điều này cho thấy chủ ý của Trung Quốc là nhắm tới phía nam, và rõ ràng là họ đang lên kế hoạch sử dụng hải quân để hỗ trợ cho những hoạt động cả ở trên lục địa và lãnh hải ở biển Đông. Những sự kiện sau đó, chẳng hạn như là việc Trung Quốc chiếm nhiều đảo và đảo san hô trong suốt thập niên 1980 đã minh xác quan điểm này.

 Hải quân Trung Quốc đã đóng vai trò quan trọng trong những xung đột ở biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa đã bị đánh chiếm từ tay Nam Việt Nam bằng vũ lực vào ngày hai ngày 19 và 20 tháng 1 năm 1974.  Trong trận hải chiến này hải quân của Trung Quốc, với sự tham gia của 42 tàu chiến đủ kích cỡ và chủng loại, đã đánh bại hải quân Việt Nam. Trận chiến dành đảo Quang Hòa Đông (Duncan Island) được triển khai với một số tàu ngư lôi, 2 tàu đánh cá lưới rà có vũ trang, và một tàu biển đổ bộ, được hỗ trợ bởi các chiến đấu cơ Mig đồn trú ở đảo Hải Nam.

 Vào thập niên 1980, có một vài báo cáo cho rằng quân đoàn hải quân Trung Quốc đã lớn mạnh và chia thành ba hạm đội, gồm tổng cộng 56000 quân. Đầu thập niên 1980, Trung Quốc cũng thành lập các hạm đội nhỏ phản ứng nhanh, hầu hết là để bảo vệ trong nước và biên giới, nhưng một hạm đội lớn hơn dành cho các hoạt động tấn công ven biển được thành lập ở Vùng Quân Sự Quảng Châu vào năm 1990. Vào tháng 11 năm 1995, một cuộc tập trận có đổ bộ lên đất liền lớn nhất đã diễn ra ở đây.

Để hỗ trợ cho hải quân, một loạt thuyền đổ bộ đất liền được đóng ở Trung Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1972, Trung Quốc đã đóng tổng cộng 50 chiếc LCM  lớp Yuqin (tàu đổ bộ hạng trung). Vào năm 1968, Trung Quốc lại bắt đầu cho đóng hơn 30 chiếc LCM lớp Yuchai và 235 chiếc LCM lớp Yunnan. Giữa năm 1972 và 1974 có đến 23 chiếc LCU hạng Yuling (hệ thống phụ trợ tàu đổ bộ) được đóng. Còn tàu đổ bộ lớn nhất đầu tiên được thiết kế và đóng tại Trung Quốc vào năm 1979 là chiếc LST (tàu đổ bộ với xe tăng lội nước) loại Yukan 4100 tấn.  Tổng cộng bảy chiếc tàu thuộc loại này đã được hoàn thành từ năm 1980 đến năm 1995 bắt chước loại tàu American World War II LSTs mà Trung Quốc đã tiếp thu được vào năm 1949, loại LST lớp Yukan này có thể chở tới 5 xe tăng cùng với các loại xe cơ giới và binh lính.

Vào năm 1980, Trung Quốc bắt đầu xây dựng các xe chuyển lính lớp Qiongsha 2150 tấn mà mỗi lần có thể chuyên chở 400 lính. Hai chiếc Qiongsha khác cũng được đóng để làm tàu bệnh viện để cứu thương cả trên đất liền và trên biển.[35] Năm 1980 cũng tiến hành đóng 4 chiếc LSM (landing ships medium – tàu đổ bộ cỡ trung- người dịch) lớp Yudao trọng tải 1460 tấn, và trong suốt năm 1991 đến năm 1996 tiến hành  đóng 6 chiếc cỡ lớn LST lớp Yuting. Những chiếc này có trọng tải lên đến 4800 tấn gồm 10 xe tăng, 4 LCUs cho 250 lính , và 2 máy bay trục thăng cỡ trung. Chiếc LST lớp Yuting này có trọng tải này gấp 2 lần so với LST của Mỹ hoặc loại LST lớp Yukan của Trung Quốc được đóng trước đó. Vào năm 2000, Trung Quốc bắt đầu cho đóng các LST hạng Yuting, được biết đến với tên gọi Yuting – III . Ít nhất 4 chiếc loại này đã được hoàn thành.

 Việc đóng quân của lực lượng hải quân Trung Quốc và các tàu hỗ trợ ở đảo Hải Nam cho thấy rằng họ đang chuẩn bị các cơ sở cần thiết để sử dụng những con tàu đổ bộ và hải quân cho những cuộc xung đột ở biển Đông. Vào tháng 3 năm 1992 , trước những báo cáo về tình hình khoan dầu tại biền Đông của Việt Nam, hải quân Trung Quốc đã đổ bộ lên dải đá ngầm Da Ba Dau, gần đảo Sinh Tồn do Việt Nam nắm giữ, và một cuộc chạm sung đã diễn ra vào ngày 19 tháng 3 năm 1992. Bốn tháng sau đó hải quân Trung Quốc lại đổ bộ lên dải Da Lac trên cồn Tizard. Một chuyên gia hải quân đã có giả thuyết rằng, những hành động của Trung Quốc “là một lời cảnh cáo đinh tai nhức óc tới những nước láng giềng để họ hiểu rằng họ không thể thoát khỏi tay Trung Quốc khi tính đến chuyện khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực”.[36]

Nhờ vào các thủy không quân, tàu ngầm, lực lượng hải quân của PLAN đóng tại đảo Hải Nam và một số đảo xa bờ, Trung Quốc có thể tiến hành rất nhiều hoạt động quân sự ở biển Đông. Từ các căn cứ kể trên, quân đội Trung Quốc có thể:

dùng tàu để ngăn chặn đối phương đến từ rất xa – nếu tính từ Trung Hoa lục địa. Một lực lượng hải quân như vậy có thể làm khó dễ cho việc vận chuyển hàng hóa bằng tàu, đặc biệt là những con tàu chở dầu tới Nhật Bản và Hàn Quốc.  Quan trọng là hạm đội Nam Hải có một dải đất lớn nhất để tập trận, tổng cộng có 7 bãi tập trận.[37]

Hải lực hung hậu này một ngày nào đó sẽ giúp Trung Quốc đạt được mục tiêu chiến lược dài hạn là nắm quyền kiểm soát hoàn toàn biển Đông.

 

Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc ở biển Đông

Sau khi tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ biển Đông, Trung Quốc liên tục lập luận rằng họ cần khai thác trữ lượngdầu khí để phát triển nền kinh tế. Trong suốt thập niên 1990, Việt Nam liên tục phản đối hoặc điều động tàu để can thiệp và gây trở ngại cho việc khảo sát dầu khí của Trung Quốc. Vào ngày 25 tháng 2 năm 1992 , Đại Hội đại biểu Nhân dân toàn quốc đã thông qua luật của Trung Quốc về hải phận và những vùng tiếp giáp.  Bất chấp những phản đối gay gắt từ phía Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Phillipines, Indonesia, và Brunei, Trung Quốc vẫn khăng khăng tuyên bố chủ quyền lãnh hải đối với tất cả đảo, rặng đá ngầm và những bãi đá ở quần đảo Trường Sa.

Ngoại giao có thể là con đường mà Bắc Kinh sẽ chọn để giải quyết cuộc tranh chấp này, nhưng sự lớn mạnh rất nhanh của hải quân Trung Quốc rõ ràng đóng một vai trò rất quan trọng. Theo Giang Trạch Đông (Yuan Jing-dong), chiến lược của Trung Quốc gồm hai bước: “Bước đầu là dùng ngoại giao là để duy trì tình hình hiện tại và phát triển hợp tác; đồng thời với việc tăng cường sức mạnh hải quân để trong trường hợp ngoại giao không được thì mới phải dùng đến vũ lực”.[38] Vào năm 1995, Phillipines và Trung Quốc đã thông qua 8 “nguyên tắc ứng xử”. Tuy nhiên , Bắc Kinh vẫn tiếp tục nâng cấp các công sự ở Trường Sa mặc dù đang có những tranh chấp với Phillipines về chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough (Scarborough Shoal-Huangyan Dao), bãi đá lộ Luzon. Theo một bản báo cáo từ trung tâm nghiên cứu chiến lược RAND thì từ năm 1999, những việc như vậy chứng tỏ rằng “Trung Quốc có thể dùng vũ lực để thực hiện các tuyên bố chủ quyền đối với các đảo đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông”[39]

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc và những lợi ích kinh tế luôn đi đôi với nhau vì những hải lộ quan yếu, các vùng đánh bắt thủy sản trù phú, và hàng loạt tiềm năng dầu khí ở biền Đông. Đặc biệt là trữ lượng lớn dầu khí của Trung Quốc đều nằm ở ngoài khơi, và vì những khu vực này đều nằm ngoài tầm  kiểm soát trực tiếp của quân đội Bắc Kinh, những mối đe doạ này chỉ có thể giải quyết bởi lực lượng hải quân và không quân. Rất nhiều nguồn năng lượng ngoài khơi vẫn chưa được khai thác và những ước tính của Trung Quốc về trữ lượng dầu và khí đốt ở biển Đông rất lớn, đạt đến 213 tỉ thùng dầu thô cho lần khai thác đầu tiên và 33 tỉ mét khối cho lần khai thác thứ hai.[40]

Khi nhìn vào bối cảnh lịch sử của Trung Quốc về việc tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, biến cố EP-3 vào tháng tư năm 2001 khiến người Mỹ thấy rõ ràng rằng đây là “dấu hiệu gần đây nhất cho thấy Bắc Kinh đang cố tìm mọi cách để thâu tóm chủ quyền trên toàn bộ biển Đông”.[41] Vào ngày 1 tháng 4 năm 2001, hai chiếc máy bay chiến đấu F-8 được chế tạo ở Trung Quốc đã tiếp cận máy bay trinh sát EP-3 của Mỹ trên vùng biển Đông khoảng 150km về phía đông nam đảo Hải Nam, và một trong số 2 máy bay F-8 đã vô tình va chạm với máy bay trinh sát EP-3. Trong khi EP-3 hạ cánh an toàn xuống Hải Nam thì máy bay của Trung Quốc đã bị rơi. Chu Shulong, giám đốc khu vực Bắc Mỹ tại Học viện quan hệ Quốc tế đương đại tuyên bố rằng: “Đối với dân chúng, dường như máy bay Mỹ đã bay vào lãnh thổ của Trung Quốc và gây ra cái chết cho viên phi công của chúng ta”. Nhắc đến viên phi công máy bay F-8, Wang Wei, người đã tử thương trong vụ va chạm kể trên thì Chu Shulong cho rằng: “Có cảm giác rằng chúng ta đang bị xâm lăng.”[42]

Mặc dù rằng máy bay Mỹ đã ở bên ngoài giới hạn địa phận Trung Quốc 22km và đang bay trên vùng biển quốc tế, giới chức Trung Quốc vẫn khăng khăng cho rằng vụ va chạm đã xảy ra cách đảo Hải Nam 150km, chính phủ Trung Quốc vẫn tuyên bố chủ quyền trên không phận những vùng biển này bởi vì có một số đảo nhỏ thuộc vùng biển Đông và chính những đảo này đã mở rộng lãnh hải của Trung Quốc. Một người dân Trung Quốc đã tức giận nói: “Biển Đông là lãnh thổ của chúng ta. Chúng ta phải dạy cho người Mỹ một bài học và cho họ thấy Trung Quốc không phải là Iraq.”[43] Để tranh luận với những lý lẽ có vẻ hợp pháp của Trung Quốc, Lori F. Damrosch, giáo sư Công Pháp Quốc Tế tại trường Đại Học Columbia, đã vạch ra rằng những đảo nhỏ mà Trung Quốc đã đưa ra như là một phần của biên giới thực chất chỉ là “những cụm đá nhỏ lốm đốm”, và chúng không đủ lớn để có hải phận của riêng chúng.[44]

Trong suốt những cuộc đàm phán nhằm thả tự do cho phi hành đoàn của Mỹ, Trung Quốc đã cố gắng lợi dụng vụ xung đột EP-3 để làm giảm tầm ảnh hưởng của quân đội Mỹ ở châu Á. Richard Solomon, Chủ Tịch Học viện Hoà Bình Hoa Kỳ (the US Institute of Peace) thậm chí đã cảnh cáo rằng:

Bối cảnh [cho cuộc xung đột máy bay này] đã khiến người ta nhớ lại hồi đầu thập niên 1990, khi mà người Trung Quốc đã tìm mọi cách để gạt bỏ Hoa Kỳ ra khỏi vùng Châu Á Thái Bình Dương nếu như họ muốn lấy lại những gì mà họ cho là của họ: Đài Loan và biển Đông,

và nếu như Trung Quốc đã có thể ngăn chặn máy bay của Mỹ bay gần đảo Hải Nam thì điều này vô hình chung  “làm giảm sự có mặt tổng quát của chúng ta [Hoa Kỳ] ở vùng này” [45]

Trung Quốc vẫn không ngừng tìm cách thâu tóm toàn bộ biển Đông. Gần đây nhất, vào ngày 4 tháng 12 năm 2007, Trung Quốc thông báo rằng tất cả lãnh thổ ở biển Đông sẽ được đặt dưới quyền quản lý như là một quận được chia trong phạm vi hành chánh của tỉnh Hải Nam. Thành phố mới khổng lồ được gọi là Nam Sa, quản lý 3 quần đảo Hoàng Sa , Trường Sa và Trung Sa.  Ngay sau thông cáo này của Trung Quốc, “làn sóng phản đối nổi lên khắp nơi trong vùng: cả Việt Nam và Indonesia đều đã chính thức phản đối lại hành động đơn phương và phủ đầu của Trung Quốc.”[46] Để đáp trả cho hành động tuyên bố chủ quyền đơn phương của Trung Quốc, đầu tháng hai năm 2008, chủ tịch Trần Thủy Biển (Chen Shui-bian) đã bay sang đảo Ba Đình, đảo lớn nhất ở Trường Sa đang nằm trong vòng kiểm soát của Đài Loan. Chuyến viếng thăm của Trần Thủy Biển không những chứng tỏ rằng việc kéo dài đường phi đạo trên đảo Ba Đình trong thời gian gần đây để có thể tiếp nhận máy bay vận tải khổng lồ C-130, mà còn khằng định các tuyên bố về chủ quyền của Đài Loan đối với các vùng lãnh thổ đang trong vòng tranh chấp. [47]

Kết luận

Sau khi xem xét những dẫn chứng lịch sử về việc tranh chấp hải phận của Trung Quốc, bao gồm cả đảo Đông Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, cùng các tuyên bố chủ quyền đơn phương của Trung Quốc song song với việc bắt đầu từ năm 2002 mà theo đó Trung Quốc hứa sẽ làm việc cùng với các quốc gia ASEAN để hạn chế những xích mích và giải quyết những mối bất đồng về chủ quyền các đảo này một cách hoà bình, ở một chừng mực nào đó cần được theo dõi và xem xét một cách cẩn trọng. Đặc biệt vì Đài Loan bị loại trừ ra khỏi hiệp định  – mặc dù Đài Bắc vẫn là bên đưa ra những tuyên bố chủ quyền đối với các lãnh thổ đang trong vòng tranh chấp này và hiện đang chiếm hữu một số đảo lớn –  thì lại càng không thể hy vọng đạt được một giải pháp lâu dài qua đường lối ngoại giao. Điều này rõ ràng đã mở rộng cửa để một ngày không xa Trung Quốc sẽ áp đặt và sử dụng vũ lực ở biển Đông.

Nhìn vào việc phát triển nhanh chóng tiềm năng liên lạc vô tuyến, vệ tinh thám báo, và các công trình hỗ trợ của hải quân trên các đảo ở biển Đông, Trung Quốc rõ ràng đang tiến hành một chiến lược hải quân nhằm gia tăng việc kiểm soát hàng hải ở vùng này. Thay vì đầu tư vào việc xây dựng một hàng không mẫu hạm đắt tiền và phải mất thời gian khá lâu để có thể đưa vào sử dụng, Trung Quốc đã quyết định xây dựng các căn cứ đa năng, đa dụng trên các đảo nằm ở các vị trí chiến lược ngoài khơi và đã liên kết các căn cứ này bằng một mạng thông tin điện tử vô tuyến hiện đại. Hầu hết những căn cứ này đều có những bãi đáp trực thăng và những bến tàu từ nhỏ đến trung bình để có thể tiếp nhận thêm nhân sự cũng như tiếp tế hậu cần bằng đường biển.

Nếu xung đột quân sự nổ ra, hoặc nếu như Bắc Kinh có những chính sách hiếu chiến hơn, thì những con tàu trên mặt biển của Trung Quốc, hải lục không quân, tàu ngầm, và những lực lượng hải quân khác có thể sử dụng những căn cứ này một cách dễ dàng để hỗ trợ cho việc bành trướng xa hơn nữa. Từ những bài học trong quá khứ, Bắc Kinh sẽ không do dự để có những hành động chống lại những gì mà họ cho là một “sự thách đố” đối với “thanh thế đang lên của Trung Quốc như là một siêu cường.” Mi Chấn Ngọc (Mi Zhenyu), nguyên sĩ quan chỉ huy của Học viện Khoa học Quân sự của quân đội Trung Quốc, đã phát biểu rằng: “Trung Quốc phải phát triển sức mạnh hải quân đề bảo vệ và nhất định không nhân nhượng dù chỉ một inch trong tổng số ba triệu km đường lãnh hải. Trung Quốc phải xây dựng cho được một Vạn Lý Trường Thành trên biển.”[48]

Tuy nhiên, để bảo đảm cho các tuyên bố mở rộng chủ quyền ở biển Đông, Bắc Kinh trước hết sẽ phải vượt qua rất nhiều những nhược điểm và thiếu sót nghiêm trọng trong lực lượng hải quân của họ. Không thể chỉ với một quan điểm quân sự đơn thuần, hải quân Trung Quốc lại có thể thách thức cùng một lúc với tất cả các nước láng giềng Đông Nam Á. Rất có thể Trung Quốc sẽ tìm cách triển khai những chiến lược về hàng hải dài hạn hơn để họ có đủ thời gian vượt qua các nhược điểm về học thuyết, về trang thiết bị, và về huấn luyện. Cũng như Michael McDevitt đã từng cảnh báo một cách khéo léo rằng:

Việc tranh giành diễn ra liên tục trong vùng ở biển Đông về chủ quyền của quần đảo Trường Sa….và hồi ức lịch sử còn đó về một “thế kỷ nhục nhã” của Trung Quốc… gây ra bởi các nước phương Tây “đến từ biển” tất cả đã kết hợp lại thành vấn đề trọng tâm của việc cần thiết phải có một chiến lược đối với biên giới biển đảo của Trung Quốc. [49]

 

Chú thích

 

[1] Rafe de Crespigny, Generals of the South: The Foundation and Early History of the Three Kingdoms State of Wu, originally published in Asian Studies Monographs, New Series No.  16 (Canberra: The Australian National University, Faculty of Asian Studies, 1990), chapter 1.

[2] www. globalsecurity. org/military/world/war/Spratly. htm.

[3] Robert J.  Antony, Like Froth Floating on the Sea; The World of Pirates and Seafarers in Late Imperial South China (Berkeley, CA: China Research Monograph, 2003), p.  9.

[4] James Truslow Adams, Empire on the Seven Seas: The British Empire, 1784-1939 (New York: Charles Scribner’s Sons, 1940), p.  264.

[5] Bruce Swanson, Eighth Voyage of the Dragon: A History of China’s Quest for Seapower (Annapolis, MD: Naval Institute Press, 1982), pp.  117-120.

[6] He Di, “The Last Campaign to Unify China: The CCP’s Unrealized Plan to Liberate Taiwan, 1949-1950,” in Mark A.  Ryan, David M.  Finkelstein, and Michael A.  McDevitt (eds), Chinese Warfighting: The PLA Experience Since 1949 (Armonk, NY: M. E.  Sharpe, 2003), p.  83.

[7] John Blodgett, “Vietnam: Soviet Pawn or Regional Power?” in Rodney W.  Jones and Steven A.  Hildreth (eds), Emerging Powers: Defense and Security in the Third World (New York, Praeger Publishers, 1986), p.  98.

[8] Information for the following sections references James Bussert and Bruce Elleman, “People’s Liberation Army Navy (PLAN) Combat Systems Technology: 1949-2007″ (currently being reviewed for publication).

[9] “Anti-smuggling Drill in Haikou,” People’s Daily Online, July 28, 2006; http://english.peopledaily.com.cn/200607/28/eng20060728_287664. html.

[10] Le-wei Li, “High-frequency Over-the-horizon Radar and Ionospheric Backscatter Studies in China,” Radio Science, 33, 5 (1998), pp.  1445-1458.

[11] http://geocarta.blogspot.com/2007/02/china-launches-4th-navigation-satellite.html.

[12] James Bussert, “China Expands Influence Through Electronics,” Signal (October 2003), p.  61.

[13] Bradley Hahn, “Maritime Dangers in the South China Sea,” Pacific Defence Reporter 11,11 (May 1985), pp.  13-16 at p.  15.

[14] James Doman, Chinese War Machine (New York: Crescent Books, 1974), p.  158.

[15] Bill Gertz, “Woody Island Missiles,” Washington Times, June 15, 2001.

[16] Keith Jacobs, “China’s Military Modernization and the South China Sea,” Jane’s Intelligence Review 4, 6 (June 1992), pp.  278-281 at p.  280.

[17] “China Unlikely to Launch War in S.  China Sea,” Asian Political News, September 27, 1999.

[18] www.fas.org/irp/world/china/facilities/shi-tao. htm.

[19] Mark J.  Valencia, “Tension Increasing in South China Sea,” Honolulu Advertiser, April 5, 2001.

[20] Wolfgang Schippke, DC3MF, “Itu Aba Island,” www.425dxn.org/dc3mf/ituaba. html.

[21] Bussert, “China Expands Influence Through Electronics,” p.  62.

[22] Jacobs, “China’s Military Modernization,” p.  280.

[23] Frederic Lasserre, “Once Forgotten Reefs . . .  Historical Images in the Scramble for the South China Sea,” www.cybergeo.presse.fr/ehgo/lasserre. htm.

[24] Bussert, “China Expands Influence Through Electronics,” p.  62.

[25] Ian Storey, “Manila Looks to USA for Help over Spratlys,” Jane’s Intelligence Review 11, 8 (August 1999), pp.  46-50 at pp.  46-47.

[26] Sujit Dutta, “Securing the Sea Frontier: China’s Pursuit of Sovereignty Claims in the South China Sea,” Strategic Analysis 29, 2 (April—June 2005), p.  288.

[27] A. B.  Mahapatra, “Commanding the Ocean,” Newslnsight, May 16, 2001.

[28] This term is not Chinese, but was coined in a study entitled “Energy Futures in Asia,” commissioned from consulting firm Booz Allen Hamilton in 2005 by the US Department of Defense’s Office of Net Assessment.

[29] Bill Gertz, “Beijing Readies China Sea Exercises,” Washington Times, May 17, 2001.

[30] www.prio.no/files/file44432_01-07_paracels_isa_hong_kong_paper. pdf.

[31] http://cnair.top81.cn/han_xia_kilo_song. htm.

[32] “Underground Facilities of Chinese Nuclear Submarine,” Kanwa Intelligence Review (Internet), March 30, 2006 at www. kanwa. com.

[33]Kanwa Defence Review, May 2006, p.  56, at www.kanwa.com.

[34] David Lague, “US Military Officials Wary of China’s Expanding Fleet of Submarines,” International Herald Tribune, February 7, 2008.

[35] www.denaljogja.mil.id/janes/jfs2001/jfs_0637. htm.

[36] Lieutenant Michael Studeman, US Navy, “Calculating China’s Advances in the South China Sea: Identifying the Triggers of ‘Expansionism,'” Naval War College Review (Spring 1998), pp.  68-90.

[37] “Was America Hunting for a New, Killer Submarine?” www.stratfor.com, April 4, 2001.

[38] Yuan Jing-dong, Asia-Pacific Security: China’s Conditional Multilateralism and Great Power Entente (Carlisle, PA: Strategic Studies Institute, US Army War College, 2000), pp.  18-19.

[39] Zalmay M.  Khalilzad, Abram N.  Shulsky, Daniel L.  Byman, Roger Cliff, David T.  Orletsky, David Shlapak, and Ashley J.  Tellis, The United States and a Rising China: Strategic and Military Implications (Santa Monica, CA: Rand, 1999), p.  30.

[40] www.globalsecurity.org/military/world/war/Spratly-oil.htm.

[41] Bruce Elleman and S. C. M.  Paine, “A Spy Plane Caught in a Chinese Web of Reviving Grandeur,” International Herald Tribune, April 9, 2001.

[42] John Pomfret, “Chinese Driven by Anger, Pride,” Washington Post, April 4, 2001.

[43] Calum MacLeod, “Beijing Blames US for Plane Collision,” Washington Times, April 3, 2001.

[44] Christopher Drew, “Old Hijinks May Pull the Rug from the US Claim to Plane,” New York Times, April 4, 2001.

[45] Jim Mann, “Crisis Forces Bush Team to Speed up Decisions on China Policy,” Los Angeles Times, April 3, 2001

[46] Vu Duc Vuong, “Between a Sea and a Hard Rock,” Asian Week, January 8, 2008.

[47] Brian McCartan, “Roiling the Waters in the Spratlys,”Asia Sentinel, February 4, 2008.

[48] Yuan Jing-dong, Asia-Pacific Security: China’s Conditional Multilateralisni and Great Power Entente (Carlisle, PA: Strategic Studies Institute, US Army War College, January 2000), pp.  18-19.

[49] Michael McDevitt, The PLA Navy: Past, Present and Future Prospects (Alexandria, VA: The CNA Corporation, May 2000), pp.  1-2.

 

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Thời điểm hành động và thông điệp trong chiến lược lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam của Trung quốc

Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html

Áp lực dân số và “ước mơ Trung Hoa” – “ước mơ” trỗi dậy một cách nhanh chóng, trở thành siêu cường có khả năng chi phối thế giới càng củng cố, thúc đẩy Trung Quốc thực hiện chiến lược “lấn dần”, “chèn ép”, tranh đoạt đất đai, sông biển của láng giềng, nhất là của các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn.

1. Ngược dòng sự kiện

Là quốc gia thích “gây hấn” và thường xuyên “gây hấn” để đạt mục tiêu và mang lại lợi ích một cách tối đa nhất; đồng thời, cũng là quốc gia từng cọ sát lâu đời và đang tham gia giải quyết nhiều vấn đề trên chính trường quốc tế, Trung Quốc có kinh nghiệm lão luyện chuẩn bị, chọn và thúc đẩy thời điểm để quyết định hành động. Có nhiều cách thức trong lựa chọn thời điểm bắt đầu của Trung Quốc, song cách phổ biến, cổ truyền và cũng hữu hiệu nhất vẫn là lựa khi quốc gia – đối tượng trong tình thế có những bất ổn nội bộ, gặp rắc rối hoặc có vị thế yếu trên trường quốc tế. Đó là lúc “trong không ấm, ngoài không êm” và nếu quốc gia bị Trung Quốc “nhòm ngó” có những quyết định đương đầu mạnh mẽ, dứt khoát, thì tác dụng, hiệu quả cũng bị hạn chế đáng kể – trong điều kiện đó, Trung Quốc đã kịp thời và nhanh chóng chớp lấy thời cơ thực hiện mục tiêu của mình.

Xâm lấn, đánh chiếm lãnh thổ các nước láng giềng, Trung Quốc luôn tính toán và tính toán kỹ càng từ thời điểm hành động đến mục tiêu hành động. Trung Quốc luôn hướng tới những mục tiêu kép, có nghĩa là bỏ “vốn” ít, song làm sao “lãi” lớn nhất – một hành động, nhiều mục đích, nhiều thông điệp.

Minh chứng cho nhận định trên, có thể dẫn dụ hàng loạt dẫn chứng điển hình.

Trước tiên là sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa vào tháng 1-1974. Bối cảnh lúc đó nhìn tổng thể như sau: Từ tháng 2-1972, quan hệ Trung – Mỹ được cải thiện một bước đáng kể qua chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ R. Nicxon – một chuyến thăm như Tổng thống R.Nicxon hoan hỉ nhận xét: “Đây là một tuần lễ làm thay đổi thế giới”[1]; “hai nước chúng ta đã nắm tương lai của thế giới trong lòng bàn tay”[2]. Tháng 1-1973, Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, Hạm đội 7 rút khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Sau khi Mỹ rút, Việt Nam Cộng hòa gặp phải những khó khăn về kinh tế, quân sự và lúng túng trước những bất ổn nội bộ; đồng thời, phải căng mình chống đỡ các cuộc tiến công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiệp định Paris mở ra cơ hội thống nhất đất nước, miền Bắc Việt Nam dốc toàn lực chuẩn bị cho cuộc Tổng công kích “một ngày bằng 20 năm”. Cũng từ năm 1973, Philippines tăng cường sự hiện diện ở khu vực Trường Sa, chính quyền Sài Gòn có những động thái tích cực trong xác định chủ quyền và khai thác tài nguyên, nếu không hành động, sau này việc chiếm đóng Hoàng Sa sẽ khó khăn thêm. Phân tích tình hình, Trung Quốc nhận thấy đây là cơ hội tốt để thực hiện quyết tâm độc chiếm quần đảo này. Đúng như Trung Quốc định liệu, khi hải chiến Hoàng Sa xảy ra, vì đang cần tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc đối với công cuộc giải phóng miền Nam; đồng thời, bị trói buộc bởi “vòng kim cô” ý thức hệ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không lên tiếng (chỉ có Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố). Vừa cải thiện quan hệ với Trung Quốc, không mấy thiết tha với chính quyền Sài Gòn, hy vọng “sự kiện Hoàng Sa” trở thành “khúc xương” trong quan hệ giữa hai quốc gia cộng sản, Mỹ đã im lặng. Cuối cùng, chỉ còn Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối và đề nghị các quốcgia đồng minh đưa vấn đề Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, song kết quả nhận được là hạn chế. Tiến hành cuộc đột kích đẫm máu, Trung Quốc không chỉ chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, mà còn mở rộng cương vực hoạt động, khẳng định với các nước Đông Nam Á chiến lược hướng ra biển Đông với mục tiêu bất biến là trở thành một đế chế biển rộng lớn.

 Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc Việt Nam năm 1979 là một ví dụ thuyết phục tiếp theo. Vào thời điểm đó, tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam đang gặp những khó khăn to lớn: Năm 1979, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân đều giảm[3]; thiếu lương thực gay gắt[4]; lạm phát diễn ra nghiêm trọng; thu chi ngân sách phải dựa vào vay và viện trợ nước ngoài, lòng tin của nhân dân đối với chế độ giảm sút, tâm trạng xã hội căng thẳng, nao núng. Cùng lúc, Việt Nam bị “sa lầy” tại Campuchia, vừa phải đối đầu với tàn quân Polpot, vừa gánh đỡ đất nước Campuchia sau thảm họa diệt chủng. “Vấn đề Campuchia” khiến Việt Nam cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết trong quan hệ đối ngoại. Các nước lên án Việt Nam “xâm lược”, rút quan hệ, bao vây, cấm vận; thậm chínhững nước trước đây là đồng minh, bạn bè cũng nhìn Việt Nam với con mắt nghi ngại, lạnh nhạt. Trong tình hình bất lợi đối với Việt Nam, Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược mà không cần nguyên do/nguyên cớ (trong khi năm 1964, Mỹ phải viện sự kiện Vịnh Bắc Bộ mới có thể đưa quân vào Việt Nam), tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”, viết nên “quyền” hành xử bất chấp luật lệ. Sau khi rút quân (5-3-1979), tuyên bố không tham vọng dù “chỉ một tấc đất của Việt Nam”, song trên thực tế, Trung Quốc đã chiếm giữ một số điểm cao có ưu thế quân sự, lấn sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Tiến hành chiến tranh chống Việt Nam, Trung Quốc không chỉ muốn đất đai và răn đe, làm suy yếu Việt Nam, mà còn nhằm nâng cao uy tín nước lớn, tuyên bốvới các quốc gia láng giềng, nhất là ở khu vực Đông Nam Á về khả năng, quyết tâm ngăn chặn ảnh hưởng, tham vọng của của Việt Nam và Liên Xô. Trung Quốc cũng sử dụng cuộc chiến tranh chống Việt Nam để giải quyết một số vấn đề nội bộ, phục vụ cho việc Đặng Tiểu Bình củng cố quyền lực sau khi trở lại “võ đài” chính trị chưa bao lâu.

 Tháng 3-1988, Trung Quốc có hành động quyết liệt hơn, gây ra cuộc hải chiến đẫm máu gần cụm đảo Sinh Tồn (quần đảo Trường Sa) –“cuộc đụng độ hải quân trầm trọng nhất ở khu vực Trường Sa kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai”[5], khiến 3 tàu vận tải của Việt Nam bị bắn chìm, 20 người hy sinh và 74 người bị mất tích. Đây là thời điểm được Trung Quốc tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, vì Việt Nam vẫn chưa giải quyết dứt điểm “vấn đề Campuchia”, chưa thoát khỏi bao vây, cô lập, chưa gia nhập ASEAN, trong khi đang phải bận tâm với những khó khăn kinh tế – xã hội. Ngoài ra, Việt Nam tiến hành đổi mới chưa bao lâu (1986), các nhà đầu tư nước ngoài có mặt ở Việt Nam còn hạn chế;  do vậy, khi xảy ra “tình huống có vấn đề”, sẽ không đánh động đến nhiều quốc gia. Cuối thập niên 80 (XX), tình hình nội bộ Trung Quốc đang có vấn đề, diễn ra tranh chấp quyền lực giữa các phe phái, trong đó phái quân sự và chủ trương làm mạnh ở biển Đông đang thắng thế; do vậy, ngoài mục tiêu đặt chân lên quần đảo Trường Sa – điều mà Trung Quốc mơ đã từ lâu, đẩy mạnh hoạt động xâm lấn trên biển Đông, Trung Quốc còn muốn giải quyết những mâu thuẫn quyền lực trong nước; đồng thời, tuyên cáo “quyền sở hữu” đối với quần đảo, chứng minh “thực lực” bảo vệ chủ quyền trên biển, mở rộng khu vực hoạt động của tàu thuyền Hải quân Trung Quốc phủ khắp các đảo đá ngầm Việt Nam. Trung Quốc cũng đặt mục tiêu “cố tình khiêu khích Việt Nam vào một cuộc chiến để xua đuổi các nhà đầu tư khỏi Việt Nam và ngăn cản mức tăng trưởng kinh tế cạnh tranh của Việt Nam”[6]. Lưu ý thêm rằng, năm 1987 – một năm trước khi Trung Quốc gây ra hải chiến Hoàng Sa, Việt Nam thông qua Luật đầu tư nước ngoài –bộ luật được các nhà đầu tư trên thế giới đón nhận và đánh giá là thông thoáng, có sức hấp dẫn. Qua một thời gian thực hiện, bộ luật đã thu hút được tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào một số ngành và vùng kinh tế, đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ- điều đó cũng báo trước khả năng chuyển dòng của  dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc chảy đến một đất nước Việt Nam đang đổi mới và cởi mở hơn.

2- Câu chuyện giàn khoan Hải Dương 981

Ngày 1-5-2014, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương 981 (HD 981) vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý, cách đảo Lý Sơn 119 hải lý (221km) và cách phía nam đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa  của Việt Nam khoảng 18 hải lý. Trung Quốc liều lĩnh tiến thêm một bước trong việc hiện thực hóa đường lưỡi bò cũng như chiến lược khai thác dầu khí, ngày càng coi thường dư luận và luật pháp quốc tế, phô trương sức mạnh trên biển Đông. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc diễn ra không lâu sau chuyến công du đến châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama – chuyến thăm có mục đích tái khẳng định chính sách xoay trục an ninh và nhấn mạnh bảo đảm cam kết với các đồng minh trước sự hung hăng, lấn lướt của Trung Quốc tại khu vực này; tuy nhiên, trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ, Việt Nam không phải là điểm đến. Do vậy, Trung Quốc tính rằng khi Trung Quốc hành động, Mỹ sẽ không có phản ứng quyết liệt.

Xung quanh việc đối đầu Nga – Mỹ ở Ukraine, Nga ra sức tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc. Kết quả là trong suốt tiến trình sự kiện, Trung Quốc có thái độ khá trung dung và đã “tặng” nước Nga một tấm phiếu trắng trong cuộc họp của Đại hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết về Crimea (15-3-2014). Trong điều kiện Mỹ và các nước phương Tây gia tăng lệnh cấm vận đối với Nga, việc hợp tác với Trung Quốc sẽ là một cứu cánh quan trọng, còn Trung Quốc cũng từ đó mà thu nhiều quyền lợi. “Mắc nợ” và còn đang đặt nhiều hy vọng vào Trung Quốc, chắc chắn, khi Trung Quốc “hành sự” ở biển Đông, nước Nga sẽ không lên tiếng hoặc nếu có lên tiếng thì cũng ở mức độ cầm chừng.

Quan hệ của Việt Nam với các nước ASEAN – theo như các tuyên bố, thì khá chặt chẽ; tuy nhiên, thực tế đã chứng minh ngược lại. Qua những lần Trung Quốc chèn ép Việt Nam trên biển Đông, thái độ của các nước ASEAN là thờ ơ và thiếu tương trợ. Các nước ASEAN đã không lên tiếng phản đối trước những sự kiện Trung Quốc giam cầm ngư dân Việt Nam đánh cá tại khu vực Hoàng Sa, gây áp lực lên tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh để họ rút khỏi Lô 127 và 128, phá hoại thiết bị địa chấn các tàu khảo sát Việt Nam…. Liên kết lỏng lẻo giữa các nước Đông Nam Á khiến Trung Quốc yên tâm và bình thản với “thẻ bài” giàn khoan HD 981, biết trước rằng sẽ không có những hành động thực tế mạnh mẽ từ ASEAN.

Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nội tại: Bất đồng chính kiến gia tăng, các cuộc đấu tranh của người dân mất đất nổ ra ở nhiều nơi, [...] , một bộ phận nhân dân thờ ơ với chính quyền… Sự thiếu quyết đoán, nhân nhượng có tính hệ thống của chính quyền trước các tham vọng lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc trong nhiều năm qua vô hình trung trở thành yếu tố củng cố thêm quyết tâm hành động của Trung Quốc.

Trung Quốc trái phép đưa giàn khoan HD 981 vào thềm lục địa Việt Nam đúng lúc Nhà nước Việt Nam đang rầm rộ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ – chiến thắng có phần đóng góp của Trung Quốc. Trong dịp này, trên các báo chí và các diễn đàn chính thống Việt Nam đăng tải không ít những bài báo, bài phát biểu ca ngợi Trung Quốc, ca ngợi “tình hữu nghị Việt – Trung”. Những chi tiết tưởng chừng như không lớn đó, song trong chừng mực nhất định, lại có tác dụng hạn chế phản ứng của Việt Nam. Sau những cái bắt tay hữu hảo, sau những lời ca tụng, Việt Nam khó mở lời phản đối, phản kháng.

Ngoài việc chọn thời điểm để đạt mục tiêu một cách an toàn và thuận lợi nhất khi hành động, đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam, Trung Quốc còn muốn một chuyển tải một vài thông điệp.

Sau khi Tổng thống Barack Obama đặt chân đến Manila, ngày 28-4-2014, Mỹ và Philippines đã ký kết một Thỏa thuận quân sự (trong 10 năm) cho phép Mỹ tiếp cận với các căn cứ của Philippines, thúc đẩy an ninh khu vực. Điểm đặc biệt là sau khi ký kết,Thỏa thuận sẽ được Chính phủ Philippines ban hành với tư cách là một văn kiện hành pháp, cho phép có hiệu lực ngay, mà không cần phải thông qua thủ tục phê chuẩn tại Quốc hội. Trong bối cảnh tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông đang hết sức căng thẳng, Thỏa thuận này là bước quan trọng trong chiến lược “xoay trục” qua châu Á của Washington, biến Philippines trở thành một trụ cột quan trọng tại Đông Nam Á, tạo điều kiện cho Mỹ tăng cường sự hiện diện và tham gia vào các vấn đề của an ninh khu vực. Điều đó cũng nói lên rằng, trong các tranh chấp, đụng độ ở biển Đông, Trung Quốc sẽ không chỉ phải đối mặt với khả năng bị cô lập lớn hơn, mà còn phải tích toán đến những phản ứng quyết liệt của các quốc gia tranh chấp khi có Mỹ đứng đằng sau lưng. Do vậy, “sự kiện giàn khoan HD 981” còn mang đậm động cơ chính trị, một mặt, nhắn nhủ, đe dọa các nước có tranh chấp, vướng mắc với Trung Quốc ở biển Đông (đặc biệt là Philippinesvà Việt Nam) không ngả sang và thắt chặt quan hệ với Mỹ; mặt khác, thử phản ứng của Barack Obama, thách thức chiến lược xoay trục của Mỹ. Cần nói thêm rằng, trong chuyến viếng thăm châu Á của Tổng thống Barack Obama (23-4-2014) sau cuộc lỗi hẹn tháng 10-2013, liên minh Mỹ – Nhật tiếp tục được củng cố với những cam kết ủng hộ đất nước “Mặt trời mọc” trong tranh chấp quần đảo Xen-ca-cư/Điếu Ngư với Trung Quốc trên biển Hoa Đông. Với cam kết đó, Nhật Bản hoàn toàn có thể định ra và thực hiện những đối sách cứng rắn chống lại các sức ép từ Trung Quốc đối với  vấn đề Xen-ca-cư/Điếu Ngư trong khi đang có những hành động thực tế hợp tác với Ấn Độ, nhằm “bảo vệ các vùng chung toàn cầu”, hạn chế “chiến lược cơ bắp” và ngăn chặn, phá vỡ “chuỗi ngọc trai”[7] của Bắc Kinh. Từ trong lịch sử cho đến hiện tại, Nhật Bản luôn là “cái gai” trong mắt Trung Quốc, bởi với sức mạnh kinh tế, quân sự và quan hệ đồng minh với Mỹ, Nhật Bản không chỉ cạnh tranh trực diện với Trung Quốc, mà bắt đầu có chính sách kiềm chế, hạ thấp ảnh hưởng của Trung Quốc từ xa – trong khu vực Đông Nam Á và ở châu Phi. Với ngần đó “oán thù” Trung – Nhật, “nắn gân”, thách thức “kẻ đứng sau” đất nước hoa Anh đào là điều cần thiết lúc này.

Quan hệ Trung – Ấn vốn là mối quan hệ rắc rối, phức tạp, “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, phủ bóng bởi cuộc chiến tranh biên giới 1962. Những thập kỷ gần đây, Trung Quốc – Ấn Độ có một số va chạm trên biển và Ấn Độ có thái độ cũng như phản ứng khá kiên quyết trước những lấn lướt của Trung Quốc. Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trong khu vực có biên giới biển và một số đối thủ của Trung Quốc (đặc biệt là một số nước Đông Nam Á và Nhật Bản), gia tăng sức mạnh, kiềm chế Bắc Kinh. Việc công ty dầu khí Ấn Độ OLV ký kết với Việt Nam dự án thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128- nơi mà Trung Quốc cho rằng “nằm bên trong hải giới truyền thống” của mình, khiến Trung Quốc không chỉ thấy bất an, mà còn coi đó như một sự thách thức. Việc khai thác hai lô 127 và 128 là cách thức Ấn Độ can dự gián tiếp vào cuộc tranh cãi trên biển Đông và ngầm phản đối thái độ bá quyền của Trung Quốc. Nếu Ấn Độ khai thác dầu khí thành công có nghĩa là Việt Nam có thêm đồng minh trong giải quyết tranh chấp trên biển Đông và việc khai thác tài nguyên diễn ra êm thấm là một hình thức xác định cũng như khẳng định chủ quyền trên vùng biển đó. “Con bài” giàn khoan HD 981 của Trung Quốc chính là một động thái gây áp lực và răn đe Ấn Độ. Nếu Việt Nam thất bại trong việc “đuổi” giàn khoan HD 981, chắc chắc Trung Quốc sẽ bước tiếp, sẽ có những hành động hung hăng hơn để các quốc gia đối tác của Việt Nam, nhất là Ấn Độ, phải rút khỏi biển Đông, nhường không gian tài nguyên mầu mỡ này cho Trung Quốc độc chiếm. Lúc đó, Việt Nam đã khó lại còn khó khăn hơn, trở nên yếu thế và đơn thương độc mã trước những đòi hỏi chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên biển Đông.

Một điều không kém quan trọng là cách thức hành động của Mỹ trước “cú đòn phủ đầu hung hăng” của Putin ở Crimea càng củng cố ảo vọng của Trung Quốc tại biển Đông với tính toán tái lập một kịch bản tương tự. Ngoài ra, Trung Quốc thừa thông minh để nhận thấy là theo lý thuyết “trung tâm – ngoại vi”, chiến lược trọng tâm của Mỹ là ở châu Âu – nơi được mệnh danh là “trái táo bất hòa” giữa hai cường quốc Nga – Mỹ trước đây và cả hiện tại. Mỹ khó lòng buông lỏng châu Âu, chiến lược “xoay trục” có thể chỉ là một kết nối mang tính biểu tượng hơn là hiện thực – đó chính là điều cần cho Trung Quốc rảnh tay hành động.

Tháng 11-2013), Đảng cộng sản Trung Quốc tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khóa XVIII), nỗ lực cải cách theo chiều sâu, nhằm đưa Trung Quốc bước vào một khởi đầu mới trong quá trình phát triển – quá trình hoàn thiệnphát triển chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, thực hiện “giấc mơ Trung Hoa”[8] phục hưng dân tộc. Về xã hội, để trấn an dư luận, Đảng Cộng sản Trung Quốc nới lỏng chính sách một con, giảm án tử hình, xóa bỏ chế độ “lao cải”[9], tăng cường giám sát và kỷ luật trong bộ máy chính trị, năng cao năng lực bộ máy hành chính công, nghiêm trị tham nhũng…. Tuy nhiên, trong lĩnh vực chính trị, vẫn chưa nhìn thấy những thay đổi mong đợi, nhằm hiện đại hóa đời sống chính trị một cách mạnh mẽ; do vậy, Trung Quốc vẫn đang phải đối diện với một cuộc “khủng hoảng tín nhiệm xã hội”[10].Theo thống kê của các nhà xã hội học Trung Quốc, mỗi ngày tại đất nước này diễn ra khoảng 500 các vụ bạo loạn, phản kháng tập thể và đình công, tăng gấp bốn lần so với một thập kỷ trước. Dù chính quyền đã buộc phải nhượng bộ một số cuộc phản đối tập thể – tranh chấp đất đai ở làng Ô Khảm (Quảng Đông), những cuộc đấu tranh liên quan đến môi trường ở Đại Liên (Liêu Ninh), Thập Phương (Tứ Xuyên) và Khải Đông (Giang Tô)…song tình hình vẫn tiếp tục nóng lên từng ngày. Sự kiện Tân Cương, Tây Tạng, những vụ nổ bom, cuộc đấu đá nội bộ với “con hổ Chu Vĩnh Khang” trước đoạn đầu đài… cho thấy: “Khi bạo lực của chính quyền không thể chống đỡ được khủng hoảng, những người lãnh đạo thế hệ thứ năm của Trung Quốc bắt đầu lo lắng cho tương lai của Đảng Cộng sản”[11]. Đề giải quyết những lo lắng đó, khi thay đổi cán cân quyền lực giữa Đảng Cộng sản và xã hội Trung Quốc đang diễn ra “theo chiều hướng Đảng mất dần sự tín nhiệm và quyền kiểm soát, còn xã hội thì đang tích thêm sinh lực và sự tự tin”[12], lãnh đạo Trung Quốc hướng sự chú ý trong nước ra bên ngoài, đánh lạc hướng dư luận, tìm đến “giải pháp biển Đông”, nhằm tạo ra một đợt thủy triều dâng cao của chủ nghĩa dân tộc được sử dụng như một chất kết dính xã hội.Không phải ngẫu nhiên mà thời gian gần đây, trên các tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí Nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương, tạp chí Quốc phòng, báo Giải phóng quân, Nhân dân Nhật báo… của Trung Quốc đăng tải số lượng lớn các bài viết về chủ đề biển Đông. Các tít cổ xúy tinh thần dân tộc và kích động được giật theo cách châm ngòi lửa: Các quốc gia xung quanh khai thác các nguồn dầu lửa ở Nam Sa của chúng ta như thế nào?“; “Kẻ nào đang xâm lược các vùng biển của chúng ta?”; “Trung Quốc không cho phép chà đạp lên chủ quyền lãnh thổ của mình!”; “Trung Quốc không thể để mất một tấc đất thiêng”…. Nhiều bài báo chĩa mũi nhọn vào Việt Nam, mô tả Việt Nam như một đối thủ hiếu chiến “đang thèm khát lãnh hải”, “cố gắng cướp đoạt toàn bộ tài nguyên của Trung Quốc bằng sức mạnh” (?!).Mới đây, truyền hình Nhà nước Trung Quốc đã phát sóng một bộ phim tài liệu dài tám tập ca ngợi lực lượng tuần duyên và ngư chính trong việc bảo vệ “chủ quyền và tài nguyên của Trung Quốc” trên biển Đông. Cảnh tàu Việt Nam “ngăn cản” tàu thăm dò của Trung Quốc một cách “điên cuồng” đã gây một ấn tượng mạnh. Bộ phim cũng tung hô lòng dũng cảm của Hải quân Trung Quốc khi mô tả “sự đối đầu không nao núng” và cuộc chiến đấu oanh liệt với đội tàu có vũ trang lớn hơn gấp nhiều lần của Việt Nam. Bằng cách đó,Trung Quốc xoay chủ nghĩa dân tộc về phía biển Đông (chủ quyền đối với Trường Sa) như là một phương thức để tái khẳng định vị thế và hàn gắn rạn nứt xã hội. Rất có thể, giàn khoan HD 981 là khởi đầu của cao trào đó.

3- Rút tỉa từ quá khứ và hiện tại

Qua khảo cứu, phân tích những vụ việc điển hình xảy ra trong quá trình Trung Quốc thực hiện chiến lược xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, có thể nhận thấy rằng, đó là chiến lược nhất quán, ăn sâu vào máu thịt, não trạng của những thế hệ lãnh đạo Trung Quốc. Nó giống như một căn bệnh mãn tính mang tên “bành trướng”, “bá quyền” âm ỉ trong một cơ thể Trung Quốc nhìn bề ngoài thì tưởng như cường tráng, khỏe mạnh, song thực chất bên trong lại đang chứa chất đầy những vi rút nguy hiểm. Chiến lược ấy của Trung Quốc được tính toán cẩn trọng, kỹ lưỡng, nhằm nuốt dần đất đai, sông biển Việt Nam. Chiến lược ấy cũng còn nhằm bào mòn sức mạnh, hút dần dinh dưỡng, làm cho Việt Nam rối loạn, yếu dần và chia rẽ. Một dân tộc chia rẽ là một dân tộc yếu – đó đã là nguyên lý. Yếu đến hèn chỉ còn một bước ngắn. Khi đã hèn thì sẽ bị hòa tan.

Có lịch sử lâu đời 5.000 năm, tự hào là trung tâm văn minh Đông Á không ai sánh kịp, song điều kinh khủng là ở chỗ, những nhà lãnh đạo Trung Quốc lại đem niềm tự hào ấy nuôi giấc mộng khôi phục “địa vị ưu việt” bằng những phương thức cực đoan và quá khích, để  xóa đi cái quá khứ với “thế kỷ nhục nhã” của một Trung Quốc bạc nhược, tổn thương, u tối.

Lịch sử đã vô tình và khắc nghiệt đặt dải đất hình chữ S bên cạnh một người láng giềng phương Bắc to lớn và đầy tham vọng. Láng giềng không thể chọn lựa, Trung Quốc luôn tồn tại ở đó, bất trắc, khó lường. “Sự kiện giàn khoan HD 981” là câu trả lời đầy đủ nhất, trung thực nhất về “phương châm 16 chữ vàng”, “tinh thần bốn tốt” và áp lực “Hán hóa” – một câu chuyện có thật, thường trực và chưa có hồi kết thúc.

Hiện diện ở biển Đông bằng vũ lực, trong “cơn mê lú quyền lực”, Trung Quốc đang bước tới sai lầm khó gỡ, đang hủy hoại lòng tin, uy tín quốc tế và sự tôn trọng của các quốc gia xung quanh. Hành xử hung hăng theo kiểu côn đồ trên biển Đông, Trung Quốc không khiến các đối thủ của mình sợ hãi, trái lại, cảnh báo về một quốc gia đầy hiểm họa, ưa thích ức hiếp, tôn sùng các nguyên tắc ứng xử thời trung cổ, viết nên luật lệ của riêng mình trong một thế giới, khi mọi quốc gia đang nỗ lực đi về phía văn minh.

Trung Quốc đang chơi một trò chơi nguy hiểm, đang biến “giấc mơ Trung Hoa” thành “cơn ác mộng Trung Hoa”. Có thể, nếu các quốc gia liên quan không có những hành động quyết liệt, không gom tụ lại, Trung Quốc sẽ thắng thế. Nhưng dù có thắng thế, dù có trỗi dậy, dù “giấc mơ Trung Hoa” có sớm thành hiện thực, song trong mắt nhân loại, trong mắt “người tử tế”, Trung Quốc mãi mãi – chẳng bao giờ với tới văn minh

Nguyễn Thị Mai Hoa

[1]Marvin Kalb- Barnard Karbl: Đột phá khẩu Trung Quốc, Hội nghị cấp cao 1972, Tập 2, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1979, tr. 67.

[2]Sđd, tr. 68.

[3]Trong kế hoạch 1976 – 1980, bình quân một năm tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4 %, thu nhập quốc dân tăng 0,4 % (kế hoạch là 13-14%). Kết thúc kế hoạch 5 năm (1980), tất cả 15 chỉ tiêu chủ yếu đều không đạt, thậm chí một số sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp quan trọng bình quân đầu người không giữ được mức của năm 1976. Hiệu quả của nền kinh tế rất thấp, tốc độ tăng không tương xứng với mức đầu tư xây dựng cơ bản; giá trị tài sản cố định tăng chỉ bằng 46,8 % tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản; hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ sở vật chất thấp, chỉ huy động được trên dưới 50 % công suất.

[4]Năm 1980, Nhà nước phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực. Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20%, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu.

[5]Quần đảo Trường Sa: Liệu có còn thích hợp khi tranh cãi về vấn đề chủ quyền, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý quốc tế, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.5.

[6]Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A: Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr.70.

[7]Thuật ngữ “chuỗi ngọc trai” là tên một kế hoạch triển khai an ninh hàng hải – quân sự của Trung Quốc xuất hiện lần đầu tiên trong báo cáo mật mang tên “Tương lai của năng lượng châu Á” được Mỹ đưa ra vào năm 2005. “Chuỗi ngọc trai” chỉ các căn cứ quân sự, cảng biển của Trung Quốc nằm rải rác như những hạt ngọc trai, chạy theo tuyến đường hàng hải trên biển bắt đầu từ đảo Hải Nam qua biển Đông, qua eo biển Malacca, sang Ấn Độ Dương… đến tận châu Phi (Somali) và vùng vịnh Persian, đặc biệt là các nước dọc vùng biển Ấn Độ Dương như Pakistan, Sri Lanka, Sudan…. giúp Trung Quốc bành trướng trên mọi hướng biển.

[8]Ngày 8-4-213, nội hàm “giấc mơ Trung Hoa” được Tập Cận Bình giải thích rõ trong phát biểu khai mạc Diễn đàn châu Á Bác Ngao (BFA) như sau: Vào giữa thế kỷ XXI, Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, hùng mạnh, dân chủ, văn hóa tiên tiến, hòa hợp và giấc mơ Trung Hoa, cụ thể là sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa sẽ thành hiện thực.

[9]Hệ thống trại cải tạo lao động ra đời từ năm 1957 để giam giữ những người phạm các tội danh không nghiêm trọng như trộm cắp, gây rối trật tự, mại dâm, sử dụng ma túy, giam giữ những người bất đồng chính kiến. Hệ thống này này tồn tại nhiều điều bất hợp lý nguy hiểm như chính quyền địa phương và công an có quyền ra lệnh giam giữ mà không cần ra tòa xét xử. Tuy nhiên, người ta cũng cho rằng,giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục sử dụng hệ thống lao cải với tên gọi khác, hoặc thậm chí không cần đặt tên cho hệ thống này.

[10]“Khủng hoảng tín nhiệm xã hội” có nghĩa là “chính quyền của dân” không nhận được sự tín nhiệm của người dân, trên thực tế người dân không còn coi chính quyền là người đại diện cho mình. Nói cách khác, đối với một bộ phận quần chúng nhân dân, chính quyền không còn đồng hành với họ, không thể hiện được ý chí của họ. Một cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội sẽ gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, gây mất niềm tin của dân chúng vào hệ tư tưởng hiện hành của xã hội.

[11]Minxin Pei: China’s Troubled Bourbons, Project Syndicate, 31-10-2012.

[12]Ibid.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

http://www.viethaingoai.net

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Trung Quốc và quá trình ký kết hiệp định Geneve(1954)

  •   Hồ Khang
  • Hình ảnh: http://www.viethaingoai.net/viet-nam-trong-chien-luoc-toan-cau-cua-trung-quoc.1.html

 “Cả hai nhà ngoại giao Liên Xô, Trung Quốc Molotov và Chu Ân Lai đã sẵn sàng hy sinh chiến thắng quân sự của Hồ Chí Minh phục vụ lợi ích quốc gia của mình”

William Knowland

1. Cục diện đối đầu Đông – Tây và chính sách đối ngoại của Trung Quốc   

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ đồng minh bất đắc dĩ  Xô – Mỹ nhanh chóng tan vỡ, hai nước chuyển sang trạng thái đối đầu quyết liệt, cạnh tranh sức mạnh ở cả vũ đài trung tâm lẫn ở vùng ngoại vi. Bước ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất, có thể nói bằng tất cả các nước tư bản cộng lại. Với ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ có những kế hoạch to lớn trên con đường trở thành siêu cường có khả năng định hướng toàn cầu. Mùng 6-4-1946, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố: “Ngày nay, Hoa Kỳ là quốc gia mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới”[1].Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng cung an ninh châu Âu của Liên Xô như “sự thống trị lục địa bởi một quốc gia duy nhất và thù địch với Mỹ, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ”[2]. Trên thực tế, các nước ở Trung, Đông Âu sau khi được giải phóng, dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, đều đã lựa chọn con đường dân chủ nhân dân . Đó là một đảm bảo để Liên Xô củng cố địa vị của mình tại trung tâm thế giới – châu Âu; đồng thời, mở rộng ảnh hưởng ra những khu vực khác. Năm 1949, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa ra đời đã tạo nên sự thay đổi đáng kể trong cán cân lực lượng trên vũ đài quốc tế. Như thế, chính điểm tương đồng về mục tiêu chiến lược của cả Mỹ và Liên Xô đã đẩy hai nước trôi về hai cực đối lập,trở thành đối thủ không khoan nhượng, hình thành cục diện Đông – Tây với bầu không khí Chiến tranh Lạnh bao trùm toàn cầu. Trongtình thế xung đột, mâu thuẫn, Chiến tranh Triều Tiên (1950) bùng phát, nhanh chóng trở thành đỉnh cao đối đầu, nơi đọ sức quyết liệt giữa hai phe trên nền “trật tự Yalta”.

Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc duy trì quan hệ thường xuyên và tương đối chặt chẽ với Liên Xô. Ít tháng trước khi cách mạng Trung Quốc thành công, Lưu Thiếu Kỳ có một vài chuyến đi bí mật tới Liên Xô. Tại cuộc hội đàm với Lưu Thiếu Kỳ (7-1949), I.V.Stalin nhiệt thành khuyến khích Trung Quốc có một vai trò lớn hơn trongthúc đẩy làn sóngcách mạng ởchâu Á và Đông Á[3]. Trong cuộc gặp tháng 8-1949, khi thảo luận về sự cần thiết phải tiến hành “cách mạng thế giới”, nhất trí cao về vị trí trung tâm cách mạng của Liên Xô, Lưu Thiếu Kỳ và I.V.Stalin thỏa thuận thừa nhận vai trò đầu tàu đối với cách mạng Phương Đông của Trung Quốc[4].

Thực hiện trách nhiệm “gánh vác” phong trào cách mạng khu vực Đông Á, xác định lợi ích an ninh quốc gia trong bối cảnh xung độtĐông – Tây, khi chiến tranh Triều Tiên là biểu hiện tập trung nhất của mâu thuẫn giữa hai phe xã hội chủ nghĩa – tư bản chủ nghĩa, tháng 10-1950, Trung Quốc đưa Quân chí nguyện trực tiếp tham chiến trên chiến trường Triều Tiên. Dương cao ngọn cờ chống đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc,cũng từ năm 1950, Trung Quốc tích cực giúp đỡ Việt Nam DCCH kháng chiến chống Pháp, xem “cuộc kháng chiến ở Việt Nam do Đảng Việt Nam lãnh đạo rất đúng và rất hay. Đảng Trung Quốc hết sức giúp đỡ Đảng Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ đó”[5].

Như vậy, với nhận thức “các vấn đề trung tâm trong thế giới sau Thế chiến thứ hai là cách mạng vô sản trên phạm vi toàn cầu”[6]và ý niệm về vai trò, trách nhiệm của mình đối với phong trào cách mạng châu Á; đồng thời, nhằm khẳng định vị thế trong phong trào cách mạng khu vực, dần dần đặt dấu ấn nước lớn với thế giới,ngoài nhiệm vụ xây dựng đất nước, Trung Quốc đã phải dàn lực ra hai hướng, hỗ trợ cho Bắc Triều Tiên và Việt Nam DCCH. Kết quả là chiến tranh Triều Tiên đã cướp đi sinh mạng củagần 1.000.000 Chí nguyện quân, để lại thương tật cả đời cho hàng triệu ngườivà gây ra những thiệt hại to lớn về vật chất. Năm 1950, 52% chi tiêu tài chính quốc gia của Trung Quốc là chi phí quân sự, trong đó 60% dành cho viện trợ chiến tranh chống Mỹ; đến năm 1952, tuy chiến tranh đã bước vào giai đoạn giằng co, chi phí quân sự vẫn chiếm tới 33% tổng chi tiêu tài chính quốc gia, trong đó phần chủ yếu được dùng vào chiến tranh kháng Mỹ viện Triều[7]. Trong ba năm chiến tranh (1950-1953), Trung Quốc tiêu tốn mất khoảng 10 tỷ USD[8], kế hoạch năm năm lần thứ nhất buộc phải hoãn lại, nợ Liên Xô 650 triệu USD[9]- một gánh nặng đối với nền kinh tế vốn lạc hậu, đang cần nguồn lực phát triểncủa Trung Quốc. Không chỉ có vậy, những năm 1950-1953, cải cách ruộng đất và chiến dịch chống “phản cách mạng” đã để lại hậu quả vô cùng to lớn trong lòng xã hội Trung Quốc[10].

Dù đang phải đối mặt với một số khó khăn, song bằng vai trò tích cực trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và việc giúp đỡ Việt Nam chống Pháp, Trung Quốc đã kịp khẳng định: Nước Trung Quốc mới không chỉ đứng vững, mà còn đang lớn mạnh, từng bước thiết lập vùng ảnh hưởng của mình. Những yếu tố kể trên tác động trực tiếp tới việc xác định mục tiêu đối ngoại của Trung Quốc; theo đó: 1- Mục tiêu tổng quát là ổn định và phát triển, hòa nhập vào hệ thống ngoại giao thế giới, từng bước khẳng định vị trí nước lớn ở khu vực cũng như trên thế giới; 2- Mục tiêu cụ thể là chống lại sự phong tỏa toàn diện của các nước tư bản, ngăn trở việc thành lập các liên minh quân sự, chính trị  các nước phương Tây song song với mở rộng khu vực đệm ở Nam Á và Đông Nam Á. Do vậy, chấm dứt chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Dương trở thành yêu cầu cấp bách của Trung Quốc và Trung Quốc phải có một vai trò nhất định trong việc giải quyết các vấn đề này, để qua đó vươn ra với thế giới, chứng minh một cách thuyết phục rằng, “trong rất nhiều vấn đề quốc tế to lớn, đầu tiên là vấn đề châu Á, nếu không có sự tham gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đều không giải quyết được”[11].

2- Trung Quốc chuẩn bị cho Hội nghị Genève

Ngay sau khi hiệp định ngừng bắn tại Triều Tiên được ký kết (27-7-1953), Liên Xô và Trung Quốc đều nhất trí rằng cần giải quyết hòa bình cuộc chiến ở châu Á. Trong xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn, Liên Xô chủ trương thông qua đình chiến và đàm phán hòa bình dập tắt ngọn lửa chiến tranh, sau đó tiến hành cạnh tranh kinh tế với phương Tây. Tháng 11-1953, Liên Xô đề nghị tổ chức hội nghị ngoại trưởng bốn nước lớn tại Berlin vào tháng 1-1954 để thảo luận các vấn đề của châu Âu; đồng thời, đề nghị tổ chức hội nghị quốc tế bàn vấn đề Viễn Đông.Ngày 25-1-1954, Hội nghị Tứ cường khai mạc tại Berlin. Trong Hội nghị, Ngoại trưởng Liên Xô Molotov yêu cầu khi thảo luận các vấn đề Triều Tiên và Đông Dương, phải có sự hiện diện của Trung Quốc, nêu rõ: “Trung Quốc đã trở thành lực lượng quan trọng trong cục diện chính trị thế giới, các hội nghị quốc tế quan trọng nhằm giải quyết các vấn đề châu Á nhất thiết phải có Trung Quốc tham gia”[12]. Tuy nhiên, đề nghị này của Liên Xô bị Mỹ phản đối quyết liệt. Sau rất nhiều tranh luận và thuyết phục, cuối cùng, ngày 18-2-1954, Hội nghị đồng ý để CHND Trung Hoa tham gia Hội nghị Genève, song Mỹ vẫn kiên quyết tuyên bố: “Việc Mỹ tham gia đàm phán không có nghĩa là Mỹ công nhận chính quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc với bất cứ ý nghĩa nào”[13].

Gấp rút thông báo kết quả cho Trung Quốc, Liên Xô chủ trương để Trung Quốc không những tham gia, mà còn phát huy tác dụng tích cực tại Hội nghị. Về điểm này, Trung Quốc hoàn toàn nhất trí với Liên Xô, bởi hai lý do: 1- Kể từ sau khi thành lập nước Trung Hoa mới, đây là lần đầu tiên Trung Quốc có mặt tại một hội nghị quốc tế lớn được cả thế giới quan tâm theo dõi – điều đó sẽ rất có lợi trong việc đề cao địa vị quốc tế của Trung Quốc; 2- Nếu đàm phán tiến triển tốt, có thể giải quyết một số vấn đề quốc tế, còn nếu không thành công, cũng có thể tuyên truyền chủ trương của Trung Quốc[14].

Tích cực chuẩn bị cho “chuyến xuất quân ngoại giao” quan trọng, ngày 2-3-1954, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chu Ân Lai trình bày Báo cáo Ý kiến sơ bộ về những đánh giá đối với Hội nghị Genève và công tác chuẩn bị, nêu định hướng: “Tích cực tham gia Hội nghị Genève; đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao quốc tế, phá vỡ sự phong tỏa cấm vận cũng như chính sách huy động quân đội chuẩn bị chiến tranh của đế quốc Mỹ, thúc đẩy làm giảm căng thẳng trong cục diện quốc tế”[15]. Chu Ân Lai lên kế hoạch sử dụng diễn đàn Hội nghị Genève một cách có lợi nhất: “Ngoài những vấn đề về Triều Tiên và Việt Nam, phải chuẩn bị các vấn đề khác liên quan đến vùng Viễn Đông, đến hòa bình, an ninh ở châu Á. Đặc biệt, phải tiến hành các biện pháp nhằm phát triển quan hệ kinh tế, trao đổi thương mại với các quốc gia khác nhau, làm giảm căng thẳng tình hình quốc tế, phá vỡ sự phong tỏa và cấm vận của đế quốc Mỹ”[16].

Ngay sau cuộc họp, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện cho Đảng Lao động Việt Nam, thông báo rằng Trung Quốc và Liên Xô đều nhận định việc tổ chức Hội nghị Genève sẽ có lợi cho Việt Nam, hy vọng Đảng Lao động Việt Nam tổ chức đoàn ba nước Đông Dương tham gia Hội nghị, chuẩn bị tài liệu, tập trung nỗ lực lên các phương án đàm phán. Trong bức điện, Chu Ân Lai gợi ý: “Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh (…). Việc xác định giới tuyến tại đâu, tại vĩ độ bao nhiêu cần phải xem xét từ hai vấn đề: Thứ nhất, là phải có lợi cho Việt Nam; thứ hai, xem kẻ thù có thể chấp nhận hay không. Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt. Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc”[17]. Như vậy, Chu Ân Lai là người đầu tiênđề xuất  lấy mô hình Triều Tiên – chia cắt thành hai miền, áp dụng cho trường hợp Việt Nam.

Ngày 3-3-1954, Tân Hoa Xã chính thức tuyên bố chính phủ Trung Quốc sẽ tham gia Hội nghị Genève về vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Cùng ngày, Chu An Lai lệnh cho Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng Nhân dânTrung Quốc chỉ thị cho Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh (lúc này đang có mặt tại Điện Biên Phủ) trao đổi, xem xét để Việt Nam đánh tốt vài trận, phối hợp với đàm phán ở Genève. Ngay sau đó, Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc gửi điện cho Vi Quốc Thanh nêu yêu cầu: “Để giành thế chủ động về ngoại giao, trước Hội nghị Genève, Việt Nam tổ chức vài trận đánh thắng lợi. Các đồng chí nghiên cứu xem trong thời điểm hiện nay, liệu có khả năng chắc chắn đánh bại quân địch ở Điện Biên Phủ?Hoặc theo điện chỉ thị của Quân uỷ Trung ương ngày 9/2, triệt để tiêu diệt quân địch tại khu vực giữa sông Nậm Rốn và sông Hồng, giải phóng khu vực đó, khai thông liên lạc với Lào; đồng thời, tại Trung – Hạ Lào hoặc khu vực Liên khu Năm, phát động tấn công phối hợp”[18].

Nhận thức cuộc chiến ở Điện Biên Phủ “rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế”[19], Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ vào ngày 13-3-1954.Sĩ quan tình báo Mỹ L. A. Patti nhận xét về thời điểm phát động và mục tiêu chiến dịch: “Cái pháo đài mới được tăng cường này đã có tầm quan trọng về chính trị và tâm lý hơn hẳn giá trị chiến lược thực tế của nó vì Hội nghị Genèvesắp khai mạc. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thấy được một cách đúng đắn đây là một trận đánh có tính chất quyết định, không phải chỉ nhằm giành được một chiến thắng vang dội mà sẽ làm cho họ mạnh hẳn lên, họ đã chuẩn bị bao vây cứ điểm này”[20]. A. Patti phân tích rõ thêm: “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng còn nhằm đánh cho quân đội Liên hiệp Pháp một đòn chí tử để gây tác động tâm lý đối với nước Pháp, làm nhân dân Pháp và những người chống cộng Việt Nam mất ý chí tiếp tục cuộc đấu tranh”[21].

Cùng với việc bắt đầu chiến dịch, Việt Nam DCCH tích cực chuẩn bị tổ chức đoàn đại biểu tham dự Hội nghị Genève, thảo luận sơ bộ các phương án sẽ nêu lên ở Hội nghị. Nghiên cứu đề nghị của Trung Quốc, trong quá trình thảo luận, vấn đề khó khăn nhất là việc xác định giới tuyến đình chiến và Việt Nam chưa nhất trí trong vấn đề này. Ngày 6-3-1954, Phó trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam Kiều Hiểu Quang gửi điện về Trung Quốc báo cáo tình hình: “Về quan hệ với Pháp, vấn đề Pháp rút quân, vấn đề bầu cử tự do đều nhận định rằng khó khăn không lớn. Khó khăn duy nhất và lớn nhất là xác định giới tuyến đình chiến, không biết quyết định ra sao (…). Họ cho rằng đây là vấn đế lớn nhất, khó nhất trong đàm phán. Lần thảo luận này chưa có kết luận gì (quyết định để bộ phận quân sự đưa ra phương án rồi nghiên cứu tiếp)”[22].

Trong quá trình chuẩn bị cho Hội nghị Genève, Trung Quốc duy trì liên lạc chặt chẽ với Liên Xô. Riêng trong tháng 4-1954, đã diễn ra ba cuộc hội đàm giữa Chu Ân Lai với các nhà lãnh đạo Xô-viết. Chu Ân Lai luôn nhấn mạnh: “Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tham gia một hội nghị như vậy, nên thiếu kiến thức và kinh nghiệm đấu tranh quốc tế, do đó Trung Quốc và Liên Xô cần giữ liên hệ chặt chẽ, thường xuyên trao đổi ý kiến, thông tin tình báo, hiệp đồng hành động”[23]. Nhìn chung, trong các cuộc hội đàm, Chu Ân Lai cùng với các nhà lãnh đạo Liên Xô đi sâu xác định phương châm, đối sách của hai bên cũng như các hoạt động phối hợp về ngoại giao, nhất trí để phía Liên Xô soạn thảo phương án cụ thể cho các cuộc đàm phán ở Genève, kiên trì phương hướng giải quyết vấn đề Đông Dương: “Vĩ tuyến 16 độ Bắc có thể được coi là một trong những phương án để xem xét”[24]. Trong cuộc thảo luận có mặt đại diện Liên Xô, Việt Nam tại Matxcơva, Chu Ân Lai phát biểu: “Hy vọng rằng, trong thời gian diễn ra Hội nghị, hoặc tốt nhất là trước khi khai mạc Hội nghị, quân đội Việt Nam có thể đánh thắng tại Điện Biên Phủ. Nếu quả đúng như vậy, sẽ giúp phe phương Đông chiếm được vị trí rất có lợi tại bàn đàm phán”[25].

Suốt tháng 3 và nửa đầu tháng 4-1954, Chu Ân Lai đích thân thụ lý, chỉnh sửa và thẩm định các văn bản liên quan đến Hội nghị Genève như “Ý kiến sơ bộ về phương án hòa bình thống nhất Triều Tiên”, “Ý kiến sơ bộ về giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương”…; đồng thời, chuẩn bị nhân sự cho Đoàn Ngoại giao. Ngày 20-4-1954, Đoàn đại biểu gồm hơn 200 người[26], tập trung nhân tài ưu tú của ngành ngoại giao Trung Quốc khởi hành đi Genève. Chu Ân Lai tự hào nói về chất lượng của Đoàn đại biểu: “Đây giống như một vở diễn lớn của Mai Lan Phương[27], mỗi một người là một bộ phận hoàn hảo, tạo nên một khối thống nhất mạnh mẽ”[28]. Đoàn đại biểu Trung Quốc đến bàn đàm phán với tinh thần: “Trung Quốc là một nước lớn, đến Genève tham gia một hội nghị quốc tế chính thức. Chúng ta đứng trên vũ đài quốc tế hát kịch văn. Vì thế, trong kịch văn phải có kịch võ, nhưng nói tóm lại là kịch chính quy, kịch võ đài”[29].

Quá trình chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, toàn diện và cẩn trọng cho sự xuất hiện ở “vũ đài” Genève không chỉ cho thấy những mục đích quan trọng, sâu sa của Trung Quốc tại đó, mà còn phản ánh quyết tâm cao độ thực hiện kỳ được những mục đích này.

3- Trung Quốc tại Hội nghị Genève

Ngày 26-4-1954, Hội nghị Genèvechính thức khai mạc, trùng với thời điểm Quân đội nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi chiến dịch tấn công đợt 2 ở Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ đang là tâm điểm chú ý của thế giới.Tin tức dội về từ Điện Biên Phủkhiến Chu Ân Lai bước vào Hội nghị với gương mặt mỉm cười, còn Ngoại trưởng Pháp Bidault lại có tâm trạng hết sức căng thẳng.

Xác định Mỹ là đối thủ nguy hiểm, Trung Quốc không hề muốn thấy sự hiện diện của Mỹ tại Đông Dương; vì thế, “tham gia đàm phán, Trung Quốc cố gắng để người Pháp vẫn có thể giữ một vị trí nào đó ở Đông Dương, không để Mỹ thế chân Pháp”[30]. Ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc là “ngăn chặn Mỹ đưa lực lượng quân sự vào Việt Nam, áp sát biên giới Trung Quốc”[31]. Trong cuốn sách Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tác giả Dương Khuê Tùng phân tích như sau: “Triều Tiên đình chiến, thái độ của Trung Quốc mới đối với cuộc chiến tranh Đông Dương nhanh chóng trở thành một vấn đề buộc phải cân nhắc. Bởi vì, cũng giống như chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Đông Dương sẽ thực sự trở thành một điểm nóng đối kháng giữa Trung Quốc và Mỹ”[32]. Trung Quốc e ngại rằng, sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Mỹ tất yếu sẽ dồn sự chú ý nhiều hơn đến Đông Dương, khả năng xảy ra cuộc đụng độ giữa Trung Quốc và Mỹ tại đây tăng lên đáng kể. Một nước Trung Quốc thương tích đầy mình đứng trước nhiệm vụ khôi phục và xây dựng kinh tế hết sức nặng nề không/chưa thể dính líu vào một cuộc xung đột với đối thủ đáng gờm, nặng ký là Mỹ – đó chính là xuất phát điểm quan trọng để ngay từ rất sớm, Chu Ân Lai luôn khăng khăng với “phương án vĩ tuyến 16” theo mô thức Triều Tiên làm hình mẫu cho Việt Nam. Ngoài ra, “coi Hội nghị Genèvenhư một phương tiện mở cửa sang thế giới phương Tây”[33], lần đầu tiên có mặt tại một hội nghị quốc tế lớn với tư cách là một quốc gia châu Á tham gia giải quyết vấn đề khu vực, ngoài vấn đề Triều Tiên và Việt Nam, Trung Quốc còn quan tâm đến các vấn đề an ninh, hòa bình tại Viễn Đông, châu Á, các vấn đề phát triển kinh tế, giao thương mậu dịch với phương Tây, từng bước phá vỡ cấm vận, phong tỏa của Mỹ một cách hiệu quả.Hoạt động của Trung Quốc tại Genève, vì thế, tất yếu được tính toán sao cho phù hợp để có thể đáp ứng mục tiêu đó.

Toan tính của các nước lớn khiến Hội nghị Genèvevề Đông Dương diễn ra căng thẳng, gay go, quyết liệt trong suốt 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp. Trong Hội nghị, Liên Xô duy trì chặt chẽ quan hệ với Trung Quốc làm đối trọng, thúc đẩy đàm phán theo những kế hoạch được sắp đặt trước. Hoạt động phối hợp của Liên Xô, Trung Quốc khá ăn ý. Suốt tiến trình Hội nghị, Trung Quốc hầu như đồng  ý hoàn toàn với Liên Xô trong các vấn đề thương lượng.Để đảm bảo lợi ích quốc gia, với vị trí là một nước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đường vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam, trong điều kiện Pháp không muốn nói chuyện với Việt Nam ở thế yếu, trong xu thế hòa hoãn chung, “lãnh đạo đoàn đại biểu Trung Quốc Chu Ân Lai đã không hỗ trợ Việt Nam, đưa Việt Nam đến chỗ phải chấp nhận những điều khoản mà rõ ràng là không hề thoải mái chấp nhận”[34]. Nói cách khác, những thỏa thuận trong việc giải quyết vấn đề Đông Dương đạt được giữa Đoàn Trung Quốc với phía Pháp không phản ánh được tình hình thực tế cũng như tương quan lực lượng trên chiến trường Việt Nam, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương nương theo “mẫu mực” Triều Tiên, nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị dứt điểm. Phân tích quan điểm, lập trường của Trung Quốc tại Hội nghị Genève, Giáo sư sử học Yang Kuisong (Đại học Bắc Kinh) lập luận: “MaoTrạch Đôngtin rằng những nhượng bộ được thực hiện tại Genèvelàtạm thời và chiến thuật,bởi vìvào thời điểm đó, sức mạnh mọi mặt của Trung Quốc cần tiếp tục được củng cố và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa đủ sức để theo đuổi một thắng lợi hoàn toàn”[35].

5 giờ 20 phút ngày 21-7-1954, Hội nghị Genève về Đông Dương tuyên bố bế mạc. Cùng với việc Hiệp định Genève được ký kết, quan hệ Trung – Mỹ cũng thận trọng nhích dần từng bước – hai bên tổ chức hội nghị liên lạc viên lần một và lần hai, bảo lưu con đường tiếp xúc tại Genève. Đây chính là bước đệm thích hợp để sau này Trung, Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc đàm phán cấp đại sứ[36]. Nhìn chung, Hội nghị Genève đã mang lại cho Trung Quốc những lợi ích to lớn: Về chính trị, Hội nghị chứng tỏ rằng, trên phương diện giải quyết những vấn đề quốc tế cấp bách, sự tham gia của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có vai trò quan trọng; về kinh tế, hai năm sau Hội nghị, khối lượng buôn bán giữa Trung Quốc với các nước châu Âu tăng rõ rệt, “kim ngạch giữa Trung Quốc với châu Âu tăng gấp đôi, nếu như tổng khối lượng đó năm 1954 là 173,4 triệu đô la, thì đến năm 1955 đã đạt 226,2 triệu và đến năm 1956 là 326 triệu”[37]; về đối ngoại, “việc ký kết Hiệp định Genèveđã đánh dấu sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trong các công việc quốc tế và sự nâng cao địa vị quốc tế của Trung Quốc”[38]; đồng thời, “giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương đã làm rối loạn việc triển khai chiến lược của Mỹ nhằm uy hiếp Trung Quốc từ ba chiến tuyến Nam Triều Tiên, Đài Loan, Đông Dương, đảm bảo an ninh cho Trung Quốc ở biên thùy phía Nam, Trung Quốc có thể tập trung sức người, sức của vào phát triển kinh tế”[39]. Như vậy, nội dung bản Hiệp định Genèveđảm bảo lợi ích cho mọi bên tham gia, đặc biệt là Trung Quốc, song mang lại lợi ích hạn chế đối với người chiến thắng. Wilfred Burchett nhận xét: “Thực tế Việt Nam là người chiến thắng không thể tranh cãi, nhưng đã “rộng lượng” nhân nhượng nhiều nhất ở Genève”[40]. Thật vậy, Việt Nam tuy thắng lớn trên chiến trường, song do thiếu kinh nghiệm đàm phán, do thực lực chưa mạnh, nên “chỉ có được một nửa nước Việt Nam trên bản đồ thế giới”[41]. Người chiến thắng thực sự là Chu Ân Lai, “ông rời Genèvegần như với tất cả mọi thứ đã được tiên liệu và dự đoán trước”[42]. Thượng nghị sĩ Mỹ William Knowland bình luận về kết quả Hội nghị Genève như sau: Cả hai nhà ngoại giao Liên Xô, Trung Quốc Molotov và Chu Ân Lai đã sẵn sàng hy sinh chiến thắng quân sự của Hồ Chí Minh phục vụ lợi ích quốc gia của mình”[43].Đó cũng chính là bài học lớn đầu tiên về mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia, dân tộc và phe phái – ý thức hệ mà Việt Nam DCCH rút ra từ sự ứng xử của những đồng minh/nước lớn trên con đường hội nhập đầy truân chuyên.


[1]Dẫn theo Đào Huy Ngọc: Lịch sử quan hệ quốc tế (1870 -1964), Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1996, tr.119.

[2]Michael J. Friedman:Chiến tranh lạnh- Một cuộc kiểm tra đối với sức mạnh và sự thử thách đối với các ý tưởng của Hoa Kỳ,Tạp chí điện tử, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4-2006.

[3]Chen Jian: The Sino-Soviet alliance and China‘s entry into the Korean War, Cold War International History ProjectBulletin, 6-7, p. 12.

[4]Chen Jian: China’s Road to the Korean War: The Making of the Sino-American Confrontation, New York, Columbia University Press, 1994, pp.74-75.

[5]Tư liệu nghiên cứu về quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam 1949-1979, Cục Nghiên cứu Bộ Quốc phòng, bản đánh máy, t.1, tr. 29

[6]Directive of the Strategy of Struggle Against the U.S. and Jiang, 28 November 1945, United Front Department and the Central Archives of the CCP, ed., Zhonggong zhongyang jiefang zhanzheng shiqi tongyi zhanxian wenjian xuanbian, Beijing: Dang’an chubanshe, 1988, p. 32.

[7]Dương Khuê Tùng: Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tập 2, Nxb. Nhân dân Giang Tây, 2008, bản dịch Quốc Thanh.

[8]Dương Khuê Tùng: Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Tlđd.

[9]Zhang Xiaoming: China, the Soviet Union, and the Korean War: From an Abortive Air War Plan to a Wartime Relationship,  Journal of Conflict Studies, vol 22, N01, 2002, p.81.

[10]Trong cải cách ruộng đất, khoảng 1.000.000-4.50.000 người bị giết, tầng lớp tinh hoa nông thôn hầu như bị diệt vong. Trong các chiến dịch đấu tranh chống “phản cách mạng”, khoảng 700.000 đến 2.000.000 người bị giết (Nguồn: Yang Kuisong: Reconsidering the Campaign to Suppress Counterrevolutionaries, The China Quarterly, 193, March 2008).

[11]Tạ Ích Hiển (chủ  biên): Lịch sử ngoại giao Trung Quốc đương đại (1949-2001), Bản dịch của Tổng cục 2, lưu tại Tổng cục 2, tr.55.

[12]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Beijing: History of CPC Press, 2005, p.20.

[13]Tạ Ích Hiển (chủ  biên): Lịch sử ngoại giao Trung Quốc đương đại (1949-2001), Sđd, tr.55.

[14]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.24.

[15]Preliminary Opinions on the Assessment of and Preparation for the Geneva Conference,’ Prepared by the PRC Ministry of Foreign Affairs (drafted by PRC Premier and Foreign Minister Zhou Enlai)[Excerpt]” March 02, 1954, History and Public Policy Program Digital Archive, PRC FMA 206-Y0054, CWIHP.

[16]Preliminary Opinions on the Assessment of and Preparation for the Geneva Conference,’ Prepared by the PRC Ministry of Foreign Affairs (drafted by PRC Premier and Foreign Minister Zhou Enlai)[Excerpt]” March 02, 1954, Ibid.

[17]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.26.

[18]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.27

[19]Hồ Chí Minh: Thư gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngày 22-12-1953, tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

[20]Archimedes L. A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 2001, tr.826.

[21]Archimedes L. A. Patti: Tại sao Việt Nam, Sđd, tr.826.

[22]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.28.

[23]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.36.

[24]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.38.

[25]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.26.

[26]Đoàn đại biểu được chia làm sáu tổ: tổ về vấn đề Triều Tiên, tổ về vấn đề Việt Nam, vấn đề tổng hợp, tổ tin tức tuyên truyền, tổ thư ký và tổ giao tiếp hành chính, trong đó có thêm năm phiên dịch tiếng Nga, bốn phiên dịch tiếng Anh, bốn phiên dịch tiếng Pháp, ngoài ra còn có đầu bếp, lái xe, tổng cộng là 185 người, cộng thêm 29 nhà báo.

[27]Nghệ sĩ kinh kịch lừng danh Trung Quốc.

[28]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.42.

[29]Qian Jiang:Zhou Enlai and the Geneva Conference,  Ibid, p.50.

[30]Qiang Zhai: Chinaand Vietnam Wars, 1950-1975, Ibid, p.50.

[31]Allen Kempton: The People’s Republic of China and Vietnam: A Complex Relationship,  Essay Prize in History,

2012, p.5.

[32]Dương Khuê Tùng: Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Tlđd.

[33]Bộ Ngoại giao: Hội nghị Giơnevơ và quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh – lấy Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc làm ví dụ, Hội thảo nội bộ ngành “Hiệp định Giơnevơ: 50 năm nhìn lại”, ngày 27-7-2004, tài liệu không phổ biến, lưu tại Bộ Ngoại giao.

[34]An analysis of Vietnam’s relations with China from the beginning of the Cold War to the Present, Wilson Quarterly 19 (1), p.35.

[35]Yang Kuisong:Changesin Mao Zedong’s Attitude towardthe Indochina War, 1949-1973, Ibid, p.4.

[36]Zhai Qiang: China and the Geneva Conference of 1954,The China Quarterly, No. 129 (Mar, 1992), p.122.

[37]Francois Joyaux:Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Sđd, tr.255.

[38]Bộ Ngoại giao: Hội nghị Giơnevơ và quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh – lấy Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc làm ví dụ, Tlđd, tr.4.

[39]Bộ Ngoại giao: Hội nghị Giơnevơ và quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh – lấy Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc làm ví dụ, Tlđd, tr.3.

[40]Burchett, George and Shimmin, Nick: Memoires of A Rebel Journalist: The Autobiography of  Wilfred Burchett, Ibid, p.199.

[41]Christopher E. Goscha:Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the Internationalist Communist Movement (1945–1950), Journal of Vietnamese Studies, Vol I, N01-2, (February, August), 2006.

[42]Chen Jian: China and the First Indo-China War, 1950-54, The China Quarterly, No. 133 (Mar,1993), p.110.

[43]George C. Herring: America’s Longest War: The United States and Vietnam 1950-1975 (New York: John Wiley & Sons, 1979, p.40.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Những con rối “Dân chủ” !

Tác Giả: Amari TX – VHN.NET
Hình ảnh


Một số phần tử cơ hội, bất mãn cá nhân, thành phần “trở cờ” trong đó có cả những người nhẹ dạ ở trong nước và tổ chức cực đoan nước ngoài đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước CHXHCNVN. Chiêu bài đó được một số tổ chức không có thiện chí với Việt Nam, các cơ quan truyền thông việt ngữ ở nước ngoài  bơm, thổi phụ  họa. Đây là việc làm sai trái cần đấu tranh, phê phán và vạch mặt kịp thời để mọi người thấy được bộ mặt thật của họ, nhằm góp phần bảo vệ sự ổn định của Đất nước xây dựng Tổ quốc dân chủ và phồn vinh. Một số người đã có những bài viết, phát biểu, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện truyền thông việt ngữ ở nước ngoài có nội dung xuyên tạc, kích động, thóa mạ những thành tựu mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã đạt được kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành. Vậy họ là ai?  Đó là mộtsố người có quan điểm chính trị cơ hội một cách rõ ràng, có hiểu biết, có một thời gian nắm một số vị trí trong hệ thống chính trị, họ có tham vọng chính trị lớn, trong đó có cả những người có chức sắc tôn giáo, một số người bất mãn, một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường sai trái. Họ đã cấu kết với nhau phát tán trên các mạng truyền thông việt ngữ ở nước ngoài như VOA- RFA-RFI- BBC, tuyên truyền, xuyên tạc,  chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, vu cáo, bôi đen chế độ ở Việt Nam. Ngày 1/5/2014, tại trụ sở đài RFA ở thủ đô Washington diễn ra cái gọi là  hội thảo mang tên “Hướng đến một nền tự do thông tin tại Việt Nam” có sự tham dự của các bloggers và”nhà báo tự do”!? đến từ Việt Nam. Vậy những người này đã phát biểu những gì cho cái chủ đề mà RFA đưa ra? tìm hiểu thì mọi người có một chút kiến thức sẽ không thể buồn cười cho những phát biểu ngô nghê của các vị “Dân chủ” này. Một vị là nghệ sĩ thì phán đại một câu khi được RFA “Mớn mồi” rằng: “Tôi thì đơn giản tôi thấy bất công ở Việt nam nó nhiều quá…!!! nhân quyền bị vi phạm tất cả mọi thứ khiến tôi bức xúc. Tôi bức xúc thì tôi thấy mình phải lên tiếng phản đối, bởi vì mình là người nghệ sĩ, người của công chúng…”!? còn vị Blogger trẻ tuổi Nguyễn Đình Hà thì xổ liền một câu:”Nghị định 72 được chính phủ Việt Nam đưa ra hồi năm ngoái nhằm kiểm soát thông tin internet, đồng thời yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet cung cấp thông tin về các nhà hoạt động nhân quyền trên Internet. Các bloggers đã thực hiện những hành độngbất tuân dân sự chống lại nghị định 72 và các công ty như Google cũng có vẻ không hợp tác”!? Vị “Nhà báo độc lập” Ngô Nhật Đăng vu cáo một cách ngang ngược rằng: “hệ thống chính trị Việt Nam dựa trên sự dối trá nên những nhà cầm quyền rất sợ sự thực…”!? . Sơ qua những phát biểu của các nhà “Dân chủ” được mời dự “Hội thảo” chúng ta có thể thấy rằng đó là những phát biểu cực đoan, ngang ngược, họ đã biến mình thành công cụ, những con rối trong ý đồ công kích nhà nước Việt Nam của RFA mà từ lâu nay họ luôn tỏ thái độ thù địch.

Việc ban hành Nghị định 72 cũng phù hợp bối cảnh chung của các quốc gia trên thế giới. Qua nghiên cứu, chúng ta nhận thấy, hầu hết các quốc gia không phân biệt thể chế chính trị, trình độ kinh tế, đều có các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này. Tại Mỹ, Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) vừa cho thành lập một lực lượng mới có nhiệm vụ phát triển các công nghệ có khả năng kiểm soát thông tin trên Internet, cũng như các liên lạc bằng điện thoại di động. Chúng ta đều biết kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 72 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, nhiều kẻ lấy cớ này vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, kiểm soát Internet, hạn chế tự do báo chí, ngôn luận, đã có một thời gian họ tập hợp những chữ ký ảo nhằm tạo dư luận, gây áp lực để các tổ chức quốc tế can thiệp. Nhưng vì không hiểu biết hoặc cố tình nên đã xuyên tạc về nghị định này. Thực tế, Nghị định 72 là sự kế thừa, phát triển những nghị định trước đây về quản lý, sử dụng Internet tại Việt Nam. Ngay từ năm 2001, đã có Nghị định 55 về quản lý Internet. Đến năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 97 và hiện nay là Nghị định 72. Ngay tại Điều 1, Nghị định ghi rõ phạm vi điều chỉnh: “Nghị định này quy định chi tiết việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin”  Như vậy, việc ban hành Nghị định 72 mục đích không phải nhằm cấm đoán, hạn chế tự do Internet như họ đã kêu gào mà là để phát triển, phục vụ hữu ích quốc gia, tập thể và cá nhân và để các lợi ích đó được đảm bảo phải gắn với các điều kiện nhất định, một số hành vi bị cấm (quy định tại Điều 5). Thực hiện được điều này cũng là nhằm bảo đảm và phát huy các quyền con người được quy định trong Hiến pháp và phù hợp luật pháp quốc tế. Nhìn vào các bài viết của họ phát tán trên Internet ta có thể thấy rằng ,nói chung, mục tiêu chủ yếu của họ vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công trực diện vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng CSVN đang lãnh đạo toàn diện. Họ tìm mọi cách bóp méo, suy diễn, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam bất chấp lẽ phải,cường điệu hóa một vài vụ việc liên quan đến pháp luật từ đó họ hồ đồ kết luận là: đó là “Bản chất” của chế độ. Không những thế họ còn mạnh miệng bôi nhọ quá khứ cách mạng một cách vô liêm xỉ, chà đạp lên giá trị truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng mà chính phủ và nhân dân Việt Nam dành cho các anh hùng liệt sĩ đã vì nước hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng như “có cần thiết hay không khi Đảng phát động toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ”? hay “Nếu không có Đảng CSVN thì dân tộc này đã ở một vị thế khác…” !?..v v… xuyên tạc lịch sử, hòng chia rẽ Đảng với Nhà nước; cô lập, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, kích động một số thành phần mà họ cho là “Nhạy cảm” dễ thâm nhập nhất đó là: trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh, kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn vì trước khi còn đang làm việc đã có một số vấn đề mà không được “Thỏa mãn”  cái “tôi” của họ nay đã hạ cánh thì “Trở cờ” hòng thực hiện ý đồ “trong biến thì phất cờ”. Họ nhắm vào điểm cốt yếu đó là: chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ các vùng, miền trên đất nước với âm mưu thâm hiểm hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hướng tới mục đích cuối cùng là làm suy yếu Đảng,tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái  nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác mà theo lý luận của họ là sẽ “Dân chủ hơn, sáng sủa hơn” !? Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua gần 30 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”. Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên!” Họ đã lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để nhen nhóm tổ chức ra những đảng phái; thảo ra những “điều lệ”, “tuyên ngôn”, “cương lĩnh” và đề ra những hình thức, phương pháp hoạt động, hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống phá Nhà nước, chế độ, gây mất  ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đó chính là bộ mặt thật của cái gọi là “những tổ chức đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” và đó cũng chính là những hành động vi phạm pháp luật.

Việc xét xử nghiêm minh những người vi phạm pháp luật là việc làm bình thường, theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Một số thế lực ở nước ngoài tìm cách tiếp tay, kích động những phần tử chống phá Nhà nước và chế độ. Khi các phần tử này bị xử lý theo pháp luật thì họ kêu la, hò hét rằng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng,  đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến. Đó là sự xuyên tạc thô bạo, đổi trắng thay đen nhằm che giấu những âm mưu đen tối của họ. Để đạt mục tiêu đó, họ thực hiện sự kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nước, nhưng hướng chính là khơi dậy từ bên trong, tiến tới xây dựng lực lượng chống đối từ trong nước, tạo dựng “Ngọn cờ”, nhân vật “Nòng cốt”, chờ thời cơ để thành lập các tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản. Phụ họa theo các nhà “Dân chủ, nhân quyền” có các tổ chức gọi là “Theo dõi nhân quyền” thường sản xuất ra những cái gọi là: “Nghị quyết”, “Báo cáo” về tình hình tự do, nhân quyền trên thế giới trong đó có Việt Nam, họ đòi áp đặt cho Việt Nam những khái niệm về “Tự do, dân chủ” theo kiểu của họ, bất chấp tính đặc thù của quốc gia đó. Mỗi dịp như vậy các nhà “Dân chủ” trong nước được dịp thể hiện cái gọi là “Bức xúc” trước “Thảm trạng” về tự do,dân chủ, nhân quyền trong nước. Một loạt các đối tượng đưa ra xét xử, những người vi phạm đó chỉ vì một chút định kiến, động cơ cá nhân không trong sáng đưa ra những thông tin méo mó, bôi đen sự thật về xã hội Việt Nam, họ liên hệ với những tổ chức, phần tử người việt chống cộng cực đoan ở hải ngoại chống đối nhà nước Việt Nam, đòi lật đổ chế độ hiện hành. Nhiều vị luật sư bào chữa cho các bị cáo nói rằng: Những người nàykhông phạm luật vì họ đã sử dung quyền tự do ngôn luận của mình !? vậy có phải đây là một lập luận đúng? Xin thưa rằng: đó là điều hoàn toàn sai lầm, thực ra ở đây họ đánh tráo khái niệm này. Vấn đề là ở chỗ, trong luật quốc gia và luật quốc tế thì quyền tự do ngôn luận (Và nhiều quyền khác) không phải là quyền “tuyệt đối” như các vị biện minh, ngụy biện cho hành vi phạm pháp của mình mà là những quyền có giới hạn, nói một cách khác là quyền bị hạn chế. Trong công ước Quốc tế về quyền con người, tại khoản 3 điều 19 quy định: “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định. Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Như vậy là việc các bị cáo dựa vào luật quốc tế về quyền con người để biện hộ cho mình là sai, họ đã phớt lờ về khoản 3 điều 19 liên quan đến tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận của các bị cáo thì điều 88 bộ luật hình sự 1999 quy định: “Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN. Việc các bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng không có bằng chứng về hậu quả của hành vị phạm tội của các bị cáo là không có cơ sở pháp lý. Tội “tuyên truyền” vốn là tội phạm mang tính chất “bất bạo động” theo cách nói của mấy nhà “luật học mạng”, blogger. Các vị đòi hỏi phải có bằng chứng về hậu quả của những tội phạm này gây ra ư? chẳng lẽ nhà nước Việt Nam phải ngồi chờ đến khi nào luồng gió sặc “Mùi hoa” như việc đã xảy ra ở Trung đông, bắc phi, Ucraina… thì mới có cái gọi là “bằng chứng” như các vị yêu cầu? Xin thưa hậu quả việc phạm tội của các bị cáo đó là: bạo loạn, lật đổ chính quyền, nội chiến, là sự can thiệp của nước ngoài.vv… Trên thế giới không có một quốc gia nào quy định chứng cứ về hậu quả xã hội của loại tội phạm này. Ngay tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ  cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Như vậy là với chứng cứ mà các bị cáo khai nhận tại tòa “Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài lieu có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã đủ cấu thành tội phạm và chiếu theo luật hiệnhành, thì mức án mà các bị cáo này phải nhận là đúng người, đúng tội, điều này không thể chối cãi được. Xã hội chính trị lành mạnh luôn hướng dẫn, khích lệ, cổ vũ những động lực đúng đắn của mỗi cá nhân, khi cá nhân đó hành động với động cơ phù hợp với ợi ích chung của cộng đồng thìkhi ấy xung đột xã hội sẽ giảm thiểu, tạo ra sự hài hòa, đồng thuận cùng tồn tại và phát triển, ngược lại những cá nhân đi ngược lại dòng phát triển chung sẽ bắt buộc xá định lại nhu cầu của mình nếu không sẽ bị đào thải và bị pháp luật trừng phạt, quyền tự do bị tước đoạt.

Thực tế cho chúng ta thấy rằng: không tránh khỏi có những ý kiến khác nhau trong các tầng lớp trong xã hội và khác với quan điểm, đường lối của Đảng. Đó cũng là lẽ bình thường không có điều gì “Ghê gớm”  vì như chúng ta đã biết nhận thức là một quá trình, chân lý cũng là một quá trình. Do nhiều yếu tố tác động nên không tránh khỏi có những ý kiến, cách tiếp cận khác với đường lối, quan điểm của Đảng. Nhưng phải là những ý kiến đóng góp chân thành chứ không phải là quan điểm chống lạị. Và một thực tế không thể phủ nhận được đó là: Từ một nước thuộc địa, dân bị nô lệ, chúng ta đã giành được cái nhân quyền lớn nhất là quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ một nước nghèo, lạc hậu, chúng ta đã phấn đấu xóa đói, giảm nghèo, nâng trình độ phát triển kinh tế lên ngày một khá hơn. Từ một nước có mặt bằng dân trí thấp, Việt Nam đã là một quốc gia có trình độ văn hóa phổ thông cao hơn mức trung bình của thế giới và là quốc gia đạt chỉ số  phát triển con người (HDI) vào hàng cao so với nhiều quốc gia khác. Đời sống nhân dân trong nước được cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được giữ vững, xã hội ổn định, vị thế Việt Nam không ngừng được nâng cao, là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước trong đó có cả cường quốc trước đây là “Cựu thù”. Rõ ràng, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển đi lên với triển vọng tốt đẹp. Mới đây thôi nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Đoàn nghị sỹ Quốc hội Mỹ do Chủ tịch Thường trực Thượng viện Patrick Leahy dẫn đầu thăm chính thức Việt Nam từ ngày 16 đến 20/4/2014. Báo chí trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm đến chuyến thăm này, xem đây là chuyến thăm nhằm củng cố và phát triển quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước được ký kết bởi Nguyên thủ: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama vào tháng 7 năm 2013. Việt Nam giờ đây là địa chỉ tin cậy cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài, báo chí quốc tế đã phản ánh nhiều điều “mắtthấy tai nghe” của du khách quốc tế viếng thăm đất nước sôi động và trẻ trung sau khi tới Việt Nam hòa mình vào cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân ở nhiều góc cạnh. Việt Nam ngày nay chứng tỏ là một quốc gia thiên đường cho du khách quốc tế. Sẽ là hết sức sai lầm nếu ai còn tin vào những điều ma muội của những kẻ luôn gắn hình ảnh Việt Nam với chiến tranh và sự nghèo đói, mất tự do, dân chủ và bị “kềm kẹp” dưới chế độ “Cai trị của Đảng CS”. Ngược lại, có đến mới biết Việt Nam xinh đẹp và thân thiện và người dân luôn được pháp luật bảo hộ quyền công dân một cách đầy đủ và mang tính nhân văn nhất. Chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ Ông John Kerry ngày 14-12-2013 đã nói lên điều kỳ diệu này “Không ai không ngạc nhiên khi thấy VN hiện đại đã thay đổi thế nào chỉ trong 20 năm. Thật đáng kinh ngạc” – ông nói và nhấn mạnh “đây không phải ngẫu nhiên, mà có sự cam kết và tầm nhìn của rất nhiều người” Ông dẫn chứng: “Kim ngạch thương mại song phương của chúng ta đã tăng 50 lần kể từ năm 1995 lên 25 tỉ USD/năm. Chúng ta sắp đạt mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ sang VN như tuyên bố của Tổng thống Obama năm năm trước”. Đất nước từng bị cô lập vì cấm vận cách đây hơn 20 năm giờ “có thể là một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Mỹ tại khu vực và chúng ta sẽ cố để thực hiện điều đó”. Còn ông Fred Burke, giám đốc điều hành của Hãng luật Baker McKenzie và là người từng ở VN gần 20 năm, thừa nhận những gì ngoại trưởng Mỹ nói. “Những gì ông nói hoàn toàn đúng những gì tôi đã trải qua. Giờ rất nhiều thứ chúng ta xem nhẹ khi nghĩ lại VN đã thay đổi thế nào, từ điện thoại di động cho đến chất lượng cuộc sống” – ông Burke nói. Theo ông, VN giờ đây là “một cơ hội” cho người Mỹ khi rất nhiều người trẻ muốn sang VN để làm các lĩnh vực như công nghệ thông tin hay kinh doanh. Những ai vẫn tồn tại quan điểm bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống hãy suy nghĩ lạị, chỉ một dẫn chứng nhỏ về việc này đó là:  hằng năm số lượng người Việt Nam sống xa Tổ  quốc về thăm đất nước luôn luôn tăng, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam tham quan, du lịch và ký kết hợp tác làm ăn cũng ngày càng nhiều, không ít người đến hẳn Việt Nam sinh sống và làm việc. Điều đó chứng tỏ những gì mà các nhà “Dân chủ” kêu gào chỉ là điều nực cười mà thôi./.

Hoa Kỳ 3-5-2014

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Những người không có tư cách nói về “tự do báo chí” ở Việt Nam

Tác Giả: AMARI TXBài đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân

 

QĐND – Thứ hai, 28/04/2014 | 22:39 GMT+7
 Hình ảnh
Nhân sự kiện một số nhà hoạt động gọi là “tự do và nhân quyền” của Việt Nam tới Hoa Kỳ, theo lời mời của các dân biểu Hoa Kỳ và một số tổ chức cổ xúy cho cái gọi là “tự do thông tin”, Tổng biên tập trang mạng Viethaingoai.net tại Mỹ, ông John Lee, bút danh Amari tx, từ Houston đã dành riêng cho Báo Quân đội nhân dân bài viết, trong đó cho rằng, những nhà hoạt động này không có tư cách để nói về tự do báo chí ở Việt Nam… Báo Quân đội nhân dân xin được trích đăng.
Tưởng việc này chẳng ai quan tâm bởi mấy nhà hoạt động kiểu này sang Hoa Kỳ để làm mấy cái chuyện gây bất lợi cho Việt Nam đâu phải lần đầu tiên. Chuyến đi dù được tổ chức nhân Ngày Tự do báo chí thế giới (3-5) cho có vẻ khách quan nhưng cũng chẳng che giấu được ý đồ bôi nhọ, xuyên tạc Việt Nam của cả người mời lẫn người được mời. Vì đứng ra tổ chức và đài thọ cho các khách mời từ Việt Nam này không ai khác lại là một số cơ quan, tổ chức khét tiếng chống phá Việt Nam như Đài Châu Á tự do, Tổ chức Phóng viên không biên giới hay Đảng Việt Tân… Còn các “nhà hoạt động” có tên Nguyễn Thị Kim Chi, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Đình Hà, Tô Oanh và Lê Thanh Tùng chỉ là những cây viết tự do, không tên tuổi, chưa nói tới vấn đề tư cách hay đạo đức nghề nghiệp vì đã lợi dụng facebook hay blog để tuyên truyền những nội dung đi ngược lại lợi ích của chính quê hương mình.
Để xem họ làm gì ở Hoa Kỳ? Nghe đâu các khách mời này được tham gia một loạt sinh hoạt như điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ, thảo luận về những thử thách của việc khởi động một nền báo chí độc lập tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các “nhà” này còn được mời tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, LHQ, một số dân biểu Mỹ, các tổ chức nhân quyền, công ty tin học, tham gia khóa huấn luyện về truyền thông và an ninh mạng. Tiếp xúc với một loạt cơ quan, tổ chức quan trọng bàn về một vấn đề quan trọng như thế, với bảng “thành tích đen” chống phá Việt Nam cùng trình độ có hạn như vậy, chẳng hiểu các vị khách mời đó lấy tư cách gì mà “đòi” tự do cho nền báo chí Việt Nam – nơi có nền báo chí được đánh giá là đang phát triển nhanh chóng?
Ở đây, cần làm rõ thực chất cái gọi là “tự do báo chí” của phương Tây và thực trạng hoạt động báo chí của Việt Nam hiện nay. Đối với báo chí phương Tây, tuy không can thiệp vào hoạt động báo chí, nhưng luật pháp của các quốc gia đều có những quy định nhằm ngăn chặn sự lạm quyền của báo chí. Chẳng hạn, các chính phủ đều phân biệt những thông tin nào được phép phổ biến cho công chúng và những thông tin nào thuộc loại phổ biến hạn chế hay tuyệt mật, không thể tiết lộ với mục đích bảo vệ lợi ích quốc gia. Hơn nữa, hầu hết các tổ chức làm báo của phương Tây đều tự đưa ra những quy định của tổ chức mình và yêu cầu những người thuộc tổ chức phải tuân thủ, chẳng hạn những tiêu chuẩn của việc hành nghề, hay còn gọi là hệ thống đạo đức báo chí. Mặt khác, các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ cũng ban hành nhiều luật lệ nhằm ngăn ngừa sự vi phạm của người làm báo trong lúc hành nghề.
Bất chấp tự do tư tưởng, báo chí phương Tây đã bị các chính phủ phương Tây biến thành công cụ để bành trướng, áp đặt quan điểm phương Tây trên quy mô toàn cầu. Nhiều triệu đô-la đã và đang được đổ ra để phát triển một hệ thống báo chí hùng hậu nhằm quấy nhiễu tư tưởng ở tất cả các nước không cùng quan điểm. Diễn biến thế giới gần đây đã phản ánh khá sinh động điều ấy. Bằng cái gọi là “tự do báo chí”, một số cơ quan báo chí phương Tây đã thổi phồng lên các chiêu bài “chống khủng bố”, “săn lùng vũ khí hủy diệt”, kiếm cớ “hợp pháp” để can thiệp quân sự một cách thô bạo vào những quốc gia có chủ quyền, ở nơi mệnh danh là mỏ “vàng đen” của thế giới.
Hẳn mọi người chưa thể quên báo chí phương Tây đã nhất loạt thổi phồng và làm rùm beng cái gọi là “nguy cơ I-rắc sở hữu và chế tạo vũ khí giết người hàng loạt”, rồi còn đưa tin I-rắc mua plutoni của một nước châu Phi để chế tạo bom hạt nhân. Tất cả chỉ nhằm phục vụ cho mưu đồ can thiệp bằng quân sự một cách thô bạo, bất chấp luật pháp quốc tế hòng chiếm đoạt và bảo vệ các lợi ích của những thế lực đứng đằng sau điều khiển những “công cụ” tuyên truyền nguy hiểm này. Đến khi cuộc chiến tranh I-rắc nổ ra, nhiều hãng thông tấn, nhiều tờ báo đưa tin không hợp “khẩu vị” của họ thì bị cấm đưa tin, bị kiểm duyệt. Chính quyền Mỹ đã kiểm soát rất chặt chẽ các báo, đài đưa tin chiến sự, họ chỉ đồng ý cho những hãng thông tấn, báo chí nào tuân theo những “Luật” do họ đặt ra. Những nhà báo đưa tin về sự thật tàn bạo của quân đội Mỹ gây ra đối với dân thường đã bị đe dọa.
Như vậy thì làm gì có cái gọi là “tự do báo chí” nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ như một số nước phương Tây vẫn tuyên bố và thúc đẩy. Đó thực chất chỉ là sử dụng báo chí để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của họ. Đó chính là thứ tự do giả dối, lừa gạt dư luận, thủ tiêu vai trò của báo chí chứ đâu phải vì tự do báo chí.
Đối với hoạt động báo chí ở Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định rõ quyền tự do báo chí. Mọi hoạt động báo chí đều phải phục vụ sự tiến bộ, công bằng xã hội, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Luật Báo chí chỉ cấm các hoạt động báo chí đi ngược lại lợi ích tối cao của đất nước là độc lập, tự do của dân tộc, thành quả kết tinh sự hy sinh của biết bao thế hệ người Việt Nam mới giành được. Luật Báo chí cấm các hành động tuyên truyền chống lại con người. Luật Báo chí Việt Nam khẳng định, báo chí không chỉ là cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị và tổ chức xã hội, nghề nghiệp,… mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân.
Báo chí Việt Nam có quyền đề cập tất cả các vấn đề mà pháp luật không cấm. Pháp luật chỉ cấm báo chí tuyên truyền kích động bạo lực, kích dục, tuyên truyền cho chiến tranh, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc. Đây là điều cần thiết với tất cả các nước tiến bộ trên thế giới, mong muốn xây dựng một xã hội hòa bình, ổn định, vì hạnh phúc. Báo chí Việt Nam đã tích cực tham gia đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, quan liêu, phát hiện những việc làm trái với pháp luật, đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Báo chí tham gia xây dựng đời sống mới, đấu tranh với những hủ tục, những tệ nạn xã hội.
Rõ ràng, ở Việt Nam, vai trò của báo chí ngày càng được khẳng định trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, nên không thể có cái gọi là “báo chí mất tự do” ở Việt Nam. Càng không thể coi sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam là cản trở quyền tự do báo chí của người dân cũng như những hoạt động báo chí của các nhà báo. Đó chỉ là luận điệu của các vị chuyên hành nghề “vu khống” dựa trên một mớ những cái gọi là “bằng chứng” của một số người có tư tưởng xuất phát từ mưu đồ cá nhân, mưu toan quyền lực, với não trạng luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích dân tộc. Âu cũng là vì họ mong nhận được hậu thuẫn của các thế lực từ bên ngoài về tinh thần lẫn vật chất.
Ở Việt Nam có một số người cơ hội chính trị đã kết bè với nhau và liên kết với các tổ chức chống cộng cực đoan, các tổ chức thù địch với Việt Nam để phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ viết báo, hồi ký phát tán ra ngoài với những lời lẽ hằn học, bêu riếu, vu cáo, nhổ toẹt vào những hy sinh vô cùng to lớn của các thế hệ đi trước, trong đó có cả những người thân của họ trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Họ rên rỉ rằng, ở đất nước này không có “tự do báo chí”, rằng thì phải “viết báo trong vòng kìm kẹp của luật”… Nên dù có khoác lên người chiếc “áo” mỹ miều “tự do báo chí” thì cũng không che giấu được bản chất đen tối, xấu xa thật sự bên trong.
AMARI TX (Houston)
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Một kiểu suy diễn đáng bị lên án

Tác Giả: Amari TX ( John Lee )- VHN.NET

Chiến tranh! khi nhắc đến hai từ đó người ta thường nói đến một quá khứ hào hùng và bi tráng trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Chính vì thế cũng có thể đơn giản hiểu tại sao cho tới bây giờ, nhiều người trên thế giới này mỗi khi nói đến Việt Nam lại nghĩ ngay đến chiến tranh. Rất nhiều sách báo đã nói về một Việt Nam với lòng cảm phục trong lòng bè bạn thế giới là một Việt Nam anh hùng. Với mấy nghìn năm lịch sử dựng nước cũng là từng ấy thời gian dân tộc Việt Nam chống giặc giữ nước. Một lịch sử quá đậm nét sử thi từ thời các Hùng Vương cho tới một “Điện biên chấn động địa cầu” và cuối cùng là một”Chiến dịch Hồ Chí Minh” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Vậy thì làm sao không nhắc đến chiến tranh khi chính ở trong đó, dân tộc Việt Nam đã có nhiều bài học đau thương, mất mát vô bờ bến vùng lên từ đống tro tàn đổ nát, trưởng thành và vững vàng cho đến ngày nay! Phải thế chăng mà người Việt Nam sẽ còn nhắc mãi và không bao giờ quên niềm tự hào về những gì mà cả một dân tộc “Thà thiêu cháy cả dãy trường sơn quyết giành lại độc lập”.
Ấy vậy mà một số người tự xưng danh là nhà “dân chủ cấp tiến” ở trong nước trong thời gian gần đây mà đặc biệt là gần đến những ngày trọng đại của đất nước kỷ niệm những ngày lễ chiến thắng họ lại tung ra các bài viết, những phát biểu đòi “Xét lại lịch sử” !? Tiếc thay trong đó có người trước kia đã từng đứng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt Nam, họ đã từng là chiến sĩ trong quân đội “Từ nhân dân mà ra” họ tỏ ra “sám hối”, tiếc nuối vì đã “lỡ” một thời theo Đảng. Nay họ đòi “xét lại vai trò lãnh đạo”, vu cáo Đảng cộng sản Việt Nam là”đặt lợi ích Đảng lên trên lợi ích dân tộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào con đường binh đao máu lửa hơn 30 năm”!? hay như: “Đảng chỉ lấy Dân làm vật thí nghiệm, vật hi sinh cho chủ nghĩa xã hội hư vô! Đưa dân tộc Việt nam vào con đường máu lửa. Dân tộc Việt Nam đã phải trả giá máu quá đắt cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt nam“.!? vv…và vv .Vậy điều này có đúng không ? hay là vẫn là chiêu bài cũ chụp mũ, vu cáo của các nhà “dân chủ” thường làm ?

Chúng ta là người Việt Nam chân chính phải nói một cách dứt khoát, đây luận điệu xuyên tạc lịch sử của họ với ý đồ bôi nhọ, chà đạp trắng trợn lên thành quả cách mạng mà toàn dân tộc phải đánh đổi bằng sinh mạng hàng triệu người con ưu tú, hàng triệu sinh mạng của người dân lành. Luận điệu này chúng ta phải hết sức cảnh giác nó sẽ gây nên sự ngộ nhận, vì đối tượng phát tán tài liệu đã từng là người trải qua chiến tranh, và đã một thời điểm đứng trong hàng ngũ của Đảng. Điều nguy hiểm là một số ít người thiếu hiểu biết lịch sử đất nước và lớp người trẻ sinh ra sau chiến tranh sẽ nhận thức sai lầm dẫn tới phủ nhận thành quả cách mạng, mất lòng tin vào chế độ, vào con đường đi tới của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Vậy đâu là chân lý? đâu là sự thật?
Trong bài viết “Không trung thực trong điều 4 hiến pháp” của một nhà “dân chủ” đăng tải trên mạng RFA Việt ngữ viết: “Phan Châu Trinh mất sớm, con đường cứu nước đúng đắn Phan Châu Trinh vừa khởi xướng, đành bỏ dở! Sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam thôi đành phó thác cho những người Cộng sản! Và dân tộc Việt Nam phải trải qua con đường đấu tranh bạo lực dằng dặc máu lửa ”!?- Xin thưa với nhà “dân chủ” lịch sử của dân tộc Việt Nam buộc phải lên tiếng rằng: khi thực dân pháp xâm lược và cả khi thiết lập được quyền cai trị trên đất nước Việt Nam thì dân tộc này đã kháng cự lại. Đã có biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân dưới ngọn cờ của sĩ phu yêu nước, nhưng tất cả các cuộc kháng cự đó đều bị đè bẹp và bị dìm trong biển máu. Họ “Hối tiếc” vì cụ Phan châu Trinh mất sớm nếu không thì đi theo con đường của Ấn độ đòi lại độc lập từ người Anh ? điều này cho thấy họ đã cố tình bẻ cong sự thật của lịch sử và cố tình suy diễn theo cái lối nói lấy được. Sự thật thì sau nhiều cuộc khởi nghĩa và các phong trào chống pháp không đem lại kết quả, đứng trước vận mệnh của đất nước Đảng cộng sản đã gánh vác sứ mệnh giải phóng dân tộc. Phong trào chống xâm lược do người cộng sản phát động không phải là một ngoại lệ, có cùng một mục đích như các phong trào khởi nghĩa trước đó là giành, giữ độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho dân tộc.
Đảng cộng sản Việt nam có “hiếu chiến” như các nhà “dân chủ” quy kết không ? Chúng ta tìm hiểu vấn đề này. Những ai hiểu biết về cuộc chiến tranh, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Đáng lẽ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để xây dựng chế độ mới. Nhưng thực dân Pháp đã dã tâm quay trở. Chúng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lại Việt Nam từ tháng 9-1945. Trong tình thế vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, tương quan lực lượng bất lợi cho một chính phủ còn non trẻ, chúng ta rất cần một khoảng thời gian để xây dung lực lượng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp. Để đạt được kết quả hòa hoãn, chúng ta đã nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và nền thống nhất có điều kiện đó là :Theo Hiệp định Sơ bộ, chúng ta thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc, và khẳng định việc Nam Bộ có trở về với nước Việt Nam hay không là tùy thuộc vào kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân. Nhưng thực dân Pháp quyết dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ nước ta. Chúng tăng quân trái phép ở miền Bắc, gây ra nhiều vụ xung đột đẫm máu và cuối cùng, gửi cho Chính phủ ta bức thư, với tính chất như một “tối hậu thư”, đòi quân, dân ta hạ vũ khí. Vậy thì xin hỏi các nhà “dân chủ” vào tình thế như vậy theo các vị thì Đảng cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh xử lý ra sao? Nếu theo cách nói của các vị thì nên tìm một con đường không “không đổ máu”? Sự chọn lựa đó thì chỉ có một con đường là chấp nhận làm kiếp nô lệ mà thôi. Dân tộc này không bao giờ chọn con đường đó, dân tộc này có truyền thống hào hùng giữ nước từ ngàn xưa, một lần nữa đứng lên bảo vệ nền dân chủ cộng hòa non trẻ, hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! cả nước thành chiến trường quyết tâm kháng chiến. Chấp nhận đối đầu với đội quân xâm lược nhà nghề khi không còn đường lựa chọn đó là thể hiện ý chí sắt đá, khát khao của cả một dân tộc vì độc lập, tự do. Nhà sử học Pháp Philíp Đờvile đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược, thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”. Sau này Tổng thống Pháp Ph. Mittơrăng, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam tháng 2 – 1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”.
Xin thưa với các nhà “dân chủ”: chính truyền thống yêu nước, là động lực thúc sự vùng dậy quật cường của dân tộc Việt Nam. Đảng cộng sản kêu gọi toàn dân kháng chiến chống lại quân xâm lược là sự lựa chọn đúng theo truyền thống của dân tộc, nó là một quy luật mà không có sự lựa chọn nào khác. Luận điệu của các vị “dân chủ” rõ ràng hòng quy kết những người cộng sản phát động cuộc kháng chiến chống thực dân pháp là đẩy cả dân tộc vào cuộc chiến tranh. Họ còn nói rằng: “Trong khi đội quân xâm lược Pháp lực đã kiệt, thế đã tàn thì lực lượng kháng chiến giành độc lập đã lớn mạnh, đang bừng bừng xốc tới, chỉ dấn thêm một bước là cả nước sạch bóng giặc ngoại xâm. Nhưng những người Cộng sản đặt giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc thì giải phóng dân tộc không phải là mục đích duy nhất và cao nhất của họ. Với ý thức hệ giai cấp, những người Cộng sản Việt Nam coi giải phóng dân tộc không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để họ làm cách mạng vô sản thế giới..”? Thật nực cười cho cái lập luận quái gỡ này, họ gán cho Đảng CSVN theo đường lối bạo lực của quốc tế cộng sản, gọi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta “đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ”, “chiến tranh ủy nhiệm” “miền Bắc xâm lược miền Nam”? Trải qua 9 năm kháng chiến, kết thúc bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân về nước. Đáng lẽ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 7-1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước. Nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lập “đê chắn làn sóng đỏ” xuống phía nam đã hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào xâm lược chia cắt lâu dài đất nước. Chính Ngô Đình Diệm từng tuyên bố khi sang thăm Mỹ: “Biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17″.
Một lần nữa nhân dân ta lại phải đứng lên chống xâm lược, giành độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc.Trên thực tế, Mỹ – và chính quyền VNCH đã gây ra “cuộc chiến tranh một phía”. Chẳng những thế, họ còn đe dọa “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”, “giải phóng Cố đô rửa hận thù”. Sau này, đế quốc Mỹ còn thực hiện cuộc “chiến tranh cục bộ”, đưa trên nửa triệu quân Mỹ vào xâm lược miền Nam, và tiến hành cuộc “chiến tranh phá hoại”, đe dọa đẩy miền Bắc nước ta trở về “thời kỳ đồ đá”. Không còn con đường nào khác, dân tộc ta phải chấp nhận cuộc đụng đầu với đế quốc Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do! “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Nhiều người trong chính giới Hoa Kỳ hẳn vẫn không quên, trong suốt hơn 40 năm thù địch Việt Nam, kể từ năm 1950 Hoa Kỳ chính thức ủng hộ Pháp xâm lược Việt Nam cho đến ngày 11 tháng 7 năm 1995 Hoa Kỳ tuyên bố công nhận ngoại giao và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Chỉ riêng Hoa Kỳ đã trực tiếp làm cho hơn 3 triệu người Việt Nam phải hy sinh và hàng triệu người khác bị tàn tật, phải chịu di hại của chiến tranh, của chất độc màu da cam do quân đội Hoa Kỳ rải xuống Việt Nam. Không dừng lại ở đó, sau năm 1975, Hoa Kỳ tiếp tục chính sách thù địch chống Việt Nam, thực hiện bao vây cấm vận Việt Nam làm cho nhân dân Việt Nam vốn đã khốn khó do phải khắc phục hậu quả chiến tranh do Hoa Kỳ để lại, lại càng khó khăn hơn.
Chúng ta có thể tham khảo trích dẫn một số tài liệu của chính những người gây ra cuộc chiến đẫm máu với dân tộc Việt Nam để hiểu rõ bản chất phi nghĩa của nó: Trong cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tháng 3-2007 tại tiểu bang Texas, các học giả Mỹ đã phân tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh này, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết luận: sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến trường”.Tổng thống Nich-xơn Ông ta đã cay đắng thừa nhận: “Sai lầm nghiêm trọng của chúng ta là không biết một trong những quy luật của chiến tranh. Đó là, đừng bao giờ bước vào cuộc chiến tranh, nếu không biết cách nào để ra khỏi cuộc chiến tranh đó”. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara, trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam”, đã viết “Chúng tôi ở trong chính quyền Kennedy và Johnson, tham gia vào các quyết định về Việt Nam, đã hành động theo những gì mà chúng tôi coi là nguyên tắc và truyền thống của dân tộc này. Chúng tôi đã ra các quyết định dưới ánh sáng của các giá trị đó.…Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao sai lầm như vậy”. Như vậy, chính đế quốc Mỹ là thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của nhân dân Việt Nam đã được lịch sử ghi nhận, lẽ phải chỉ có một, dù các nhà “dân chủ” có cố tình phủ nhận nó nhưng những người chủ mưu trong cuộc chiến tranh đó khi họ đã thú nhận thì những lập luận kiểu “Giá như….” của những kẻ xuyên tạc, bóp méo lịch sử đều trở nên vô nghĩa.
Trong lịch sử, Nguyễn Trãi từng nêu “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói, “lấy chính nghĩa để thắng phi nghĩa”. Do đó, chính cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã làm nên nét đẹp cho “văn hóa giữ nước” của dân tộc Việt Nam, tô điểm thêm hình tượng của quân đội nhân dân, của “Bộ đội Cụ Hồ”. Nhiều kẻ vì động cơ cá nhân, mục tiêu tư lợi đã lên tiếng phê phán cuộc chiến là “nồi da, xáo thịt”, rêu rao sẽ có cuộc “tắm máu” khi cuộc chiến kết thúc… Thực tế lịch sử đã minh chứng, sau thắng lợi Xuân 1975 không có chia cắt, chỉ có thống nhất; không có “tắm máu”, chỉ có hòa hợp dân tộc, thống nhất và hòa bình cho đất nước. Và điều đó càng chứng tỏ giá trị nhân văn nằm trong cội rễ văn hóa Việt Nam, là mục tiêu và là động lực để cuộc kháng chiến thần thánh của chúng ta đi đến thắng lợi vĩ đại cuối cùng.
Thế giới đã bước sang giai đoạn mới của lịch sử, trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại, tư duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở nên lỗi thời. Lịch sử chiến tranh khẳng định với nhân loại một điều: chiến tranh và bạo lực cường quyền không giải quyết được vấn đề gì ngoài việc khoét sâu hận thù giữa các dân tộc và chia rẽ thế giới. Tuy nhiên, các “Nhà dân chủ” và thế lực không thiện chí với Việt Nam không nghĩ như vậy, họ vẫn đang xoay xở mọi cách để gây ra một cái gọi là “Biến cố” gây mất ổn định cho Việt Nam hòng mong muốn trong sự rối loan trục lợi cho những toan tính của họ. Vì thế, những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được họ tuyên truyền.

Hoa Kỳ 27-4-2014

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Không Thể Gọi Ngày Đó Là Ngày “Quốc Hận”

Tác Giả: John Lee - VHN.NET

 


30-4-2014, lần thứ 39 toàn dân tộc Việt Nam kỷ niệm ngày non sông thu về một mối, đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược, trong niềm vui chung của cả dân tộc vẫn còn một bộ phận không nhỏ người Việt hải ngoại vẫn gặm nhấm cái gọi là nỗi đau “mất nước” và gọi ngày vui đó là ngày “quốc hận”!? Họ không tiêu hoá nổi cái cục “ấm ức” vì bị bỏ rơi một cách được gọi là “tức tưởi”!? và những năm tiếp theo sau khi định cư ở nước ngoài đến cái ngày gọi là “quốc hận” họ đã làm gì? Vẫn bài diễn cũ rích đó là: khoác bộ quân phục, cờ xí vàng rực, hát quốc ca, đọc diễn văn ai oán, chửi rủa những người CSVN đã “cưỡng chiếm” cái quốc gia VNCH? theo họ thì kỷ niệm những ngày “tan hàng chứ không phải “đầu hàng” ngày đau buồn ai oán này chắc sẽ không buông tha họ những tháng năm kế tiếp nếu họ vẫn giữ nguyên nếp nghĩ trong não bộ già cỗi này. Đây cũng là một hiện tượng đặc biệt của một số người trong một cộng đồng đặc biệt, với hiện tượng như vậy cho chúng ta thấy rằng: không một dân tộc nào trên thế giới lại cố gắng kéo dài một “kỷ niệm” thất bại dai dẳng như vậy. Chắc có lẽ sẽ có một lúc nào đó các nhà tâm lý học sẽ có những công trình nghiên cứu về bệnh lý này cho nhóm người mang tư tưởng chống cộng cực đoan ở hải ngoại. Người Mỹ họ có nói “hội chứng hội chứng Việt Nam” của binh sĩ Mỹ sau chiến tranh. Vậy chúng ta cũng bắt chước người Mỹ gọi là “hội chứng tan hàng” khi bỏ chạy thục mạng thoát thân vượt khỏi lãnh thổ mà họ gọi là tổ quốc.

30-4-1975 là thời điểm đánh dấu một mốc son chói lọi của dân tộc Việt Nam, với sự tấn công như vũ bão của các lực lượng vũ trang cách mạng đã làm cho một đội quân đánh thuê tan rã quá nhanh.Trước đó một tháng, không ai tin rằng với một lực lượng quân sự hơn một triệu rưỡi người được trang bị đầy đủ lại có thể tan rã nhanh chóng đến thế. Chính vì bị “choáng” nên đã làm cho não bộ của những người này có những triệu chứng của dấu hiệu rối loạn tâm thần.Trong lịch sử nhân loại nhiều khi kẻ chiến thắng tỏ ra rất tôn trọng kẻ bại trận nhưng đó là những đội quân hoàn toàn khác với đội quân VNCH này. Khi hai kẻ trượng phu, kẻ thắng thường kính trọng những kẻ bại trượng phu, và đã là trượng phu với nhau thì không có ai thắng ai bại trên lĩnh vực khí phách. Cũng trong tinh thần trượng phu ấy, kẻ thắng thường biết hạ mình. Hạ mình để được người. Đó là vương đạo, như cuộc nội chiến của Mỹ là một ví dụ. Hoặc tỷ như Tưởng giới Thạch sau khi đại bại ở Trung Hoa lục địa rút toàn bộ quân đội ra chiếm cứ Đài Bắc và xây dựng một quốc gia cho chính thể đó và tồn tại cho đến ngày hôm nay. Tưởng tướng quân và các tướng tá, quan chức đâu có đạp lên đầu dân mà chạy tuốt tuột qua nước ngoài để bảo toàn mạng sống như các ngài lãnh đạo quốc gia VNCH ? Bởi vậy nên cái gọi là phải “tôn trọng” xin các ngài hãy có một chút liêm xỉ làm người thì làm ơn cất kỹ giùm cho.
Kẻ tiểu nhân này hở miệng là ngậm máu phun người, mới ngày hôm qua đây thôi khi nghe được lệnh ân xá để được trở về đoàn tụ với gia đình và một số sau đó được đi tái định cư ở các nước họ đã cảm ơn người chiến thắng rối rít, bằng chứng giấy trắng mực đen rành rành vậy mà khi qua Mỹ thì rút ván ngay, trâng tráo vu cáo đủ điều, những con người bội tín đó làm sao mà có nhân cách làm người ? Người thắng trận kêu gọi hoà hợp dân tộc xoá bỏ hận thù, vì lợi ích dân tộc là trên hết thì những kẻ tiểu nhân vẫn ôm mối hận thù, họ tự cho mình cái quyền “định đoạt” rởm đời này. các vị cũng thừa hiểu rằng sự nghiệp chống cộng tại hải ngoại giống như “dã tràng se cát”, chỉ vì thoả mãn tự ái cá nhân, tự sướng trong ảo giác chứ không phải vì lợi ích dân tộc, sự ích kỷ hận thù phi lý đã đưa dẫn những kẻ chống cộng cực đoan đến những hành động bất ngờ tận cùng của sự quái đản. Với bản chất nô lệ thường trực trong não bộ, họ luôn lấy tư duy về xã hội của BU (Mỹ) làm “khuôn vàng thước ngọc”, rình rập tổ quốc, tâu bẩm với ngoại bang tìm cách phá hoại công cuộc xây dựng đất nước, khắc phục những hậu quả chiến tranh còn kéo dài đến ngày hôm nay. Chống phá đất nước bằng mọi hình thức trong cả một quá trình dài. Trong thời gian gần đây các nước phương tây mà đặc biệt là Mỹ, họ dùng chiêu bài diễn biến hoà bình để kích động bạo loạn lật đổ những quốc gia nào không nằm trong quỹ đạo điều khiển của họ. Các vị chống cộng cực đoan “tiếp nhận” ngay sách lược đó và áp dụng vào công cuộc chống phá Việt Nam.

Họ luôn miệng nói rằng cộng sản chủ trương một đảng, rất độc tài. Họ muốn xã hội phải đa đảng đa nguyên để có sự cạnh tranh “tự do” hơn!? nhưng mục đích chính của họ là để trong cái hỗn mang ấy họ lập ra các đảng ma trơi chen chân vào. Họ có biết một đất nước mà dân trí còn thấp, nhận thức xã hội chưa đồng đều trong các tầng lớp dân chúng thì với đa đảng suốt ngày rình rập đấu đá nhau, chia rẽ khối đoàn kết trong giới lãnh đạo đất nước thì tai hoạ khôn lường cho nền an ninh của đất nước, đương nhiên kẻ thù truyền kiệp của dân tộc VN có bỏ qua cơ hội đó không? họ sẽ lợi dụng để mua chuộc, phân hoá thì đương nhiên chính thể đó sẽ bị ngoại bang thao túng và trở thành chư hầu và sự độc lập tự quyết tan theo mây gió. Sự độc đảng cũng có mặt trái của nó nếu người đứng đầu tổ chức đó không đặt lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân lên hành đầu thì đương nhiên nó cần được loại trừ, người dân sẽ làm điều đó nếu họ cảm thấy cần thiết, quyền tối thượng là nhân dân chứ không phải bất cứ tổ chức vong bản của các ngài chống cộng mộng mơ. Bài học này chính các vị hiểu hơn ai hết mới đúng chứ? đã ôm chân hai đế quốc mới đây, nỗi “ấm ức” còn nghẹn nơi cuống họng vậy mà đã quên rồi sao? chắc não trạng các vị có vấn đề?, có biết hệ thống luật pháp của BU (Mỹ) chặt chẽ thế nào không? chỉ có hai đảng thay nhau cầm trịch lãnh đạo đất nước, tuy hai mà một đấy xin thưa các vị mộng mơ ạ. Quyền lợi BU là trên hết, đụng đến quyền lực và lợi ích của BU thì bị trừng phạt ngay. Điều này cũng tương tự các quốc gia phát triển khác, đa đảng nhưng có một đảng làm “đại ca” điều khiển để tạo nên sự nhất quán trong điều hành đất nước. Điều này các vị không thể cãi được.

Các ngài CCCĐ có hiểu rằng BU(Mỹ) dùng chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền” để lôi kéo lực lượng chống lại nhà nước nào cứng đầu không chịu lệ thuộc vào BU, còn nghe lời và ngoan ngoãn cỡ nào BU cũng chiều, dù cho chế độ đó có thối nát cỡ nào. Vậy mà các vị vẫn lú lẫn, u mê vẫn tin và làm theo lời BU, rằng nếu BU giúp sẽ lật đổ được chính thể cầm quyền hiện tại ở Việt Nam, để cho các vị về “tiếp quản” đất nước. Lòng yêu nước của các vị là như vậy đó. Bản chất cõng rắn cắn gà nhà đã thấm sâu vào xương cốt. Các vị có hiểu dân chủ là gì không? hay là cứ thấy người ta nói rồi bắt chước như con vẹt ? bài học nhãn tiền trước mắt mà các vị không hiểu được trong suốt 39 năm qua chỉ có mỗi một việc là đoàn kết, chịu sự lãnh đạo của một tổ chức có năng lực để chống cộng mà không bao giờ các vị làm được, chín người mười ý, chống nhau, cãi nhau, xỉ vả, hạ nhục, vu khống, chụp mũ .v.v…, cuối cùng là tan đàn xẻ nghé. Vậy mạnh ai người đó đứng ra lập hội, như đám phường chèo mà có những câu chuyện cười ra nước mắt của các vị CCCĐ này. Dân chủ là một khái niệm rất giản dị mà không hiểu sao các vị cứ làm như đó là một điều cao siêu, bí hiểm. Xin thưa dân chủ chỉ là một khái niệm tương đối, trên thực tế làm gì tồn tại, nếu một chính thể, tổ chức nào rập khuôn đúng lý thuyết thì ba lần bảy là hai mốt ngày là “lên đường” cho chính thể khác tiếp quản, phải nắm được quyền lực tối thượng thì mới điều phối được mọi ý kiến tham gia và có quyết định cuối cùng trong điều hành, điều này có đúng không các ngài cccđ ?

Các vị biểu tình chống cộng vì cho rằng ở Việt Nam không có nhân quyền? quan niệm và hiểu như thế nào là nhân quyền? hay chỉ nói cho sướng cái miệng rằng ta cũng thức thời, ta cũng hiểu biết ? Quyền của một con người nó phụ thuộc vào trình độ nhận biết, vào đạo đức, vào trí tuệ của mỗi người, trên đời này làm gì có hai người giống nhau như in, chỉ có nhân bản vô tính giống cừu doli thì có, vậy nhân quyền không phải là sự đồng đều ở mọi người. Con người sinh ra có quyền, sống, mưu cầu hạnh phúc, nhưng sống không được, xâm hại cuộc sống của người khác, xúi dục những kẻ kém trí tuệ phá rối, tuyên truyền chống đối, vu khống, làm nhục truyền thống dân tộc thì phải loại trừ, chính các vị CCCĐ đã và đang vi phạm nhân quyền mà không nhận ra, cái này lại là một cái tát vào mặt các vị rồi đấy. Sống trong xã hội Mỹ, các vị vẫn không đủ trí tuệ (hoặc cố tình lợi dụng) để hiểu được những mặt hạn chế về quyền con người, mỗi một quốc gia phải tuỳ theo hoàn cảnh mà quyền về con người được thực thi theo bước phát triển của quốc gia đó, không phải ở mọi nơi giống hệt nhau, không phải Mỹ phát triển giàu có là mọi cái quyền về con người đều hoàn hảo, bản thân nước Mỹ vẫn còn nhiều bất cập cần phải hiệu chỉnh. Các vị CCCĐ bịt mắt làm ngơ hay thật sự không hiểu? Mỗi một dân tộc tuỳ theo vùng địa lý, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán mà xây dựng riêng cho mình một thể chế dân chủ và quyền của công dân của quốc gia đó làm sao cho người dân phát huy hết tiềm năng của mỗi cá thể, nhưng mỗi cá nhân đó phải tuân thủ để phục vụ cái chung chứ không phải tự do chửi bới lãnh đạo đất nước, mạt sát chính quyền mà khối đông dân chúng tín nhiệm bầu ra thì được gọi là tự do ngôn luận hay sao ? Cứ mỗi lần những cá nhân trong nước đi ngược lại tiêu chí trên thì các vị làm ầm ĩ là chính quyền Việt Nam bịt miệng dân, nghe thật lố bịch.

Nhân dân VN không cần cái thứ “dân chủ, nhân quyền” đó, dân tộc Việt được hun đúc 4000 năm văn hiến, bề dày chống ngoại xâm đáng kinh ngạc, dân tộc VN có đủ bản lĩnh, trí tuệ để chọn cho mình một con đường phù hợp trên con đường hoà nhập với dòng tiến bộ của loài người, tuyệt nhiên không bao giờ chấp nhận dưới sự bảo trợ và dạy dỗ của kẻ ngoại bang. Điều này các vị vong bản phải nhớ rõ đừng quên. Sự ưu việt, sự tinh tế mà cha ông đã đúc kết cho con cháu mai sau biết đâu không chừng mẫu hình xã hội Việt Nam sẽ là phiên bản mới cho nhiều quốc gia về tính nhân bản đậm đà bản sắc dân tộc trong cách đối nhân xử thế. Giả thử nếu như trước kia các nhà lãnh đạo VNCH có được nhận thức sâu sắc, biết chăm lo xã tắc lấy quyền lợi dân tộc đặt lên hàng đầu, biết dĩ hoà vi quý thì biết đâu còn có đất dung thân, các vị lãnh đạo đó không có cái đầu khôn ngoan, các vị chỉ nhăm nhe giữ lấy cái ghế quyền lực mà quên rằng muốn cái đó tồn tại thì kèm theo nhiều điều kiện cần và đủ.
Ông Thiệu nhìn không qua được cái mũi của ông ta, không biết thế nào là sự đoàn kết là điều kiện tiên quyết tạo nên sức mạnh. Khi biết chắc thế nào cũng bị BU (Mỹ) bỏ rơi thì hiệp định Paris là cứu cánh cho ông ta lèo lái đưa miền nam vào con đường hoà hợp dân tộc, hoà bình, ông ta nghĩ hoàn toàn ngược lại hoà bình đồng nghĩa với chết, hô hào chiến tranh, tái chiếm lãnh thổ, không chấp nhận hiệp định mà người nuôi cả VNCH là BU (Mỹ) đã đặt bút ký, chính sự dốt nát về chính trị dẫn đến con đường diệt vong của VNCH, Nói tóm lại các nhà lãnh đạo của đệ nhất và đệ nhị VNCH chưa có một cái đầu xứng tầm với trách nhiệm lãnh đạo đất nước, và kết cục bi thảm bỏ chạy trối chết cũng không có gì đáng ngạc nhiên với những người hiểu biết, chỉ có các vị CCCĐ là không biết nên hội chứng “choáng” kéo dài đến năm thứ 39 sau cuộc chiến.

Thất bại của chế độ VNCH là xứng đáng không oan uổng chút nào, các vị phải chấp nhận nó và lịch sử sẽ không bao giờ đảo ngược được. Các vị còn mơ mộng và lú lẫn muốn chế độ chết rục 39 năm sống lại ư ? đây có phải là sự di truyền của một chế độ bảo thủ và không được khôn ngoan như nhiều nhà phân tích chính trị đánh giá. Cái không bình thường trong nếp nghĩ và lối sống của các vị chẳng có gì thay đổi suốt 39 năm qua. Đất nước đang từng ngày thay đổi chỉ có những kẻ xấu lòng mới xuyên tạc và phủ nhận những gì mà chính phủ Việt Nam và toàn dân đã đạt được những thành tựu to lớn đó, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác? Người Hoa không có biên giới. Người Do Thái không có biên giới. Từ sự không phân biệt đó, hãy suy nghĩ: điều gì đem lại lợi ích cho đất nước, cho dân tộc thì chắc chắn cũng đem lại lợi ích cho những người cùng cội nguồn ở xa xứ. Quyền suy nghĩ và hành động của riêng mỗi người nhưng bắt người khác phải làm theo ý mình bằng những trò trơ trẽn, quái đản chống đất nước như các vị CCCĐ đã làm trong 39 năm qua là trái đạo lý,có bao giờ các “ngài” tự vấn mình là ai chưa?./.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Blog at WordPress.com. The Adventure Journal Theme.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 27 other followers